Thông qua các chính sách trợ cấp gạo, giao khoán bảo vệ rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp, tỉnh từng bước phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, tạo động lực để người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi tích cực tham gia giữ rừng và phát triển sinh kế.
Hỗ trợ người dân gắn bó với rừng
Đối với nhiều cộng đồng dân cư sống gần rừng, rừng không chỉ là nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn gắn bó mật thiết với đời sống, văn hóa và hoạt động sản xuất. Vì vậy, cùng với tăng cường quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng, tỉnh Tuyên Quang chú trọng thực hiện các chính sách hỗ trợ theo quy định, bảo đảm hài hòa giữa quyền lợi và trách nhiệm của người dân, tạo điều kiện để các hộ ổn định cuộc sống, chủ động tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Trong tháng 10/2026, tỉnh tổ chức cấp phát hơn 550 tấn gạo cho trên 2.900 hộ gia đình thuộc diện thụ hưởng chính sách trợ cấp gạo bảo vệ và phát triển rừng theo kế hoạch năm 2025. Chính sách góp phần hỗ trợ các hộ giảm bớt khó khăn trong sinh hoạt, khuyến khích người dân tiếp tục gắn bó với công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa phương.
Gia đình chị Lò Thị Nhung, thôn Khau Cau, xã Lâm Bình có 5 nhân khẩu thuộc diện hộ nghèo. Trong đợt hỗ trợ này, gia đình chị được nhận 210 kg gạo. Theo chị Nhung, nguồn hỗ trợ giúp gia đình giảm bớt chi phí sinh hoạt, có thêm điều kiện ổn định cuộc sống; đồng thời là động lực để các thành viên tiếp tục tham gia bảo vệ, phát triển rừng.
Cũng tại thôn Khau Cau, gia đình anh Lý Văn Liều có 4 nhân khẩu được hỗ trợ hơn 100 kg gạo. Anh Liều cho biết, thông qua công tác tuyên truyền và phối hợp với lực lượng kiểm lâm, người dân ngày càng nhận thức rõ hơn vai trò của rừng đối với nguồn nước, môi trường sinh thái và việc giảm nhẹ tác động của thiên tai. Cùng với chính sách giao khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng, khoản hỗ trợ gạo góp phần bổ sung nguồn lực cho các hộ, tạo điều kiện để người dân tiếp tục gắn bó với rừng.
Tuyên Quang hiện có hơn 858.000 ha rừng (trong đó trên 624.000 ha rừng tự nhiên), diện tích còn lại là rừng trồng; tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 62%. Đây là nguồn lực sinh thái quan trọng, tạo lợi thế để tỉnh phát triển kinh tế lâm nghiệp theo hướng bền vững, gắn bảo vệ tài nguyên rừng với nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.
Một trong những giải pháp trọng tâm được tỉnh triển khai là giao khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng dân cư, phát huy vai trò, kinh nghiệm của người dân trong gìn giữ tài nguyên tại cơ sở. Năm 2025, các Ban quản lý rừng đã thực hiện giao khoán bảo vệ trên 64.000 ha rừng cho hộ gia đình, cộng đồng dân cư ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thông qua giao khoán, người dân trực tiếp tham gia tuần tra, theo dõi diện tích rừng được giao; kịp thời phát hiện, thông tin và phối hợp với lực lượng chức năng ngăn ngừa, xử lý các hành vi xâm hại rừng. Việc gắn trách nhiệm với quyền lợi theo quy định góp phần nâng cao ý thức tự giác, phát huy tính chủ động của cộng đồng trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống.
Ông Đào Duy Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang cho biết, chính sách trợ cấp gạo có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống người dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng, nhất là các hộ còn khó khăn ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng với chính sách giao khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng, nguồn hỗ trợ góp phần bảo đảm quyền lợi của người dân, tạo thêm động lực để cộng đồng tiếp tục đồng hành trong quản lý, bảo vệ rừng.
Theo ông Đào Duy Tuấn, kết quả duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 62% của tỉnh Tuyên Quang có sự đóng góp quan trọng của cộng đồng dân cư sống gần rừng. Người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng, phối hợp với lực lượng kiểm lâm gìn giữ nguồn nước, môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau. Vì vậy, việc thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân là giải pháp quan trọng để phát huy sức mạnh cộng đồng trong bảo vệ rừng ngay từ cơ sở.
Phát triển theo hướng đa giá trị, nâng cao thu nhập
Bên cạnh các chính sách hỗ trợ trước mắt, tỉnh Tuyên Quang hướng tới tạo sinh kế lâu dài thông qua nâng cao giá trị kinh tế và các giá trị dịch vụ của rừng theo quy định của pháp luật. Định hướng này được đặt trong tổng thể Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Đề án phát triển giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Cụ thể hóa các định hướng này, Tỉnh ủy Tuyên Quang ban hành Nghị quyết số 90-NQ/TU ngày 12/5/2026 về phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. UBND tỉnh Tuyên Quang tiếp tục cụ thể hóa bằng Quyết định số 2050/QĐ-UBND ngày 13/8/2026 phê duyệt Đề án về phát triển lâm nghiệp bền vững, gắn với bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030. Các chủ trương này chú trọng nâng cao chất lượng, giá trị rừng, phát triển lâm nghiệp đa giá trị, đồng thời gắn mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng với tạo việc làm, nâng cao thu nhập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Theo định hướng đó, tỉnh Tuyên Quang tập trung phát triển rừng trồng sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng, mở rộng diện tích rừng gỗ lớn, thúc đẩy quản lý rừng bền vững và phát triển công nghiệp chế biến lâm sản. Cùng với đó, việc tăng cường liên kết giữa người trồng rừng với hợp tác xã, doanh nghiệp, hỗ trợ kỹ thuật, ứng dụng khoa học, công nghệ và kết nối thị trường được xác định là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
Đối với rừng tự nhiên, nhiệm vụ bảo vệ, gìn giữ đa dạng sinh học và nâng cao chất lượng hệ sinh thái tiếp tục được ưu tiên gắn với công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm tra, giám sát và chấp hành nghiêm pháp luật về lâm nghiệp. Việc thực hiện các chính sách trợ cấp gạo, giao khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng phải bảo đảm đúng đối tượng, đúng điều kiện, công khai, minh bạch gắn với quyền lợi hợp pháp của người dân và hiệu quả bảo vệ rừng trên thực tế.
Thực tiễn tại Tuyên Quang cho thấy, sự tham gia chủ động của người dân là nền tảng quan trọng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Khi các chính sách được thực hiện đúng, đủ, kịp thời gắn với cơ hội phát triển sản xuất, sinh kế, người dân có thêm điều kiện phát huy vai trò chủ thể, cùng chính quyền và lực lượng chức năng giữ vững diện tích rừng. Đây là cơ sở để tỉnh tiếp tục phát triển kinh tế lâm nghiệp đa giá trị, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững.