Người “giữ lửa” nghề dệt thổ cẩm của đồng bào M’nông

Tại biên giới thuộc xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai), bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) vẫn ngày đêm lặng thầm “giữ lửa” nghề dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào M’nông. Trong cuộc sống hàng ngày, người nghệ nhân ấy chưa bao giờ ngơi nghỉ hành trình truyền dạy đường nét, sắc màu văn hóa dân tộc qua từng tấm thổ cẩm cho thế hệ sau.

Truyền cảm hứng nghề truyền thống

nghe-det-tho-cam-7.jpg
Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) chỉ dạy nghề dệt thổ cẩm cho người dân trong thôn.

Xã biên giới Bù Gia Mập là nơi có đông đồng bào S’tiêng và M’nông. Người dân nơi đây chủ yếu sống dựa vào cây điều, cây cao su hoặc chăn nuôi. Cuộc sống đã có nhiều thay đổi theo hướng hiện đại hơn nhưng trong nếp nhà của bà Thị Y Rơ vẫn đều đặn vang lên tiếng lách cách của khung cửi. Đối với bà Y Rơ, tấm vải thổ cẩm không chỉ là tấm áo, tấm chăn mà là cả linh hồn cũng như bản sắc của cội nguồn truyền lại. Nhớ lại ký ức xa xưa, bà Y Rơ chia sẻ: "Tôi biết dệt từ lúc nhỏ, do bà và mẹ dạy lại. Ngày xưa, ngoài ở nhà, các bà, các mẹ còn dạy chúng tôi dệt vải ngay cả khi đi làm ở trong nương rẫy. Ngoài ra, cứ sau mùa vụ rảnh rỗi ngày nào là mọi người lại tập trung nhau bên khung cửi để dệt".

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) truyền dạy nghề dệt thổ cẩm cho con dâu là chị Thị Tức.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) truyền dạy nghề dệt thổ cẩm cho con dâu là chị Thị Tức.

Theo bà Y Rơ, hành trình giữ nghề chưa bao giờ dễ dàng. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước khiến việc học và dệt vải bị gián đoạn. Trong khói lửa chiến tranh, người dân phải sơ tán liên tục, hiếm khi có điều kiện ngồi bên khung cửi. Nguyên liệu dệt thời ấy cũng vô cùng khan hiếm. Những tấm thổ cẩm làm ra chủ yếu phục vụ gia đình hoặc dùng trong các nghi lễ truyền thống của người M’nông như cưới hỏi, lễ hội, cúng tế… Khi đất nước hòa bình, bà tự nhủ phải giữ bằng được nghề truyền thống của dân tộc mình. “Thế hệ trước đã truyền dạy cho mình thì mình phải tiếp tục truyền lại cho con cháu để cái nghề không bị mai một”, bà Y Rơ tâm sự. Nhiều năm qua, bà đã lặng thầm truyền lại tay nghề cho rất nhiều phụ nữ trong làng. “Ngọn lửa nghề” được gìn giữ ngay chính trong gia đình khi cả hai người con gái và người con dâu đều thành thạo dệt vải. Nhìn các con tỉ mẩn bên từng sợi chỉ màu, khéo léo dệt nên những hoa văn truyền thống tinh xảo, ánh mắt người nghệ nhân thổ cẩm già không giấu nổi niềm tự hào. “Bây giờ tụi nó đã biết dệt, đứa nào dệt cũng đẹp, tôi mừng lắm. Mai này tôi có yếu đi, nét hoa văn của người M’nông mình chắc chắn vẫn sẽ còn được lưu giữ trên dải đất biên giới này”, bà Y Rơ vui mừng chia sẻ.

Chị Thị Tức đã thành thạo dệt thổ cẩm sau khi học từ bà Thị Y Rơ.

Chị Thị Tức đã thành thạo dệt thổ cẩm sau khi học từ bà Thị Y Rơ.

Trong số những người thành thạo nghề từ bà Y Rơ truyền dạy, phải kể đến chị Thị Tức. Thị Tức là người con gái dân tộc S’tiêng về làm dâu trong gia đình M’nông. Hồi đầu, chị Tức không biết kỹ thuật dệt thổ cẩm. Thế nhưng “mưa dầm thấm lâu”, khi ở chung mái nhà, hàng ngày chứng kiến mẹ chồng tỉ mỉ bên khung cửi đã khơi dậy trong lòng người con dâu trẻ niềm đam mê mãnh liệt với những sắc màu thổ cẩm M’nông. Hiểu được tâm tư của con, bà Y Rơ đã tận tình chỉ bảo cho chị từ những bước cơ bản nhất như cách mắc sợi, phối màu cho đến kỹ thuật dệt các hoa văn cổ phức tạp trong bản sắc của dân tộc, buôn làng. Nhờ sự khéo léo và kiên trì, chị Tức giờ đây đã thành thạo nghề, tự tay sáng tạo nên nhiều sản phẩm thổ cẩm hoàn chỉnh và tinh xảo. Chị Thị Tức cho biết: “Lúc mới về làm dâu, tôi chưa biết dệt thổ cẩm đâu. Sau này ở chung một nhà, ngày nào cũng thấy mẹ chồng dệt, tôi thích lắm rồi được mẹ chồng cầm tay chỉ việc, dạy bảo tận tình nên mới biết dệt và gắn bó với khung cửi cho đến tận hôm nay”. Theo chị Thị Tức, dù đầu ra cho sản phẩm thổ cẩm vùng biên còn nhiều khó khăn nhưng việc gìn giữ nghề truyền thống là điều rất cần thiết. Chị mong muốn tiếp tục giữ nghề và truyền lại cho thế hệ sau để nét đẹp văn hóa này không bị mai một.

Giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Bà Thị Y Rơ tỉ mỉ từng đường chỉ để tạo tấm thổ cẩm chất lượng.

Bà Thị Y Rơ tỉ mỉ từng đường chỉ để tạo tấm thổ cẩm chất lượng.

Hiện nay, bà Thị Y Rơ là một trong những phụ nữ tiêu biểu của xã Bù Gia Mập trong việc gìn giữ nghề dệt truyền thống của đồng bào M’nông, S’tiêng. Những nỗ lực của bà không chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình mà còn lan tỏa ra cộng đồng. Bà Điểu Thị Nương, chuyên viên phòng Văn hóa - Xã hội xã Bù Gia Mập chia sẻ, những nghệ nhân như bà Y Rơ đang giữ gìn tình yêu và sự đam mê cháy bỏng với nghề dệt thổ cẩm truyền thống. Trong bối cảnh đời sống hiện đại có nhiều thay đổi, việc các bà, các mẹ vẫn kiên trì bên khung cửi không đơn thuần là để mưu sinh mà còn là nỗ lực gìn giữ văn hóa vô giá của người M’nông. Sự bền bỉ ấy đã tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, giúp thế hệ trẻ thêm yêu và tự hào về nguồn cội dân tộc. Những năm qua, địa phương luôn chú trọng công tác tuyên truyền, vận động người dân tích cực phát huy, truyền dạy nghề truyền thống cho con cháu để những sắc màu văn hóa độc đáo này không bị mai một.

Bà Thị Y Rơ (trái) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Bà Thị Y Rơ (trái) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Theo ông Trần Quang Bình, Phó Chủ tịch UBND xã Bù Gia Mập, nền văn hóa của đồng bào M’nông và S’tiêng nơi đây sở hữu những nét đặc sắc rất riêng; đồng thời có sự giao thoa văn hóa độc đáo. Trong đó, dệt thổ cẩm chính là một trong những nghề truyền thống nổi bật nhất của cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn xã. Nhận thức được tầm quan trọng đó, công tác gìn giữ và bảo tồn giá trị văn hóa luôn nhận được sự quan tâm sát sao từ chính quyền địa phương cũng như các sở, ngành liên quan. Thông qua việc triển khai hiệu quả nhiều chương trình, hoạt động thiết thực, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã Bù Gia Mập đã từng bước bảo tồn và duy trì bền vững nghề truyền thống này.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) giới thiệu tấm thổ cẩm đã hoàn chỉnh cho chuyên viên phòng văn hóa-xã hội xã Bù Gia Mập.

Thời gian qua, địa phương đã tổ chức các buổi trình diễn; đồng thời mở nhiều lớp dạy nghề nhằm khuyến khích thế hệ trẻ, thanh thiếu niên trong các gia đình, dòng tộc người M’nông và S’tiêng tiếp tục học tập, kế thừa nếp dệt xưa. "Trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ vừa qua, địa phương đã chính thức đưa nội dung duy trì các sản phẩm thổ cẩm gắn liền với định hướng phát triển du lịch. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm vừa đẩy mạnh ngành du lịch địa phương vừa tạo sinh kế, phát triển kinh tế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số”, ông Trần Quang Bình cho biết thêm.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) với tấm thổ cẩm đã dệt hoàn chỉnh.

Bà Thị Y Rơ (76 tuổi, người dân tộc M’nông) với tấm thổ cẩm đã dệt hoàn chỉnh.

Những người phụ nữ như bà Thị Y Rơ đang góp phần gìn giữ sức sống cho di sản văn hóa M’nông, S’tiêng nơi vùng biên. Họ không chỉ gìn giữ những nếp hoa văn độc đáo của cha ông mà còn là những “người giữ lửa” đầy tâm huyết, trao truyền niềm tự hào dân tộc cho thế hệ mai sau. Sự đồng lòng của những người phụ nữ nơi đây, kết hợp với các định hướng phát triển du lịch đúng đắn của chính quyền, hứa hẹn sẽ đưa sắc màu thổ cẩm vùng biên vươn xa và trở thành động lực phát triển kinh tế bền vững hơn./.

Bài và ảnh: K GỬIH/TTXVN
Dân tộc M'nông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Ðêh...

Dân số: 102.741 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng. Ðiều đáng lưu ý là vai trò của cái cuốc trong nền nông nghiệp cổ truyền Mnông. Ði đôi với nền sản xuất nông phẩm, việc săn bắn, hái lượm còn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày.

Sản xuất thủ công nghiệp gia đình phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng nguyên liệu mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có một số người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Sản phẩm là nồi đất các loại, bát ăn cơm và vò, hũ. Nghề rèn nông cụ không được phát triển lắm trong các vùng Mnông. Ðặc biệt ở vùng Buôn Ðôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng. Cho đến nay nghề này vẫn được tiếp tục duy trì tuy số voi săn bắt được hàng năm đã giảm đi đáng kể.

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm không phát triển. Rau củ được trồng trên rẫy để bổ sung cho nguồn thức ăn do hái lượm đem lại. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Mặc: Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt. Tập quán "cà răng căng tai" phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên.

Ở: Hiện nay người Mnông cư trú tập trung theo nhóm địa phương, chủ yếu ở các huyện: Lắc, Mdrắc, Ðắc Nông, Ðắc Mil, Krông Pách, Ea Súp, Buôn Ðôn... thuộc tỉnh Ðắk Lắk; một bộ phận cư trú ở phía bắc tỉnh Sông Bé và tây nam tỉnh Lâm Ðồng; địa bàn phân bố về phía tây đến tận miền đông Cam-pu-chia, giáp ranh với biên giới nước ta. Tuỳ theo vùng và từng nhóm địa phương mà họ xây cất nhà trệt hoặc nhà sàn.

Nhà trệt có mái tranh gần sát đất và nền đất là mặt bằng sinh hoạt, rất phổ biến ở nhóm Mnông Gar, Mnông Preh, Mnông Prâng... Còn nhà sàn thường là sàn thấp, chỉ cách mặt đất khoảng 0m70 đến1m00 và phổ biến ở nhóm Mnông Kuênh, Mnông Chil, Mnông Bhiêt... Riêng nhóm Mnông Rlâm ở vùng hồ Lắc xây cất nhà sàn cao theo kiến trúc của người Ê Ðê. Dù là nhà sàn hay nhà trệt thì mái vẫn là cỏ tranh: khung và sườn nhà được kết hợp 2 loại nguyên liệu là tre nứa và gỗ cây... Các bộ phận được liên kết bằng chạc, ngoãm, dây mây và dây rừng.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi cõng trên lưng nhờ có 2 quai quàng qua đôi vai. Việc vận chuyển bằng voi là phương thức đặc biệt được chú trọng ở vùng người Mnông. Việc đi lại, vận chuyển trên sông, hồ có thuyền độc mộc.

Quan hệ xã hội: Ðơn vị cư trú cơ bản gọi là bon hay uôn, tương ứng với làng, xóm. Các gia đình trong làng có quan hệ láng giềng, quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Làng nhỏ có độ mươi nóc nhà, làng lớn có khi tập trung đến vài chục nóc. Quan hệ huyết thống ở đây tính theo dòng họ mẹ. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương.

Trong xã hội cổ truyền người đứng đầu mỗi làng gọi là Rnút hay Kroanh bon, bên cạnh có người phụ tá gọi là Rnoi, Rnớp. Khi cần chiến đấu thì cử ra một chức sắc gọi là Né tăm lăm lở làm thủ lĩnh quân sự. Xã hội Mnông vận hành theo tập quán pháp và Tập quán pháp ca được truyền khẩu qua các thế hệ để làm chuẩn mực cho mọi ứng xử trong đời sống.

Cưới xin: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Trong tập quán cưới xin có 3 nghi lễ là Sa ur, Tâm ốp và Tám nsông tương ứng với lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ thành hôn. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Ma chay: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thi hài được quàn tại nhà khoảng 2 ngày đối với người chết già, chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn, hổ vồ... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc kỳ tử" như vừa nêu thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan.

Nhà mới: Khi một ngôi nhà được xây cất hoàn tất thì lễ khánh thành để vào nhà mới sẽ được tổ chức linh đình bằng một ngày tiệc mặn cúng hiến sinh heo. Sau bữa ăn rồi mới đến tiệc rượu cần rất rôm rả trong tiếng nhạc cồng chiêng.

Lễ tết: Lễ hội đâm trâu là lễ hội cổ truyền được coi trọng nhất. Kết thúc mùa thu hoạch lúa hàng năm, mỗi làng đều tổ chức tết ăn mừng cơm mới, tạ ơn trời đất và thần lúa. Trâu được hiến sinh trong hội lễ tưng bừng để chuẩn bị cho một mùa vụ mới tràn đầy hy vọng.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Mnông tính theo lịch âm, dựa vào quy trình canh tác rẫy. Mỗi năm cũng có 12 tháng, mỗi tháng có từ 29 đến 30 ngày.

Học: Trong xã hội cổ truyền Mnông chưa có chữ viết, chỉ có văn chương truyền miệng. Việc giáo dục, học tập được thực hiện bằng phương pháp chỉ dẫn trực tiếp, làm mẫu noi theo, bắt chước. Thập kỷ gần đây mới xuất hiện chữ viết nhưng sự phổ biến rộng rãi đang vấp phải không ít trở ngại.

Văn nghệ: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị, đã và đang được khai thác giới thiệu. Tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi diều, đánh cù, bịt mắt bắt dê, chạy, nhảy...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc M'nông

Có thể bạn quan tâm

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Thắm tình quân - dân vùng cao biên giới

Ngày 28/10, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa tổ chức khánh thành Khu văn hóa - thể thao “Thắm tình quân - dân”, mô hình “Dân vận khéo” tại bản Muống, xã vùng cao biên giới Sơn Thủy. 

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Sức sống mới trên vùng đất tái định cư

Gần 20 năm trước, từ cuối năm 2007, để phục vụ dự án Nhà máy thủy điện Sơn La - công trình trọng điểm quốc gia, hàng trăm hộ dân xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai (cũ), tỉnh Sơn La đã nhường đất, rời nơi chôn rau cắt rốn, chuyển đến các điểm tái định cư mới trên địa bàn xã Bình Thuận.

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Ấm tình đồng đội nơi cao nguyên đá Đồng Văn

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp nơi cao nguyên đá Đồng Văn (Tuyên Quang), tình đồng đội vẫn bền chặt theo năm tháng, tiếp tục được nối dài qua những việc làm thiết thực khi người lính trở về với cuộc sống đời thường. Bằng những việc làm thiết thực, cán bộ, nhân viên Ban Chỉ huy Quân sự xã Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang đang tiếp thêm động lực cho quân nhân xuất ngũ phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, góp phần tô thắm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Tuyên Quang tiếp thu, khắc phục ô nhiễm tại bãi rác ở Cốc Pảng

Chiều 26/10, ông Nguyễn Đình Phúc, Chủ tịch UBND xã Du Già (Tuyên Quang) đã ký văn bản số 1844/UBND-KT gửi Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) và Cơ quan thường trú TTXVN tại Tuyên Quang về việc tiếp thu, khắc phục thông tin phản ánh về tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi rác thôn Cốc Pảng.

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Giữ an toàn trên những cung đường mùa hoa tam giác mạch

Những ngày cuối tháng 10, khi sắc hồng của hoa tam giác mạch bắt đầu trải dài trên những triền núi đá, các cung đường từ hai phường Hà Giang lên Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang trở nên nhộn nhịp bởi dòng người và phương tiện đến tham quan, trải nghiệm.

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Củng cố thế trận an ninh nhân dân vững chắc ngay từ cơ sở

Ngày 23/10, Trung tâm Nội dung số và Truyền thông (Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp với Ủy ban nhân dân xã và Công an xã Chiềng Mai (tỉnh Sơn La) tổ chức Lễ khánh thành công trình “Mái ấm bản vui” tại khu dân cư Pha Đin, thuộc bản Buốt Văn.

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Khám mắt, cấp thuốc miễn phí cho người cao tuổi ở vùng cao

Ngày 23/10, tại xã Kim Bình (Tuyên Quang), Báo Nhân Dân, Quỹ “Triệu đôi mắt sáng”, Bệnh viện Đông Đô và UBND xã Kim Bình phối hợp tổ chức khám sàng lọc các bệnh về mắt, tư vấn sức khỏe và cấp phát thuốc miễn phí cho người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn.

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Đồng bộ hệ thống biển báo, nâng hiệu quả quản lý biên giới

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang đã hoàn thành sửa chữa, làm mới hệ thống biển báo trong khu vực biên giới; trong đó cắm mới 36 biển “Khu vực biên giới”, 3 biển “Vành đai biên giới”, đồng thời tháo dỡ những biển không còn phù hợp.

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Đoàn kết quân - dân thắp sáng niềm tin nơi vùng cao

Giữa địa hình núi cao hiểm trở, giao thông cách trở và chưa có điện lưới Quốc gia, cụm dân cư Pha Đin, xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La đang từng ngày đổi thay nhờ sự chung sức của chính quyền địa phương, lực lượng công an, và người dân.

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế

Ngày 20/10, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng phối hợp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố tổ chức Đối thoại chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế với chủ đề “Phụ nữ Hải Phòng phát triển kinh tế: Tiếp cận chính sách - Chuyển đổi số - Chuyển đổi xanh - Phát triển bền vững”.