Dẫu thời gian có trôi qua bao thế kỷ và bản đồ hành chính có nhiều thay đổi theo thăng trầm lịch sử, tháp Pô Klong Garai vẫn luôn là một "viên ngọc quý" trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Đây không chỉ là một công trình kiến trúc, mà còn là linh hồn, điểm kết nối linh thiêng giữa quá khứ hào hùng và tương lai bền vững.
Đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc Chămpa
Tháp Pô Klong Garai được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV. Khác với nhiều vị Vua khác được thờ phụng vì quyền uy, Vua Pô Klong Garai trong tâm thức người Chăm là một vị thần nông nghiệp, một vị anh hùng có công lớn trong việc trị thủy, đắp đập, dẫn nước vào đồng ruộng, mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân.
Quần thể tháp Pô Klong Garai bao gồm ba ngôi tháp chính: Tháp Cổng (Kalan), Tháp Lửa (Tháp Yên Ngựa) và Tháp Chính. Đây được coi là cụm tháp đẹp nhất, hùng vĩ nhất và còn nguyên vẹn nhất trong các hệ thống tháp Chăm tại Việt Nam hiện nay.
Nhìn từ xa, tháp Pô Klong Garai như một đóa hoa rực rỡ nảy mầm từ lòng đất đá khô cằn. Chất liệu làm nên tháp là những viên gạch nung đỏ rực, được gắn kết với nhau bằng một loại chất phụ gia huyền thoại mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa hoàn toàn giải mã được. Không có mạch vữa lộ liễu, các viên gạch khít khao đến lạ kỳ, tạo nên một khối thống nhất bền bỉ qua hàng nghìn năm mưa nắng.
Tháp Chính là tâm điểm của quần thể, cao hơn 20 m, thiết kế nhiều tầng thu nhỏ dần về phía đỉnh. Trên các mặt tường, những họa tiết trang trí hình hoa lá, hình người, hình thú được chạm khắc vô cùng tinh xảo. Cửa chính của tháp quay về hướng Đông, phía trên vòm cửa là phù điêu thần Shiva đang múa. Bên trong tháp thờ biểu tượng Linga-Yoni, nhưng đặc biệt hơn cả là bức tượng vua Pô Klong Garai được tạc trực tiếp trên Linga (Mukhalinga), thể hiện sự hòa quyện giữa thần quyền và vương quyền.
Tháp Lửa với mái hình yên ngựa đặc trưng, nơi xưa kia dùng để tế lễ hoặc để đồ cúng tế, mang vẻ đẹp thanh thoát với những đường cong mềm mại trên nóc tháp. Tháp Cổng lại đóng vai trò như lời chào đón thành kính của con người trước khi bước vào không gian linh thiêng của thánh thần.
Sức sống của một di sản
Trong dòng chảy lịch sử, vùng đất Panduranga xưa và Kauthara (Khánh Hòa) luôn có sự liên kết chặt chẽ về văn hóa và tâm linh. Pô Klong Garai mang tầm ảnh hưởng lớn và giá trị di sản của nó lan tỏa khắp dải đất miền Trung. Sự chuyển dịch hay sự giao thoa trong cách gọi tên, trong sự gắn kết cộng đồng chính là minh chứng cho một vùng văn hóa Champa rực rỡ không có biên giới ngăn cách.
Tháp Pô Klong Garai là di sản quốc gia đặc biệt, là sợi dây thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc Kinh - Chăm - Raglai trên khắp dải đất duyên hải. Khác với nhiều di tích chỉ còn là phế tích hay bảo tàng trưng bày, Pô Klong Garai là một "di sản sống". Hàng năm, đây là nơi diễn ra lễ hội Katê, lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất của đồng bào Chăm theo đạo Bà-la-môn.
Vào tháng 7 lịch Chăm (khoảng tháng 10 dương lịch), hàng ngàn người dân từ khắp nơi đổ về đồi Trầu. Tiếng kèn Saranai réo rắt, tiếng trống Ghi-năng bập bùng hòa cùng những điệu múa uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm trong trang phục truyền thống rực rỡ. Lễ hội không chỉ là dịp để tạ ơn thần linh, tổ tiên mà còn là không gian văn hóa đặc sắc thu hút du khách trong và ngoài nước. Tại đây, quá khứ không hề xa xôi mà hiện hữu trong từng lời khấn nguyện, từng nụ cười và ánh mắt của người dân bản địa.
Tháp Pô Klong Garai đứng đó, giữa nắng và gió, như một nhân chứng lịch sử kiên trung. Trong bối cảnh hiện đại, việc bảo tồn và phát huy giá trị của tháp không chỉ dừng lại ở việc trùng tu, giữ gìn những viên gạch cũ, mà người dân nơi đây đang biến di sản này thành động lực phát triển du lịch bền vững.
Sự kết nối giữa tháp Pô Klong Garai với các làng nghề truyền thống như gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp tạo nên một chuỗi giá trị văn hóa, kinh tế đặc sắc. Du khách đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng kiến trúc, mà còn để trải nghiệm lối sống, tâm hồn của một dân tộc giàu truyền thống.
Trong tương lai, với sự phát triển của công nghệ và nhận thức về di sản, tháp Pô Klong Garai sẽ tiếp tục được số hóa, quảng bá rộng rãi hơn ra thế giới. Tuy nhiên, giá trị cốt lõi nhất vẫn là sự trân trọng của con người. Như lời một cao niên người Chăm từng nói: "Chừng nào tháp còn đứng đó, linh hồn của dân tộc vẫn còn hơi thở".
Tháp Pô Klong Garai mãi mãi là một viên ngọc quý, là điểm kết nối giữa quá khứ hào hùng và tương lai bền vững mãi mãi là biểu tượng bất diệt của vẻ đẹp kiến trúc và tâm hồn con người trên vùng đất đầy nắng và gió.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn