Quay lại
Tháp Pô Klong Garai, biểu tượng di sản của văn hóa Chămpa

Tháp Pô Klong Garai, biểu tượng di sản của văn hóa Chămpa

Giữa cái nắng như đổ lửa và cái gió khô hanh đặc trưng của vùng đất duyên hải Nam Trung Bộ, trên ngọn đồi Trầu (Phan Rang), quần thể tháp Pô Klong Garai sừng sững hiện ra như một dấu son của lịch sử.

Tháp Pô Klong Garai – Biểu tượng di sản của văn hóa Chămpa.

Dẫu thời gian có trôi qua bao thế kỷ và bản đồ hành chính có nhiều thay đổi theo thăng trầm lịch sử, tháp Pô Klong Garai vẫn luôn là một "viên ngọc quý" trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam. Đây không chỉ là một công trình kiến trúc, mà còn là linh hồn, điểm kết nối linh thiêng giữa quá khứ hào hùng và tương lai bền vững.

Đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc Chămpa

Tháp Pô Klong Garai được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV. Khác với nhiều vị Vua khác được thờ phụng vì quyền uy, Vua Pô Klong Garai trong tâm thức người Chăm là một vị thần nông nghiệp, một vị anh hùng có công lớn trong việc trị thủy, đắp đập, dẫn nước vào đồng ruộng, mang lại cuộc sống ấm no cho nhân dân.

Quần thể tháp Pô Klong Garai bao gồm ba ngôi tháp chính: Tháp Cổng (Kalan), Tháp Lửa (Tháp Yên Ngựa) và Tháp Chính. Đây được coi là cụm tháp đẹp nhất, hùng vĩ nhất và còn nguyên vẹn nhất trong các hệ thống tháp Chăm tại Việt Nam hiện nay.

thap1.jpg
Du khách tham quan Tháp Pô Klong Garai.
thap6.jpg
thap11.jpg

Nhìn từ xa, tháp Pô Klong Garai như một đóa hoa rực rỡ nảy mầm từ lòng đất đá khô cằn. Chất liệu làm nên tháp là những viên gạch nung đỏ rực, được gắn kết với nhau bằng một loại chất phụ gia huyền thoại mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa hoàn toàn giải mã được. Không có mạch vữa lộ liễu, các viên gạch khít khao đến lạ kỳ, tạo nên một khối thống nhất bền bỉ qua hàng nghìn năm mưa nắng.

Tháp Chính là tâm điểm của quần thể, cao hơn 20 m, thiết kế nhiều tầng thu nhỏ dần về phía đỉnh. Trên các mặt tường, những họa tiết trang trí hình hoa lá, hình người, hình thú được chạm khắc vô cùng tinh xảo. Cửa chính của tháp quay về hướng Đông, phía trên vòm cửa là phù điêu thần Shiva đang múa. Bên trong tháp thờ biểu tượng Linga-Yoni, nhưng đặc biệt hơn cả là bức tượng vua Pô Klong Garai được tạc trực tiếp trên Linga (Mukhalinga), thể hiện sự hòa quyện giữa thần quyền và vương quyền.

Tháp Lửa với mái hình yên ngựa đặc trưng, nơi xưa kia dùng để tế lễ hoặc để đồ cúng tế, mang vẻ đẹp thanh thoát với những đường cong mềm mại trên nóc tháp. Tháp Cổng lại đóng vai trò như lời chào đón thành kính của con người trước khi bước vào không gian linh thiêng của thánh thần.

thap12.jpg
Đồng bào Chăm mang lễ vật cúng tế tại Tháp Pô Klong Garai.
thap13.jpg
thap8.jpg

Sức sống của một di sản

Trong dòng chảy lịch sử, vùng đất Panduranga xưa và Kauthara (Khánh Hòa) luôn có sự liên kết chặt chẽ về văn hóa và tâm linh. Pô Klong Garai mang tầm ảnh hưởng lớn và giá trị di sản của nó lan tỏa khắp dải đất miền Trung. Sự chuyển dịch hay sự giao thoa trong cách gọi tên, trong sự gắn kết cộng đồng chính là minh chứng cho một vùng văn hóa Champa rực rỡ không có biên giới ngăn cách.

Tháp Pô Klong Garai là di sản quốc gia đặc biệt, là sợi dây thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc Kinh - Chăm - Raglai trên khắp dải đất duyên hải. Khác với nhiều di tích chỉ còn là phế tích hay bảo tàng trưng bày, Pô Klong Garai là một "di sản sống". Hàng năm, đây là nơi diễn ra lễ hội Katê, lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất của đồng bào Chăm theo đạo Bà-la-môn.

Vào tháng 7 lịch Chăm (khoảng tháng 10 dương lịch), hàng ngàn người dân từ khắp nơi đổ về đồi Trầu. Tiếng kèn Saranai réo rắt, tiếng trống Ghi-năng bập bùng hòa cùng những điệu múa uyển chuyển của các thiếu nữ Chăm trong trang phục truyền thống rực rỡ. Lễ hội không chỉ là dịp để tạ ơn thần linh, tổ tiên mà còn là không gian văn hóa đặc sắc thu hút du khách trong và ngoài nước. Tại đây, quá khứ không hề xa xôi mà hiện hữu trong từng lời khấn nguyện, từng nụ cười và ánh mắt của người dân bản địa.

thap2.jpg
thap3.jpg
thap5.jpg
thap9.jpg

Tháp Pô Klong Garai đứng đó, giữa nắng và gió, như một nhân chứng lịch sử kiên trung. Trong bối cảnh hiện đại, việc bảo tồn và phát huy giá trị của tháp không chỉ dừng lại ở việc trùng tu, giữ gìn những viên gạch cũ, mà người dân nơi đây đang biến di sản này thành động lực phát triển du lịch bền vững.

Sự kết nối giữa tháp Pô Klong Garai với các làng nghề truyền thống như gốm Bàu Trúc, dệt Mỹ Nghiệp tạo nên một chuỗi giá trị văn hóa, kinh tế đặc sắc. Du khách đến đây không chỉ để chiêm ngưỡng kiến trúc, mà còn để trải nghiệm lối sống, tâm hồn của một dân tộc giàu truyền thống.

Trong tương lai, với sự phát triển của công nghệ và nhận thức về di sản, tháp Pô Klong Garai sẽ tiếp tục được số hóa, quảng bá rộng rãi hơn ra thế giới. Tuy nhiên, giá trị cốt lõi nhất vẫn là sự trân trọng của con người. Như lời một cao niên người Chăm từng nói: "Chừng nào tháp còn đứng đó, linh hồn của dân tộc vẫn còn hơi thở".

Tháp Pô Klong Garai mãi mãi là một viên ngọc quý, là điểm kết nối giữa quá khứ hào hùng và tương lai bền vững mãi mãi là biểu tượng bất diệt của vẻ đẹp kiến trúc và tâm hồn con người trên vùng đất đầy nắng và gió.

Dân tộc Chăm

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh ThuậnBình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.

Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Vào dịp lễ Ramưwan, nam nữ người Chăm thường khoác lên mình trang phục truyền thống với nhiều sắc màu thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng người Chăm. Ảnh Nguyễn Thanh

: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ. 

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà. 

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo. 

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp. 

Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh.jpg
Thiếu nữ Chăm biểu diễn điệu múa truyền thống trong lễ hội Katê. Ảnh Nguyễn Thanh

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.  

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chăm

Có thể bạn quan tâm

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Quảng Ngãi: Mảng xanh hậu cần của Bộ đội Biên phòng trên đảo Lý Sơn

Trên đảo tiền tiêu Lý Sơn (đặc khu Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), do điều kiện đất đai khô cằn, nguồn nước ngọt hạn chế nên việc tăng gia sản xuất luôn được cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Lý Sơn duy trì thường xuyên. Những luống rau xanh không chỉ góp phần cải thiện bữa ăn, nâng cao đời sống bộ đội mà còn thể hiện tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, bám trụ nơi tuyến đầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. 

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Lũ dữ quét qua Mường Than khiến nhiều gia đình phải trắng tay, hơn 1.000 người dân phải đi tránh lũ. Việc bố trí ăn ở, sinh hoạt tạm thời được tỉnh Lai Châu và chính quyền địa phương thực hiện chu đáo dù số lượng bà con tránh lũ rất lớn.

Khắc phục tuyến đường xuống cấp, mở cơ hội phát triển vùng cao

Khắc phục tuyến đường xuống cấp, mở cơ hội phát triển vùng cao

Sau nhiều năm khai thác, tuyến đường Trà Thanh - Trà Phong, xã Thanh Bồng (Quảng Ngãi) đã xuống cấp nghiêm trọng. Tình trạng này không chỉ gây khó khăn cho việc đi lại, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn ảnh hưởng đến vận chuyển nông sản, giao thương hàng hóa và việc đưa các dịch vụ công đến người dân vùng cao.

'Vườn ươm' tài năng cho tương lai bền vững của vùng biên

'Vườn ươm' tài năng cho tương lai bền vững của vùng biên

Sau hơn 8 tháng thi công xây dựng 3 trường học trên địa bàn các xã vùng biên giới Giang Thành, Vĩnh Gia và Khánh Bình thuộc tỉnh An Giang, đến nay, các trường này đã sẵn sàng vang tiếng trống khai trường, đón năm học mới 2026 - 2027.

Ưu tiên ổn định chỗ ăn ở cho bà con nơi tâm lũ Mường Than

Ưu tiên ổn định chỗ ăn ở cho bà con nơi tâm lũ Mường Than

Lũ dữ quét qua Mường Than khiến nhiều gia đình phải trắng tay, hơn 1.000 người dân phải đi tránh lũ. Việc bố trí ăn ở, sinh hoạt tạm thời được tỉnh Lai Châu và chính quyền địa phương thực hiện chu đáo dù số lượng bà con tránh lũ rất lớn.

Chung sức xây trường, chắp cánh ước mơ nơi biên cương

Chung sức xây trường, chắp cánh ước mơ nơi biên cương

Những ngày giữa tháng 7, trên công trường xây dựng Điểm trường mầm non Cốc Pàng, xã Cốc Pàng (tỉnh Cao Bằng) luôn khẩn trương bởi tiếng máy trộn bê tông, tiếng cắt sắt thép xen lẫn tiếng cười nói của những công nhân và những người lính biên phòng. Từng bao xi măng, từng viên gạch được chuyền tay nhau, với mục tiêu chung tay hoàn thành ngôi trường mới vào dịp khai giảng năm học 2026-2027.

Đặt mục tiêu 100% cán bộ cơ sở được đào tạo đạt chuẩn chuyên môn

Đặt mục tiêu 100% cán bộ cơ sở được đào tạo đạt chuẩn chuyên môn

Tỉnh Tây Ninh xác định xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số có chất lượng, năng lực và uy tín là nhiệm vụ quan trọng trong công tác dân tộc và phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp để từng bước xây dựng đội ngũ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là tại địa bàn cơ sở, vùng biên giới.

Mường Than (Lai Châu) tan hoang sau lũ quét, sạt lở đất

Mường Than (Lai Châu) tan hoang sau lũ quét, sạt lở đất

Tính đến ngày 20/7/2026, mưa lớn kéo dài trên địa bàn tỉnh Lai Châu đã gây lũ quét và sạt lở đất nghiêm trọng, trong đó xã Mường Than là địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất. Đến thời điểm hiện tại, thiên tai đã làm 5 người tử vong, 4 người mất tích và 9 người bị thương.

Viết tiếp câu chuyện tương lai giữa đại ngàn Pù Mát

Viết tiếp câu chuyện tương lai giữa đại ngàn Pù Mát

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi thượng nguồn sông Giăng đầy nắng gió, mô hình “Đồng hành cùng ký túc xá vùng biên” của Đồn Biên phòng Môn Sơn (BĐBP Nghệ An) đã và đang trở thành “ngôi nhà thứ hai” ấm áp của những đứa trẻ Đan Lai.

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Từ ngày 15 đến ngày 18/7, mưa lớn tại Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Lào Cai đã làm 8 người chết và mất tích (5 người chết, 3 người mất tích) và 10 người bị thương. Lũ dữ đã cuốn phăng trên 255 tỷ đồng, nhiều công trình, nhà cửa bị hư hỏng, nhiều diện tích cây trồng, vật nuôi trôi theo dòng nước cuốn.

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Ngay sau khi cơn lũ đi qua, hàng loạt chuyến xe chở đầy hàng hóa cứu trợ từ khắp nơi đã nối đuôi nhau hướng về xã Mường Than, tỉnh Lai Châu. Sự sẻ chia kịp thời từ cộng đồng, doanh nghiệp và các lực lượng vũ trang đang trở thành điểm tựa vững chắc, tiếp thêm sức mạnh để đồng bào vùng tâm lũ gượng dậy sau thiên tai.

Huy động chó nghiệp vụ tìm kiếm nạn nhân mất tích

Huy động chó nghiệp vụ tìm kiếm nạn nhân mất tích

Trong điều kiện mưa không ngớt, bùn đất ngập ngang đầu gối, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu cùng lực lượng chó nghiệp vụ vẫn kiên cường bám hiện trường, chạy đua với thời gian để tìm kiếm các nạn nhân còn mất tích.

Tuyên Quang sẵn sàng ứng phó mưa lũ, sạt lở đất

Tuyên Quang sẵn sàng ứng phó mưa lũ, sạt lở đất

Ngày 19/7, trước diễn biến phức tạp của mưa lớn, nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất và ngập úng tại nhiều địa phương, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang đã chủ động triển khai các phương án, duy trì nghiêm chế độ trực, chuẩn bị lực lượng, phương tiện và vật chất, sẵn sàng cơ động ứng cứu, khắc phục hậu quả thiên tai.

Nhiều hoạt động an sinh xã hội đến với người dân vùng khó khăn

Nhiều hoạt động an sinh xã hội đến với người dân vùng khó khăn

Hướng tới kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) và hưởng ứng Chiến dịch Thanh niên tình nguyện Hè năm 2026, hàng trăm phần quà cùng nhiều hoạt động hỗ trợ an sinh xã hội đã được các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và tổ chức đoàn thể của tỉnh Gia Lai trao đến người dân và học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại làng Kol và làng Kồ, xã KDang (tỉnh Gia Lai).

Hướng về tâm lũ Mường Than

Hướng về tâm lũ Mường Than

Những ngày qua, lũ dữ đổ về xã Mường Than (Lai Châu) gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Trong hoàn cảnh khó khăn này, đồng bào lại hướng về Mường Than, hỗ trợ bà con vùng lũ vơi bớt phần nào mất mát, đau thương, vực dậy để tiếp tục ổn định cuộc sống.

Nhiều hoạt động an sinh xã hội, chăm lo đời sống người dân vùng biên giới

Nhiều hoạt động an sinh xã hội, chăm lo đời sống người dân vùng biên giới

Trong 2 ngày 17-18/7, tại xã biên giới Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương phối hợp với Tỉnh đoàn Lạng Sơn, Đồn Biên phòng cửa khẩu Chi Ma và chính quyền địa phương tổ chức Chương trình tình nguyện Kỳ nghỉ hồng năm 2026 “Chung tay dựng tương lai vùng biên, vững tay giữ biển trời quê hương” với nhiều hoạt động an sinh xã hội, chăm lo đời sống người dân vùng cao và hỗ trợ xây dựng các công trình thanh niên.

Ứng phó lũ quét, sạt lở đất - Cần xây dựng giải pháp lâu dài

Ứng phó lũ quét, sạt lở đất - Cần xây dựng giải pháp lâu dài

Thời điểm này, theo quy luật đã bước vào mùa mưa bão (thường từ tháng 6-12 hàng năm), cùng với nhiều hiện tượng thiên tai nguy hiểm xảy ra như bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn..., thì lũ quét, sạt lở đất cũng là loại hình thiên tai rất nguy hiểm, đặc biệt thường "sóng đôi" làm tăng mức độ nguy hại. Do vậy, việc nắm rõ dấu hiệu của loại hình thiên tai này, từ đó chủ động phòng tránh và xây dựng các giải pháp lâu dài là hướng đi hiệu quả để giảm thiểu thiệt hại.

Lào Cai: Mưa lớn gây sạt lở trên diện rộng, thiệt hại khoảng 7,4 tỷ đồng

Lào Cai: Mưa lớn gây sạt lở trên diện rộng, thiệt hại khoảng 7,4 tỷ đồng

Từ đêm 15/7 đến sáng 18/7/2026, mưa lớn kéo dài gây thiệt hại nặng nề về cơ sở hạ tầng, sản xuất nông nghiệp và giao thông trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Theo thống kê bước đầu, toàn tỉnh có hơn 130 ngôi nhà bị ảnh hưởng và di dời, hơn 66 ha nông nghiệp bị thiệt hại cùng nhiều tuyến giao thông bị sạt lở, ước thiệt hại khoảng 7,4 tỷ đồng.

Mường Than tang thương sau cơn lũ dữ

Mường Than tang thương sau cơn lũ dữ

Ngày 18/7/2026, trận lũ ống, lũ quét tại xã Mường Than, tỉnh Lai Châu gây nhiều thiệt hại về người và của. Mường Than tang thương cả một vùng với những ngôi nhà đổ sập ngổn ngang, cảnh những gia đình mất người thân do lũ dữ.

Khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ, cấp điện trở lại cho người dân

Khẩn trương khắc phục hậu quả mưa lũ, cấp điện trở lại cho người dân

Mưa lũ kéo dài gây sạt lở nghiêm trọng tại nhiều xã vùng cao của tỉnh Lào Cai, làm đổ cột điện trung, hạ thế và khiến 88 trạm biến áp với hơn 9.300 khách hàng bị mất điện. Trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, nhiều tuyến giao thông bị chia cắt, cán bộ, nhân viên Điện lực Lào Cai đã khẩn trương triển khai phương châm "4 tại chỗ", xuyên đêm bám hiện trường, nỗ lực khắc phục sự cố, sớm khôi phục cấp điện, góp phần ổn định đời sống nhân dân.