Nông nghiệp vùng cao hướng tới sản xuất hàng hóa

Những ngày đón Tết Bính Ngọ 2026, nhiều con đường dẫn vào các xã vùng cao phía Tây của các tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai luôn rộn ràng hơn bởi sắc xanh của những nương rẫy đang vào vụ chăm sóc. Từ những chính sách hỗ trợ sinh kế ban đầu, tư duy sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và người dân ở các địa phương nơi đây đã có bước chuyển quan trọng, từ sản xuất tự cung tự cấp sang hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp hàng hóa, kết nối với các vùng nguyên liệu quy mô lớn.

Nông nghiệp vùng cao hướng tới sản xuất hàng hóa

Những ngày đón Tết Bính Ngọ 2026, nhiều con đường dẫn vào các xã vùng cao phía Tây của các tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai luôn rộn ràng hơn bởi sắc xanh của những nương rẫy đang vào vụ chăm sóc. Từ những chính sách hỗ trợ sinh kế ban đầu, tư duy sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số và người dân ở các địa phương nơi đây đã có bước chuyển quan trọng, từ sản xuất tự cung tự cấp sang hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp hàng hóa, kết nối với các vùng nguyên liệu quy mô lớn.

tu-mo-rong.jpg
Nhờ được nhận hỗ trợ bò cái sinh sản vào năm 2023, gia đình bà Y Sáu, thôn Mô Pả, xã Tu Mơ Rông (Quảng Ngãi) đã thoát nghèo. Ảnh: Dư Toán/TTXVN

Từ điểm tựa an cư để người dân phát triển kinh tế

Tại xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi, câu chuyện đổi thay năm nay không còn dừng lại ở những mái nhà mới kiên cố mà đã lan tỏa sang các triền rẫy. Việc ổn định nơi ở từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719) đã trở thành đòn bẩy tâm lý để người dân tập trung phát triển kinh tế dài hạn.

Trong căn nhà mới vừa được hỗ trợ xây dựng theo chương trình mục tiêu quốc gia, anh A Ban ở thôn Tu Mơ Rông ở xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi không giấu được niềm vui khi lần đầu tiên cả gia đình đón Tết trong ngôi nhà kiên cố. Trước đây, căn nhà ván cũ kỹ khiến mỗi mùa mưa bão là một lần lo lắng, nên việc đầu tư sản xuất dài hạn gần như là điều xa xỉ. Anh A Ban chia sẻ đầy phấn khởi: “Tết năm nay mình có nhà mới rồi, mình yên tâm làm ăn. Trước kia cứ sợ mưa gió là lo sửa nhà, giờ tập trung lo nương rẫy được rồi”.

Ổn định nơi ở đã trở thành điểm tựa để nhiều hộ dân vùng cao bắt đầu nghĩ đến chuyện phát triển sinh kế. Tại Tu Mơ Rông, một trong những hướng đi rõ nét nhất là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, lựa chọn những loại cây phù hợp với thổ nhưỡng và có giá trị kinh tế cao.

Anh A Vũ ở thôn Long Leo là một trong những hộ tiên phong chuyển đổi đất rẫy sang trồng cà phê Catimor. Từ nguồn hỗ trợ 10.000 cây giống, phân bón và kỹ thuật canh tác, anh mạnh dạn đầu tư 5 ha cà phê. Vụ thu bói đầu tiên đã mang lại khoảng 80 triệu đồng, con số tuy chưa lớn nhưng đủ để tạo niềm tin về hướng đi mới.

Anh A Vũ nói: “Nếu không được hỗ trợ cây giống và kỹ thuật, tôi khó dám trồng diện tích lớn như vậy. Giờ thấy cà phê hợp đất, gia đình tính đầu tư thêm hệ thống tưới để chăm sóc tốt hơn”.

Câu chuyện của anh A Vũ cũng là câu chuyện chung của nhiều hộ dân ở xã Tu Mơ Rông, từ chỗ sản xuất manh mún, phụ thuộc vào kinh nghiệm, họ bắt đầu tiếp cận kỹ thuật mới, đầu tư bài bản và tính toán đầu ra cho sản phẩm. Nương rẫy không còn chỉ để “có cái ăn”, mà đã trở thành sinh kế gắn với thu nhập ổn định lâu dài.

Theo lãnh đạo xã Tu Mơ Rông, việc hỗ trợ sinh kế được triển khai theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Nhà nước hỗ trợ giống, vật tư và hướng dẫn kỹ thuật. Người dân đối ứng công lao động, chủ động chăm sóc sản xuất. Cách làm này giúp xóa bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại, thay vào đó là tinh thần chủ động, dám thay đổi của bà con vùng cao.

Phó Chủ tịch UBND xã Tu Mơ Rông Nguyễn Bá Thành khẳng định: “Các tiểu dự án thuộc Chương trình 1719 đã đi sâu vào thực tế đời sống. Qua triển khai, chúng tôi nhận thấy bà con rất phấn khởi và đồng thuận cao. Hiệu quả lớn nhất không chỉ là những con số về diện tích hay thu nhập, mà là sự thay đổi trong nếp nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số”.

Từng bước phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp

xa-tu-mo-rong.jpg
Cùng với các loại cây dược liệu, cây cà phê cũng được huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum) chọn làm cây trồng chủ lực để giúp phát triển kinh tế hộ gia đình, hướng đến xây dựng nhãn hiệu sản phẩm của Tu Mơ Rông. Ảnh: Văn Phương/DTMN

Từ những mô hình sinh kế ban đầu ở xã Tu Mơ Rông, một chuyển biến quan trọng đang diễn ra, đó là sản xuất nông nghiệp vùng cao dần hướng tới quy mô hàng hóa. Khi cây cà phê trở thành cây trồng chủ lực, người dân bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến năng suất, chất lượng và đầu ra.

Những buổi tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, sử dụng phân bón hợp lý… không chỉ giúp nâng cao năng suất, mà còn từng bước thay đổi tư duy sản xuất của người dân. Từ chỗ canh tác theo thói quen, bà con đã biết áp dụng quy trình kỹ thuật, ghi nhớ thời vụ, tính toán chi phí và lợi nhuận.

Ở cấp xã, các nhóm hộ, tổ sản xuất cũng dần hình thành, tạo tiền đề để liên kết với doanh nghiệp thu mua trong tương lai. Đây chính là bước chuyển quan trọng, bởi chỉ khi sản xuất có tổ chức, nông sản vùng cao mới có thể tham gia vào các chuỗi giá trị ổn định, tránh tình trạng được mùa mất giá.

Từ góc nhìn rộng hơn, câu chuyện ở Tu Mơ Rông phản ánh hướng đi chung của nhiều địa phương miền núi, đó là việc chuyển từ hỗ trợ sinh kế đơn lẻ sang phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững, gắn với thị trường. Và, khi đặt Tu Mơ Rông trong không gian liên vùng, có thể thấy rõ hơn bức tranh phát triển nông nghiệp đang hình thành.

Nếu ở xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi là điểm khởi đầu của mô hình sinh kế từ cây cà phê, thì ở tỉnh Gia Lai lại là nơi câu chuyện này được phát triển ở quy mô lớn hơn, với các vùng nguyên liệu rộng hàng chục nghìn ha và sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã.

sau-rieng-gia-lai.jpg
Thu hoạch sầu riêng trồng theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Ia Mơ Nông (Chư Păh, Gia Lai). Ảnh: Hoài Nam/TTXVN

Tại một số xã của tỉnh Gia Lai, các mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ, liên kết với hợp tác xã và doanh nghiệp đã được triển khai, giúp nông dân được hỗ trợ kỹ thuật, vật tư đầu vào và bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn so với sản xuất truyền thống. Nhiều hộ nông dân không còn bán cà phê thô theo mùa vụ, mà tham gia vào quy trình sản xuất khép kín, từ chăm sóc đến thu hoạch, sơ chế và xuất khẩu.

Không chỉ cà phê, các vùng nguyên liệu cây ăn quả như chuối, chanh dây, sầu riêng ở Gia Lai cũng đang được phát triển theo mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân. Những trang trại quy mô hàng trăm héc-ta, áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP đã tạo ra sản lượng lớn phục vụ xuất khẩu sang các thị trường khó tính ở nước ngoài.

Sự khác biệt giữa các xã vùng cao Quảng Ngãi và Gia Lai không nằm ở hướng đi, mà ở quy mô và mức độ phát triển. Nếu ở Tu Mơ Rông, nông dân mới bắt đầu làm quen với sản xuất hàng hóa từ những vườn cà phê vài ha, thì tại Gia Lai, quá trình này đã được tổ chức thành những vùng nguyên liệu quy mô lớn, gắn với hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai Cao Thanh Thương thông tin: “Tỉnh Gia Lai hiện có khoảng 70.675 ha cây trồng được chứng nhận sản xuất tốt theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; gần 251.000 ha cây trồng tham gia liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó là 309 mã số vùng trồng và 40 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu nông sản sang các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand…”.

“Những con số này cho thấy sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai không còn dừng ở quy mô hộ gia đình, mà đã được tổ chức theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ vùng trồng – thu hoạch – sơ chế – chế biến – xuất khẩu. Nhiều nông hộ tham gia vào các chuỗi liên kết với doanh nghiệp như CP Việt Nam, CJ Vina Agri, GreenFeed…, giúp ổn định đầu ra và nâng cao giá trị sản phẩm”, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai thông tin thêm.

Chính vì vậy, khi nhìn lại những nương cà phê non trẻ ở miền núi, có thể thấy đây chính là “hạt mầm” của một quá trình phát triển dài hạn. Ở Quảng Ngãi, người dân đang từng bước chuyển đổi sinh kế từ sản xuất tự cung sang sản xuất hàng hóa. Còn tại Gia Lai, cùng hướng đi ấy đã được mở rộng thành các vùng nguyên liệu lớn, liên kết với doanh nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Khi diện tích tăng lên, tổ chức sản xuất chặt chẽ hơn và có sự kết nối thị trường, những mô hình sinh kế ở cấp xã hoàn toàn có thể phát triển thành vùng nguyên liệu quy mô lớn trong tương lai.

Bức tranh nông nghiệp miền núi các tỉnh Gia Lai, Quảng Ngãi đang dần thay đổi diện mạo. Ở cấp xã, sự thay đổi bắt đầu từ ổn định đời sống, chuyển đổi cây trồng và thay đổi tư duy sản xuất của từng hộ dân. Ở cấp tỉnh, sự thay đổi được nâng lên thành quy hoạch vùng nguyên liệu, mở rộng diện tích cây trồng chủ lực, xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ và tham gia thị trường xuất khẩu.

Từ những nương rẫy manh mún đến chuỗi giá trị hàng hóa liên vùng, nông nghiệp vùng núi đang từng bước rời xa lối canh tác tự cung tự cấp. Sự chuyển mình này không chỉ mang lại ấm no cho nông dân trong dịp Tết Bính Ngọ mà còn đặt nền móng cho sự phát triển bền vững, giúp nông sản vùng cao tự tin bước ra thị trường xuất khẩu rộng lớn./.

Hải Âu - Kha Phạm/TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Tạo sinh kế, mở lối thoát nghèo ở vùng cao Huế

Những năm qua, trên các bản làng vùng cao của xứ Huế, nhiều mô hình hỗ trợ giảm nghèo đã và đang gieo những mầm xanh hy vọng. Những chính sách thiết thực ấy đã trở thành điểm tựa vững chắc tiếp thêm nghị lực để đồng bào dân tộc thiểu số vượt qua gian khó, tự tay gây dựng sinh kế và tự tin mở ra con đường thoát nghèo bền vững.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng Chăm Islam

Ban Đại diện Cộng đồng Chăm Hồi giáo Islam tỉnh An Giang đã đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, lồng ghép những những tình huống thực tế trong đời sống hàng ngày vào các buổi sinh hoạt tôn giáo, qua đó giúp bà con dễ hiểu và chấp hành tốt quy định của pháp luật.

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Đề xuất mở rộng hỗ trợ ăn trưa cho học sinh vùng dân tộc thiểu số, miền núi

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách.

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Thanh Hóa phát huy vai trò chi bộ thôn trong phát triển kinh tế

Phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, nhiều chi bộ thôn, bản miền núi tỉnh Thanh Hóa đã vận động người dân phát triển kinh tế, giảm nghèo, hiến đất, góp công xây dựng hạ tầng, từng bước nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống.

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân vùng biên

Ngày 21/10, tại xã biên giới Ba Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tổ chức tuyên truyền pháp luật về phòng, chống xuất nhập cảnh trái phép, tổ chức, môi giới cho người khác xuất nhập cảnh trái phép; vận chuyển trái phép hàng hóa, hàng cấm trên địa bàn khu vực biên giới năm 2026.

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Mở rộng cơ hội việc làm cho lao động miền núi, vùng dân tộc

Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đang được tỉnh Quảng Ngãi xác định là giải pháp quan trọng nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững, nhất là tại khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với sự chủ động của chính quyền địa phương cùng các chính sách hỗ trợ thiết thực, nhiều thanh niên vùng cao đã mạnh dạn tiếp cận thị trường lao động nước ngoài, từng bước cải thiện đời sống gia đình và tích lũy nguồn lực phát triển kinh tế khi trở về quê hương.

Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội

Quy định 224 thể hiện bước đổi mới trong tư duy lãnh đạo của Đảng

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 224-QĐ/TW về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh, quy định về chủ trương, nguyên tắc, giới hạn, quyền, trách nhiệm và kiểm soát xung đột lợi ích đối với đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh.

Giúp thế hệ trẻ dân tộc thiểu số tự giác sống theo pháp luật

Giúp thế hệ trẻ dân tộc thiểu số tự giác sống theo pháp luật

Trước những thách thức mang tính đặc thù tại khu vực miền núi như nạn tảo hôn, nguy cơ vi phạm lâm nghiệp hay các cạm bẫy trên không gian mạng, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số (DTTS) đang đóng vai trò then chốt.

Trung tướng Vũ Trung Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng trao thưởng cho các lực lượng chức năng có thành tích trong công tác phòng chống mua bán người và ma túy.

Lực lượng Biên phòng nâng cao năng lực chống tội phạm mua bán người

Nhằm kịp thời phát hiện, đấu tranh với tội phạm mua bán người, Bộ đội Biên phòng đã thiết lập thế trận liên hoàn; tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức và kỹ năng nhận diện dấu hiệu nguy hiểm, kiểm chứng thông tin giúp người dân phòng tránh, nhất là nhóm có nguy cơ cao bị mua bán.

Bài 1: Từ chiến trường ngoại biên đến bình yên bản làng

Bài 1: Từ chiến trường ngoại biên đến bình yên bản làng

Với quyết tâm không để trở thành "điểm nóng" về mua bán người, thời gian qua lực lượng Bộ đội Biên phòng đã đánh trúng, đánh mạnh các đường dây tội phạm xuyên quốc gia từ sớm, từ xa, từ ngoài biên giới; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc bảo vệ cuộc sống bình yên nhân dân.

Nỗ lực vượt khó, bảo đảm tiến độ khám sức khỏe toàn dân

Nỗ lực vượt khó, bảo đảm tiến độ khám sức khỏe toàn dân

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, tính đến giữa tháng 10/2026, tỉnh Cao Bằng đã tổ chức khám sức khỏe định kỳ và sàng lọc miễn phí cho hơn 380.000 lượt người dân, đạt tỷ lệ bao phủ trên 72,4%.