Phát triển bền vững kinh tế biển

Phát triển bền vững kinh tế biển
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Hưng Long, thành phố Phan Thiết. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Đóng mới tàu thuyền tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Đóng mới tàu thuyền tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
* Vẫn là tiềm năng 

Cả nước đã có 9 cảng biển và 15 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước lên đến 662.249 ha, thu hút khoảng 700 dự án do nước ngoài và trong nước đầu tư, với tổng số vốn gần 33 tỷ USD và 330.000 tỷ đồng. Số dân cư sống ở các vùng ven biển tăng lên rất nhanh, bao gồm hàng triệu người làm nghề vận tải biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ đóng sửa tàu thuyền, chế biến thủy sản, dầu khí, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, du lịch… Nhiều thị trấn, thị tứ, khu nghỉ dưỡng đã hình thành dọc theo chiều dài ven biển của đất nước. 
 
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Nhưng những kết quả trên mới chỉ là bước đầu, bởi Chiến lược phát triển kinh tế biển chưa được quán triệt trong cả hệ thống chính trị, cộng đồng các doanh nghiệp và nông ngư dân. Việc phát triển kinh tế biển trong thời gian qua chưa quan tâm đầy đủ đến đào tạo nhân lực, chưa lồng ghép các chương trình phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo. Nhiều địa phương, các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, cư dân ven biển còn thờ ơ với tác động của biến đổi khí hậu đến sự phát triển kinh tế biển bền vững, chưa nhận thức đầy đủ ngành kinh tế biển là ngành đầu tiên chịu sự thiệt hại nặng nề do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Một trong những nguyên nhân chủ yếu vẫn là cơ chế, chính sách chưa đủ thông thoáng. 
 
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Cơ chế, chính sách đối với kinh tế biển không có gì đặc thù đáng kể so với khung chính sách chung, đều trong khuôn khổ các luật quốc gia như Luật Đầu tư, Thương mại, Hải quan...Nhưng kinh tế biển mang tính đặc thù nên cần có một cơ chế, chính sách đặc thù, khác biệt với cơ chế, chính sách chung hiện hành. Các chính sách mang tính địa phương lại cần lưu ý những quy định, chính sách phù hợp cho kinh tế biển phát triển. Trong đó cần có chính sách phát triển khoa học, chính sách bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hóa, chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu… Ngoài ra, hoàn chỉnh hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường, nâng các tiêu chuẩn này lên mức ngang với tiêu chuẩn của các nước phát triển. 
 
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Nâng cấp tàu thuyền cho ngư dân tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Nước ta hiện có hơn 300 khu công nghiệp có cơ cấu sản xuất tương đối giống nhau, 15 khu kinh tế không có sự khác biệt nhiều nên chưa hình thành được kinh tế vùng-yếu tố cấu thành nên nền kinh tế quốc dân có năng lực cạnh tranh cao. Do đó, cần xây dựng quy hoạch phát triển không gian biển toàn diện trên cơ sở khoa học tiên tiến với sự tham gia và phối hợp giữa các bên có liên quan ở tầm quốc gia cũng như khu vực. Không chỉ chú trọng khai thác tiềm năng hiện có mà cần coi trọng việc bảo tồn để khai thác tốt hơn tiềm năng trong tương lai. 
 
Đóng mới tàu thuyền tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
 Đóng mới tàu thuyền tại một cơ sở đóng tàu ở phường Quảng Tiến, thị xã Sầm Sơn. Ảnh: Quang Quyết – TTXVN
Để nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu vì biển thì phải khai thác thế mạnh ở tất cả các tỉnh ven biển từ Móng Cái đến Cà Mau, đồng thời phát huy tốt nhất lợi thế và khắc phục nhược điểm của từng vùng kinh tế, từng địa phương để tránh lãng phí nguồn lực. 
 
Tàu phục vụ khách du lịch tại đảo Cát Bà, huyện Cát Hải. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Tàu phục vụ khách du lịch tại đảo Cát Bà, huyện Cát Hải. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN

* Cộng hưởng đa ngành và liên vùng 

Theo báo cáo của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nghiên cứu khoa học về biển đã ghi nhận nhiều thành tựu mới, đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp phát triển kinh tế cũng như quản lý tài nguyên môi trường biển như mở rộng, bổ sung, điều tra khái quát tài nguyên môi trường ở nước ta; hoàn thiện điều tra khái quát vùng biển ven bờ và bước đầu mở rộng ra vùng biển xa bờ. Song để phát triển kinh tế biển được bền vững, rất cần sự cộng hưởng đa ngành khoa học, liên vùng kinh tế để giải quyết các vấn đề liên quan đến biển. 
 
Huyện đảo Cát Hải hiện có 309 hộ với 588 bè nuôi các loại thủy sản. 5 tháng đầu năm 2014, giá trị sản lượng thủy sản của huyện đạt gần 290 tỷ đồng. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Huyện đảo Cát Hải hiện có 309 hộ với 588 bè nuôi các loại thủy sản. 5 tháng đầu năm 2014, giá trị sản lượng thủy sản của huyện đạt gần 290 tỷ đồng. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Kết quả nghiên cứu về khoa học và công nghệ biển giai đoạn gần đây cho thấy, so với thời gian trước, giai đoạn này đã có nhiều chuyển biến, đổi mới nhiều về tư duy và phạm vi nghiên cứu. Cụ thể trong lĩnh vực khí tượng, thủy văn và động lực học biển, lĩnh vực này đã xây dựng được quy trình công nghệ dự báo hạn ngắn bảo đảm an toàn cho các hoạt động kinh tế, quốc phòng trên biển; ứng dụng và hoàn thiện quy trình công nghệ dự báo ngư trường phục vụ khai thác hải sản xa bờ; dự báo các quá trình thủy thạch động lực ở vùng biển ven bờ, đánh giá biến động của mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu. 
 
Du lịch, dịch vụ là một trong những thế mạnh trong phát triển kinh tế biển của Cát Hải, với tỷ trọng hiện chiếm gần 70% cơ cấu kinh tế. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Du lịch, dịch vụ là một trong những thế mạnh trong phát triển kinh tế biển của Cát Hải, với tỷ trọng hiện chiếm gần 70% cơ cấu kinh tế. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Trong lĩnh vực địa chất và địa vật lý biển cũng đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Các công trình nghiên cứu về các bồn trầm tích Đệ Tam đã khái quát hoá một cách khoa học, logic về lịch sử địa chất để từ đó phục vụ đắc lực cho tìm kiếm thăm dò dầu khí. Đặc biệt, đề tài “Nghiên cứu cấu trúc địa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí các khu vực Trường Sa và Tư Chính – Vũng Mây” năm 2008 – 2010 lần đầu tiên đã xác định được những đặc điểm cơ bản về cấu trúc, kiến tạo, địa chất dầu khí bồn trầm tích của các khu vực này. Các hoạt động điều tra về đa dạng sinh học biển cũng được chú trọng, mở rộng nghiên cứu sinh vật biển ra vùng xa bờ, vùng nước sâu. Ngoài việc đánh giá tiềm năng nguồn lợi truyền thống, còn có các hoạt động nghiên cứu, phát hiện, triển khai công nghệ khai thác tiềm năng các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng, dược liệu, nguyên liệu công nghiệp từ sinh vật biển. 
 
Huyện đảo Cát Hải hiện có 309 hộ với 588 bè nuôi các loại thủy sản. 5 tháng đầu năm 2014, giá trị sản lượng thủy sản của huyện đạt gần 290 tỷ đồng. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
 Huyện đảo Cát Hải hiện có 309 hộ với 588 bè nuôi các loại thủy sản. 5 tháng đầu năm 2014, giá trị sản lượng thủy sản của huyện đạt gần 290 tỷ đồng. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Riêng lĩnh vực nghiên cứu năng lượng, kỹ thuật công trình và công nghệ biển có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển. Nhiều công trình nghiên cứu các trạm phát điện tổng hợp gồm điện mặt trời và điện gió đã được nghiên cứu và áp dụng tại Cù Lao Chàm; tính toán khai thác năng lượng gió cho một số vùng biển, hải đảo Quan Lạn, Cô Tô... 
 
Hệ thống giao thông tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế của huyện. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Hệ thống giao thông tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế của huyện. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Nước ta cũng đạt được nhiều thành tựu về công nghệ dự báo biển, công nghệ khai thác tài nguyên biển cùng với công nghệ tách chiết các hợp chất thiên nhiên trên biển phục vụ kinh tế-xã hội. Đã có số liệu đánh giá tương đối hoàn chỉnh tiềm năng nguồn lợi hải sản, khoáng sản, dầu khí trên toàn vùng biển nước ta, bao gồm cả vùng biển gần bờ và xa bờ. Xuất bản được bộ chuyên khảo “Biển Đông” gồm 4 tập và bộ “Atlas biển Việt Nam và kế cận” gồm 60 tờ bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 – 2.000.000, tuyển 8 tập các kết quả chủ yếu của Chương trình khoa học và công nghệ biển, được coi như kết quả hoạt động điều tra khảo sát khái quát vùng biển đầu tiên của nước ta từ trước đến nay. Đồng thời đánh giá đầy đủ hơn đa dạng sinh học biển và tiềm năng tài nguyên thiên nhiên biển Việt Nam; mở rộng và nâng cao nghiên cứu phục vụ xây dựng công trình và quản lý biển; phát triển được lực lượng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, xây dựng cơ sở hạ tầng, quan hệ quốc tế được mở rộng… 
 
Trung tâm hậu cần nghề cá đang được xây dựng tại xã Trân Châu, phục vụ nhu cầu đánh bắt hải sản trên Vịnh Bắc bộ. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Trung tâm hậu cần nghề cá đang được xây dựng tại xã Trân Châu, phục vụ nhu cầu đánh bắt hải sản trên Vịnh Bắc bộ. Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, Việt Nam còn thiếu một chiến lược tổng quát về khoáng sản năng lượng biển, chưa xây dựng được một bản đồ về tiềm năng khoáng sản năng lượng cho toàn vùng biển một cách chính xác. Chiến lược thăm dò, khai thác dầu khí chưa thật sự rõ ràng, còn phụ thuộc nhiều vào các công ty nước ngoài. Nghiên cứu sinh vật, sinh thái vùng biển sâu và đảo xa bờ còn chậm và lúng túng, thậm chí bất lực trước yêu cầu ngăn chặn sự suy thoái nguồn lợi, các hệ sinh thái. Không những vậy, việc ô nhiễm dầu do các hoạt động đánh bắt thủy hải sản trên biển bằng các máy móc, thiết bị cũ kỹ, lạc hậu cũng rất đáng cảnh báo. Theo thống kê, cứ trên 100 vụ tràn dầu do tai nạn tàu thì có đến 50% là do hoạt động trên gây ra. Nghiên cứu khoa học biển cũng có nhiều đặc thù khác với những nghiên cưu trên đất liền, nhưng không phải đó là lý do để đầu tư nghiên cứu một cách lãng phí. Tại các cuộc họp liên quan đến khoa học và công nghệ biển, rất nhiều các nhà khoa học đã phải thừa nhận tình trạng này. 
 
Tàu thuyền cập cảng An Thới, Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Tàu thuyền cập cảng An Thới, Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
* Những giải pháp 

Thạc sĩ Vũ Ánh Tuyết, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đề xuất việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ biển để phát triển kinh tế biển bền vững, không chỉ dừng lại ở ngành khoa học và công nghệ biển mà đòi hỏi sự cộng hưởng đa ngành khoa học, liên vùng kinh tế để giải quyết các vấn đề liên quan đến biển, quốc phòng-an ninh trên biển. Chính vì vậy, công tác nghiên cứu khoa học trong thời gian tới phải mang tính hệ thống và kế thừa rất cao, cần đặt ra kế hoạch tổng thể, xác định nhiệm vụ trọng tâm, hoạch định quy mô, phạm vi cho từng giai đoạn thực hiện bởi hiện nay chúng ta chưa có khả năng, phương tiện và điều kiện để làm một cách tổng thể. Về dữ liệu biển nên làm định kỳ 5 năm một lần thật bài bản. Điều tra cơ bản phải làm đúng điểm, đúng phương tiện và lặp lại 5 năm 1 lần thì mới có sự so sánh chuẩn và cho ra dữ liệu đúng. Còn các nghiên cứu khác chỉ mang tính chất bổ sung. Phải có bộ dữ liệu chuẩn thì mới có thể “tự tin” khi bảo vệ chủ quyền của chính mình. 
 
Tàu thuyền cập cảng An Thới, Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Tàu thuyền cập cảng An Thới, Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, hợp tác quốc tế trong nghiên cứu biển là rất cần thiết, trước tiên là giúp các nhà khoa học Việt Nam nhanh chóng tiếp cận được với các tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới, học hỏi được kinh nghiệm và kỹ năng tổ chức các công việc nghiên cứu trên biển, thu nhận các tư liệu, thông tin quan trọng do các đối tác nước ngoài cung cấp thông qua hợp tác. Hơn nữa hợp tác quốc tế cũng đồng thời góp phần làm lành mạnh các mối quan hệ phức tạp và căng thẳng trên Biển Đông, giúp Việt Nam tỏ rõ thiện chí của mình trong quá trình hội nhập toàn cầu, góp phần hiện thực hóa các qui định, thỏa thuận và luật pháp quốc tế về biển.
 
Một hộ gia đình nuôi cá lồng bè tại vùng biển Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Một hộ gia đình nuôi cá lồng bè tại vùng biển Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương, Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, cần phải thực hiện ngay một số nhóm giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển. Trước hết là tiếp tục nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng cư dân ven biển về chiến lược phát triển kinh tế biển gắn với phòng ngừa, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vì đây là ba mặt của một vấn đề có quan hệ mật thiết với nhau. Xây dựng đề án tái cơ cấu ngành kinh tế biển, cơ chế, chính sách nhằm phát huy quyền chủ động của các ngành, các cấp, địa phương và vùng lãnh thổ, có sự quản lý, tập trung của trung ương, tạo nên bước đột phá về tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng hiện đại, theo chiều rộng và chiều sâu. 
 
Những rổ cá trên khoang tàu-sản phẩm sau một chuến đi biển của ngư dân Kiên Giang tại cảng An Thới, Phú Quốc. Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Những rổ cá trên khoang tàu-sản phẩm sau một chuến đi biển của ngư dân Kiên Giang tại cảng An Thới, Phú Quốc. Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch phát triển ngành theo nội dung mới, gắn phát triển kinh tế biển với phòng ngừa thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên tất cả các lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng tuyến đảo, hệ thống cảng biển, đô thị ven biển, các ngành dầu khí, đóng tàu, giao thông, du lịch, khai thác nuôi trồng thủy hải sản… Đồng thời thúc đẩy liên kết hợp tác giữa các ngành, các địa phương và vùng lãnh thổ, hiện đại hoá doanh nghiệp, hợp tác xã, xây dựng thương hiệu biển quốc gia, thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài và đầu tư tư nhân vào phát triển kinh tế biển. 
 
Những rổ cá trên khoang tàu-sản phẩm từ biển của ngư dân Kiên Giang tại cảng An Thới, Phú Quốc. Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Những rổ cá trên khoang tàu-sản phẩm từ biển của ngư dân Kiên Giang tại cảng An Thới, Phú Quốc. Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Khẩn trương xây dựng chiến lược thích ứng cho sinh kế ven biển, bảo vệ môi trường sinh thái, xác định và tiếp cận cho từng lĩnh vực như: Vận tải biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi… có sự tham gia của đại diện cơ quan ở địa phương, các chuyên gia kỹ thuật, tổ chức quần chúng, hộ gia đình, lập bản đồ về mối hiểm nguy, kế hoạch lưu giữ nước ngọt, áp dụng cách tiếp cận vùng để quản lý tài nguyên thiên nhiên ven biển dựa trên cộng đồng. Huy động cộng đồng tham gia vào việc kiên cố hoá đê điều, khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển tạo hành lang bảo vệ đê biển, ngăn ngừa nước biển dâng và nước mặn lấn sâu vào đồng ruộng. Tổ chức các tổ đoàn kết, hợp tác xã vận tải trên biển, đánh bắt cá, nuôi trồng thủy hải sản… để có điều kiện hỗ trợ nhau trong sản xuất ứng phó với bão tố, sóng thần. 
 
Một tàu đánh bắt cá trong đêm giữa vùng biển Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Một tàu đánh bắt cá trong đêm giữa vùng biển Phú Quốc (Kiên Giang). Ảnh: Duy Khương - TTXVN
Mở rộng hợp tác quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo và chuyển giao công nghệ, thu hút các nguồn vốn ODA, nguồn vốn đầu tư trực tiếp của các nước. Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu quản lý các ngành kinh tế biển và cộng đồng cư dân ven biển không những có trình độ chuyên môn, mà còn có kỹ năng ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền biển đảo, phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 80%. Đề nghị Chính phủ giao cho các ngành liên quan đưa nội dung giáo dục về kinh tế biển, biến đổi khí hậu, bảo vệ chủ quyền biển đảo và chương trình giảng dạy ở các cấp học phổ thông, trung cấp, cao đẳng, đại học thuộc hệ chính quy và không chính quy./. 
TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Cấp điện trở lại cho hầu hết khách hàng ở vùng lũ Mường Than

Cấp điện trở lại cho hầu hết khách hàng ở vùng lũ Mường Than

Thông tin từ Công ty Điện lực Lai Châu cho biết, đến chiều 21/7, đơn vị đã cơ bản hoàn thành công tác khắc phục sự cố do mưa lũ, đóng điện khôi phục cấp điện cho hầu hết khu vực bị ảnh hưởng tại xã Mường Than, góp phần giúp người dân sớm ổn định đời sống và khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh sau thiên tai.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, dù được đầu tư xây dựng nhiều công trình nước sinh hoạt tập trung phục vụ người dân, song, tới nay hơn một nửa các công trình cấp nước tại các xã miền núi của tỉnh Thanh Hóa đã không phát huy hiệu quả và bị hư hỏng nặng, không bảo đảm công năng để đáp ứng được nhu cầu cung cấp nước sinh hoạt cho người dân theo thiết kế, ảnh hưởng tới việc cấp nước, dẫn đến nhiều người dân miền núi đang sống trong tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt.

Chủ động phòng, chống dịch bệnh sau mưa lũ ở Mường Than

Chủ động phòng, chống dịch bệnh sau mưa lũ ở Mường Than

Cơn lũ dữ đi qua đã gây thiệt hại nặng về cho người dân ở xã Mường Than (Lai Châu). Cùng với việc khắc phục hậu quả thiên tai, công tác phòng, chống dịch bệnh cũng được ngành Y tế khẩn trương triển khai tại các khu vực bị ảnh hưởng trên địa bàn xã.

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Trên đảo tiền tiêu Lý Sơn (đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), do điều kiện đất đai khô cằn, nguồn nước ngọt hạn chế nên việc tăng gia sản xuất luôn được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lý Sơn duy trì thường xuyên. Những luống rau xanh không chỉ góp phần cải thiện bữa ăn, nâng cao đời sống bộ đội mà còn thể hiện tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, bám trụ nơi tuyến đầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. 

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Lũ dữ quét qua Mường Than khiến nhiều gia đình phải trắng tay, hơn 1.000 người dân phải đi tránh lũ. Việc bố trí ăn ở, sinh hoạt tạm thời được tỉnh Lai Châu và chính quyền địa phương thực hiện chu đáo dù số lượng bà con tránh lũ rất lớn.

Khắc phục tuyến đường xuống cấp, mở cơ hội phát triển vùng cao

Khắc phục tuyến đường xuống cấp, mở cơ hội phát triển vùng cao

Sau nhiều năm khai thác, tuyến đường Trà Thanh - Trà Phong, xã Thanh Bồng (Quảng Ngãi) đã xuống cấp nghiêm trọng. Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho việc đi lại, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn ảnh hưởng đến vận chuyển nông sản, giao thương hàng hóa và việc đưa các dịch vụ công đến người dân vùng cao.

'Vườn ươm' tài năng cho tương lai bền vững của vùng biên

'Vườn ươm' tài năng cho tương lai bền vững của vùng biên

Sau hơn 8 tháng thi công xây dựng 3 trường học trên địa bàn các xã vùng biên giới Giang Thành, Vĩnh Gia và Khánh Bình thuộc tỉnh An Giang, đến nay, các trường này đã sẵn sàng vang tiếng trống khai trường, đón năm học mới 2026 - 2027.

Ưu tiên ổn định chỗ ăn ở cho bà con nơi tâm lũ Mường Than

Ưu tiên ổn định chỗ ăn ở cho bà con nơi tâm lũ Mường Than

Lũ dữ quét qua Mường Than khiến nhiều gia đình phải trắng tay, hơn 1.000 người dân phải đi tránh lũ. Việc bố trí ăn ở, sinh hoạt tạm thời được tỉnh Lai Châu và chính quyền địa phương thực hiện chu đáo dù số lượng bà con tránh lũ rất lớn.

Chung sức xây trường, chắp cánh ước mơ nơi biên cương

Chung sức xây trường, chắp cánh ước mơ nơi biên cương

Những ngày giữa tháng 7, trên công trường xây dựng Điểm trường mầm non Cốc Pàng, xã Cốc Pàng (tỉnh Cao Bằng) luôn khẩn trương bởi tiếng máy trộn bê tông, tiếng cắt sắt thép xen lẫn tiếng cười nói của những công nhân và những người lính biên phòng. Từng bao xi măng, từng viên gạch được chuyền tay nhau, với mục tiêu chung tay hoàn thành ngôi trường mới vào dịp khai giảng năm học 2026-2027.

Đặt mục tiêu 100% cán bộ cơ sở được đào tạo đạt chuẩn chuyên môn

Đặt mục tiêu 100% cán bộ cơ sở được đào tạo đạt chuẩn chuyên môn

Tỉnh Tây Ninh xác định xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có chất lượng, năng lực và uy tín là nhiệm vụ quan trọng trong công tác dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp để từng bước xây dựng đội ngũ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là tại địa bàn cơ sở, vùng biên giới.

Mường Than (Lai Châu) tan hoang sau lũ quét, sạt lở đất

Mường Than (Lai Châu) tan hoang sau lũ quét, sạt lở đất

Tính đến ngày 20/7/2026, mưa lớn kéo dài trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã gây lũ quét và sạt lở đất nghiêm trọng, trong đó xã Mường Than là địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất. Đến thời điểm hiện tại, thiên tai đã làm 5 người tử vong, 4 người mất tích và 9 người bị thương.

Viết tiếp câu chuyện tương lai giữa đại ngàn Pù Mát

Viết tiếp câu chuyện tương lai giữa đại ngàn Pù Mát

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi thượng nguồn sông Giăng đầy nắng gió, mô hình “Đồng hành cùng ký túc xá vùng biên” của Đồn Biên phòng Môn Sơn (BĐBP Nghệ An) đã và đang trở thành “ngôi nhà thứ hai” ấm áp của những đứa trẻ Đan Lai.

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Từ ngày 15 đến ngày 18/7, mưa lớn tại Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Lào Cai đã làm 8 người chết và mất tích (5 người chết, 3 người mất tích) và 10 người bị thương. Lũ dữ đã cuốn phăng trên 255 tỷ đồng, nhiều công trình, nhà cửa bị hư hỏng, nhiều diện tích cây trồng, vật nuôi trôi theo dòng nước cuốn.

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Ngay sau khi cơn lũ đi qua, hàng loạt chuyến xe chở đầy hàng hóa cứu trợ từ khắp nơi đã nối đuôi nhau hướng về xã Mường Than, tỉnh Lai Châu. Sự sẻ chia kịp thời từ cộng đồng, doanh nghiệp và các lực lượng vũ trang đang trở thành điểm tựa vững chắc, tiếp thêm sức mạnh để đồng bào vùng tâm lũ gượng dậy sau thiên tai.

Huy động chó nghiệp vụ tìm kiếm nạn nhân mất tích

Huy động chó nghiệp vụ tìm kiếm nạn nhân mất tích

Trong điều kiện mưa không ngớt, bùn đất ngập ngang đầu gối, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu cùng lực lượng chó nghiệp vụ vẫn kiên cường bám hiện trường, chạy đua với thời gian để tìm kiếm các nạn nhân còn mất tích.

Tuyên Quang sẵn sàng ứng phó mưa lũ, sạt lở đất

Tuyên Quang sẵn sàng ứng phó mưa lũ, sạt lở đất

Ngày 19/7, trước diễn biến phức tạp của mưa lớn, nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng tại nhiều địa phương, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang đã chủ động triển khai các phương án, duy trì nghiêm chế độ trực, chuẩn bị lực lượng, phương tiện và vật chất, sẵn sàng cơ động ứng cứu, khắc phục hậu quả thiên tai.

Nhiều hoạt động an sinh xã hội đến với người dân vùng khó khăn

Nhiều hoạt động an sinh xã hội đến với người dân vùng khó khăn

Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) và hưởng ứng Chiến dịch Thanh niên tình nguyện Hè năm 2026, hàng trăm phần quà cùng nhiều hoạt động hỗ trợ an sinh xã hội đã được các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và tổ chức đoàn thể của tỉnh Gia Lai trao đến người dân và học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại làng Kol và làng Kồ, xã KDang (tỉnh Gia Lai).

Hướng về tâm lũ Mường Than

Hướng về tâm lũ Mường Than

Những ngày qua, lũ dữ đổ về xã Mường Than (Lai Châu) gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Trong hoàn cảnh khó khăn này, đồng bào lại hướng về Mường Than, hỗ trợ bà con vùng lũ vơi bớt phần nào mất mát, đau thương, vực dậy để tiếp tục ổn định cuộc sống.