Sau sắp xếp, sáp nhập thôn, tổ dân phố, tỉnh Quảng Ngãi hiện còn 1.098 thôn, tổ dân phố, giảm 612 đơn vị so với trước sắp xếp. Đáng chú ý, nhiều thôn ở phía Tây tỉnh Quảng Ngãi được sáp nhập từ các thôn cũ có nhiều dân tộc khác nhau, tạo nên thôn mới đa dạng hơn về thành phần dân tộc; đồng thời bà con hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.
Tạo sự gắn kết giữa các dân tộc
Thôn Đăk Năng, xã Ia Chim, tỉnh Quảng Ngãi được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai thôn Ia Hội (nơi phần lớn người dân tộc Kinh sinh sống) và thôn Plei Rơ Wăk (chủ yếu là dân tộc Bahnar, nhánh Rơ Ngao). Để có được sự đồng lòng, nhất trí cao từ phía nhân dân, cấp ủy và chính quyền địa phương dành nhiều thời gian khảo sát, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân, bởi việc sáp nhập một thôn người dân tộc Kinh với một thôn dân tộc Bahnar không đơn thuần là gộp số liệu dân cư của hai thôn mà là sự hòa hợp giữa hai lối sống, hai nền văn hóa.
Ông Ka Rô Chinh, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ia Chim cho biết, sau khi hoàn thành sắp xếp 21 thôn thành 12 thôn, xã Ia Chim có 3 thôn mới được hình thành từ việc sáp nhập giữa thôn người Kinh và thôn người dân tộc thiểu số. Riêng thôn Đăk Năng, trong quá trình sáp nhập thôn Ia Hội và thôn Plei Rơ Wăk có thuận lợi là từ lâu, hai thôn đã kết nghĩa với nhau. Vì vậy, khi sáp nhập và lấy tên là thôn Đăk Năng, bà con trong hai thôn cũ đều đồng tình.
Chính quyền địa phương đã tuyên truyền để bà con hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ khi về chung một thôn. Bên cạnh đó, việc sáp nhập cũng tạo ra lợi thế về phát triển kinh tế, chia sẻ kinh nghiệm làm nông nghiệp. Qua đó, không chỉ tạo sự gắn kết lâu dài giữa hai dân tộc mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong cộng đồng dân cư mới, ông Ka Rô Chinh phân tích.
Chị Nguyễn Thị Mai, thôn Đăk Năng (thôn Ia Hội cũ) vui vẻ cho biết, việc sáp nhập chỉ là sự chính thức hóa về mặt giấy tờ cho mối quan hệ đã khăng khít từ lâu đời giữa 2 thôn Ia Hội và Plei Rơ Wăk. Thực tế, hai khu dân cư nằm sát nhau, lối sống, phong tục từ lâu cũng có sự giao thoa, học hỏi lẫn nhau. Bây giờ sáp nhập lại thành một thôn, chị Mai cũng như người dân ở thôn Ia Hội cũ hay Plei Rơ Wăk cũ đều thấy thuận lòng, vui vẻ đón nhận.
Tại xã Kon Braih, sau sắp xếp, xã còn 12 thôn so với 21 thôn trước đây; trong đó có 6 thôn được sắp xếp giữa thôn người Kinh và thôn người dân tộc thiểu số. Đơn cử là việc sáp nhập giữa thôn 8 (100% dân tộc Xơ Đăng) và thôn 13 (100% dân tộc Kinh) để thành lập thôn 4, mang lại nhiều kỳ vọng về sự thay đổi nếp nghĩ, cách làm, hướng tới cuộc sống ấm no hơn.
Anh A Huế, Trưởng thôn 4 mới cho biết, từ ngày về chung một thôn, không khí trong các buổi họp dân hay sinh hoạt cộng đồng trở nên sôi nổi hẳn lên nhờ sự góp mặt của cả hai nền văn hóa. Việc hai thôn gộp lại thành một sẽ là động lực để mọi người học hỏi kinh nghiệm làm ăn, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống.
“Khi sáp nhập, bà con Xơ Đăng sẽ học hỏi người Kinh cách làm kinh tế giỏi, áp dụng khoa học kỹ thuật, máy móc vào việc trồng trọt, chăn nuôi sao cho năng suất cao, chất lượng tốt. Ngược lại, người Kinh khi sống cùng với bà con Xơ Đăng sẽ hiểu, yêu quý và cùng gìn giữ những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Xơ Đăng”, anh A Huế nói.
Bà Lê Thị Mận, thành viên Ban Công tác Mặt trận thôn 4 khẳng định, khi tình đoàn kết giữa hai dân tộc Kinh và Xơ Đăng được vun đúc từ công cuộc sáp nhập sẽ tạo ra một sức mạnh mới, ý chí mới cùng nhau xây dựng bộ mặt nông thôn ngày càng phát triển.
“Tôi và người dân thôn 13 cũ khi chuyển sang thôn 4 mới đều có chung một mong muốn là thời gian sắp tới, đời sống của người dân cả hai bên sẽ cùng phát triển đi lên. Chúng tôi sẽ gắn kết với nhau chặt chẽ hơn trong các hoạt động phong trào, từ việc làm đường giao thông nông thôn, dọn dẹp vệ sinh xóm làng đến giúp đỡ gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Chỉ có đoàn kết, giúp nhau mọi mặt, cuộc sống mới khá lên”, bà Lê Thị Mận nhấn mạnh.
Theo bà An Thị Phương, Phó Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội xã Kon Braih, việc sáp nhập các thôn đan xen giữa hai cộng đồng dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số là bước đi mang tính chiến lược dài hạn. Mục tiêu lớn nhất của địa phương không chỉ là giảm bớt số lượng thôn mà là tạo ra môi trường sống hòa nhập, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội ở vùng sâu, vùng xa.
“Qua quá trình sinh hoạt chung, chúng tôi nhận thấy mô hình này giúp giữ gìn và phát huy rất tốt bản sắc văn hóa truyền thống của từng thôn cũ, tạo điều kiện cho các nền văn hóa giao thoa một cách tự nhiên. Quan trọng hơn, việc này giúp tăng cường mạnh mẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ ngay cấp cơ sở, tạo ra nguồn lực chung để thúc đẩy kinh tế, xã hội địa phương phát triển bền vững”, bà An Thị Phương nhấn mạnh.
Cùng giữ gìn bản sắc, xây dựng cuộc sống ấm no
Tại xã Sa Bình, việc sáp nhập thôn Khúc Na (chủ yếu là người Xơ Đăng nhánh Hà Lăng) với thôn Kà Bầy (chủ yếu là người J’Rai) thành thôn mới Khúc Na - Kà Bầy nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng của hai thôn. Hai thôn có vị trí khá gần nhau. Dù khác nhau về dân tộc song bà con ở hai thôn cũng đã có sự giao thoa văn hóa, kinh tế trong nhiều năm qua.
Ông A Ber, thôn Khúc Na cũ cho biết, khi sáp nhập hai thôn lại với nhau, bà con rất đồng tình, ủng hộ. Tuy khác nhau về dân tộc song qua nhiều năm sinh sống gần nhau đã giúp bà con hai thôn cũ gắn kết chặt chẽ với nhau. Đặc biệt, đối với âm nhạc, cả hai dân tộc đều sử dụng cồng, chiêng trong các lễ hội lớn của thôn, làng. Dù cách gọi tên bài nhạc có khác nhau song nhiều tiết tấu của bài chiêng có nét tương đồng. Chính vì vậy, ông A Ber kỳ vọng trong tương lai, hai dân tộc sẽ hòa hợp về âm nhạc và tạo ra một bài cồng, chiêng có thể sử dụng chung cho cả hai dân tộc.
Theo ông A Át, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn Khúc Na - Kà Bầy, người Hà Lăng ở thôn Khúc Na cũ và người J’Rai ở thôn Kà Bầy cũ có nhiều nét khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, thổ cẩm, âm nhạc truyền thống. Khi nghe tin sáp nhập hai thôn, ban đầu bà con trong hai thôn đều thấy bỡ ngỡ và chưa thực sự đồng tình. Tuy nhiên, qua quá trình tuyên truyền, vận động, cùng sự gắn kết với nhau nhiều năm trong làm ăn kinh tế, dần dần nhân dân trong hai thôn cũ đã hiểu và đồng lòng trong việc sáp nhập.
“Thời gian tới, thôn Khúc Na - Kà Bầy sẽ tổ chức thường xuyên các buổi họp để người dân trong thôn mới giao lưu, chia sẻ với nhau về văn hóa, phát triển kinh tế. Đồng thời phối hợp các nhà trường trên địa bàn tăng cường truyền dạy cồng chiêng, giúp thế hệ trẻ của hai dân tộc dần giao thoa văn hóa, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ hơn trong tương lai”, ông A Át nhấn mạnh.
Có thể thấy, khi các dân tộc khác nhau “về chung một nhà”, sự khác biệt về văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ, phương thức sản xuất nông nghiệp… không còn là rào cản mà đã trở thành thế mạnh và bổ trợ cho nhau. Sự hòa hợp này là nguồn lực giúp thắt chặt tình đoàn kết, tạo động lực mạnh mẽ để bà con cùng nhau phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc và xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc./.
Tên tự gọi: Gia Rai.
Tên gọi khác: Jrai, Giơ Ray, Chơ Ray.
Nhóm địa phương: Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân.
Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ hệ Malayô Pôlynêixa (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Gia Rai là một trong những cư dân sớm sinh tụ ở vùng núi Tây Nguyên, lan sang một phần đất Campuchia. Trong xã hội Gia Rai xưa đã có Pơ tao ia (vua nước) và Pơ tao pui (vua lửa) chuyên cúng trời, đất, cầu mưa thuận gió hoà... Trước thế kỷ XI người Ê Ðê, Gia Rai được gọi chung một tên là Rang Ðêy. Vào thế kỷ XV-XVI sử sách phong kiến Việt Nam ghi nhận danh hiệu Thủy Xá (vua nước), Hoả Xá (vua lửa). Chỉ có người đàn ông họ Siu mới được làm vua lửa, vua nước và con gái họ Rơ chom mới được quyền làm vợ hai vua. Có lẽ chữ Pơ tao đồng nghĩa với Mtao của người Chăm, Tạo của người Thái và Thao của người Lào, đều chỉ người thủ lĩnh.
Hoạt động sản xuất: Kinh tế trồng trọt là cái gốc của hoạt động sản xuất. Ðất đai là đối tượng tác động lao động được phân chia thành hai loại - đất chưa canh tác có tên: đê, trá, lon, vô chủ và đất canh tác gọi chung là Hma, phần sở hữu của mỗi gia đình. Hma gồm những mảnh đất trồng trọt theo cách nửa vườn, nửa rẫy; nương phát, đốt, cuốc xới đất và trọc lỗ tra hạt. Còn ruộng nước dùng cuốc xới ; sục bùn và đang chuyển sang cày, bừa dùng 2 bò kéo.
Chăn nuôi gia đình: Trâu, bò, ngựa, voi, lợn, gà, chó... Trong đó trâu là vật ngang giá trong việc trao đổi vật quý như chiêng, ché và hiến sinh trong lễ nghi tín ngưỡng. Nghề phụ gia đình có: mộc, rèn và đan lát. Những người thợ thủ công đã làm ra những chiếc gùi dùng để đựng đồ mặc, trang sức, vận chuyển. Nghề dệt với khung dệt kiểu Inđônêdiêng khá thịnh hành tạo được tấm vải khổ rộng, hoa văn đẹp.
Ăn: Gạo tẻ là lương thực chính; lương thực phụ là ngô. Thức ăn có rau, muối, ớt, canh rau, lâu lâu mới có bữa thịt, cá. Bữa cơm hàng ngày có thể cả gia đình ngồi quanh nồi cơm, bát ớt... hoặc chia thành từng phần cho mỗi người. Bữa tiệc, lấy ché rượu cần làm trung tâm, quanh đó có các món ăn đựng trên bát, đĩa hoặc lá chuối để vừa ăn, vừa uống. Khi rượu ngà say có hát, nhảy múa, đánh chiêng. Trừ trẻ thơ, mọi người bất kể nam nữ đều hút thuốc lá.
Mặc: Ðàn ông đóng khố vải trắng kẻ sọc nhiều màu (toai), ngày lễ đóng khố vải chàm dài 4 m và rộng 0,30 m, có đường viền hoa văn và buông tua chỉ nhiều màu ở hai đầu. Áo màu đen cộc tay, hở nách, đường viền hoa văn chỉ màu chạy dọc hai sườn mang đậm dấu vết kiểu pông-sô. Pơtao hoặc chủ làng mặc áo chàm che kín mông, tay dài, chui đầu, có một mảng sợi màu đỏ làm khuy và khuyết cài từ cổ đến ngực. Dưới dải cúc là miếng vải đỏ hình vuông khâu đáp vào để làm dấu hiệu là áo. Ðàn bà mặc váy chàm (dài 1,40 m x rộng 1 m), có đường viền hoa văn chạy quanh gấu. Phần cạp có tua chỉ trắng hoặc màu. Váy không khâu liền thành ống nên khi mặc chỉ cuốn vào thân để chỗ giáp hai đầu về phía trước. Họ mặc áo cánh ngắn bó sát thân, dài tay. Trên cánh tay áo có chiếc được thêu những đường vòng hoa văn chỉ màu. Nơi ở quanh năm nóng nực nên cả nam lẫn nữ ưa thích cởi trần.
Ở: Nhà sàn cho mỗi gia đình một vợ một chồng mẫu hệ. Kiến trúc có hai loại. Nhà sàn dài kiểu la-yun-pa, dài 13,5 m và rộng 3,5m là kích thước trung bình cho mỗi nhà. Nhà được phân thành hai phần: bên mang và bên óc. Cửa bên óc chỉ quay về hướng Bắc và bên óc dành cho những người đàn bà - chủ gia đình mẫu hệ. Trong nhà có hai bếp. Nhà nhỏ kiểu Hđrung với kích thước rộng 3m x dài 9m. Chiều cao từ đất lên đòn nóc không quá 4,50m. Cửa chính thông ra sàn phơi chỉ quay về hướng Bắc. Hai bên cửa chính có hai cửa sổ. Trong nhà chỉ có một bếp.
Phương tiện vận chuyển: Gùi có hai dây đeo qua vai là hình thức phổ biến. Ngoài ra có ngựa, voi để thồ và cưỡi. Voi còn dùng để kéo...
Quan hệ xã hội: Làng (Plơi hoặc Bôn) vừa là đơn vị cư trú vừa cấu kết thành tổ chức xã hội, có một hội đồng gồm những ông già chủ trì chung (Phun pơ bút). Hội đồng chọn người đứng đầu làng (Ơi pơ thun, Thap lơi hay Khoa plơi), có lệ làng gọi là Kđi. Xã hội Gia Rai truyền thống có hình thức cố kết vùng gọi là Tơ ring. Người đứng đầu Tơ ring là Khoa Tơ ring, giúp việc xét xử có Po phắt kđi và Thao kđi. Tơ ring là cộng đồng lãnh thổ, khi có chiến tranh trở thành liên minh quân sự.
Dòng họ theo chế độ mẫu hệ nên phả hệ hoàn toàn tính về dòng mẹ. Khối cộng đồng máu mủ được tập hợp thành từng họ - Kơ nung hoặc Ðgioai. Mỗi họ thường được phân chia nhiều ngành hoặc phân đôi, thành họ khác. Mỗi họ, mỗi ngành kiêng một tô tem riêng. Gia đình nhỏ mẫu hệ là nét nổi bật của người Gia Rai khác với trường hợp người Ê Ðê là đại gia đình mẫu hệ.
Cưới xin: Luật tục nghiêm cấm những người cùng ngành họ và dòng mẹ lấy nhau. Tuổi từ 18-19 nam nữ tự do lựa chọn người yêu, trong đó nữ chủ động lựa chọn lấy chồng. Phong tục giản đơn, không mang tính chất mua bán và do nhà gái chủ động. Bảo lưu tục chồng chết, vợ lấy em chồng và ngược lại vợ chết, chồng có thể lấy chị vợ. Khi đã thành vợ thành chồng thì đàn ông phải sang nhà vợ, không có trường hợp ngược lại.
Sinh đẻ: Bà mẹ được coi trọng. Khi mang thai họ không được làm việc nặng nhọc. Họ rất lo sợ đẻ khó và chết vì sinh nở. Khi sinh nở sản phụ phải kiêng khem nhiều thứ như không ăn cơm nấu mà chỉ dùng cơm lam, không ăn thịt mà chỉ ăn rau...
Ma chay: Người Gia Rai theo tục tất cả người cùng họ mẹ chôn chung một huyệt. Người đàn ông chết phải khiêng về chôn ở huyệt phía mẹ mình. Trong huyệt chung ấy, các quan tài được xếp kề sát bên nhau theo chiều ngang rồi chồng lên theo chiều dọc. Khi quan tài cao bằng miệng huyệt thì lấy ván kê bốn bề để chôn tiếp vài ba lớp nữa mới làm lễ "bỏ mả" (Họa lui, Thi nga hay Bó thi) - một nghi thức lớn trong quá trình tang lễ.
Nhà mới: Việc làm nhà mới bắt đầu bằng nghi thức bói tìm đất. Bà chủ đem 7 hạt gạo đặt trên đất rồi lấy cái bát úp lên để bói tìm sự linh ứng của thần đất. Sau 3 ngày, 3 đêm đi lật bát lên xem nếu hạt gạo còn nguyên là thuận. Ngược lại, mất hạt nào thì phải đi phải đi bói tìm chỗ khác. Ðặt hạt gạo để bói xong tổ chức ăn uống, hò reo, múa chiêng 3 ngày. Dựng nhà xong lại mở hội nhà mới 3 hôm nữa mới kết thúc.
Thờ cúng: Người Gia Rai theo vạn vật hữu linh. Thần linh (Yang) có nhiều loại, trong đó có ba loại nổi bật được nhắc đến trong lễ cúng hàng năm hay nhiều năm một lần:
Thần nhà (Yang sang) lực lượng bảo vệ nhà cửa được cúng trong nhà. Khi nhà mới dựng thì phải tiến hành nghi thức lễ đâm trâu và trồng cây gạo.
Thần làng (yang ala bôn) và thần nước (yang ia) là lực lượng bảo vệ làng xóm và cuộc sống của mọi thành viên được cúng ở bến nước và chân núi.
Thần vua (Yang pó tao) do vua lửa, vua nước, vua gió (ptao agin) tiến hành lễ cầu trời, mưa thuận, gió hoà và mùa màng tươi tốt.
Ngoài ra, người Gia Rai còn tin khi chết các linh hồn biến thành ma. Có hiện tượng gán cho người có ma thuật làm hại gọi là ma lai.
Lễ tết: Xưa nam nữ đến tuổi thành niên có tục cưa răng hàm trên. Việc này do ông già Pô khoa tkơi thực hiện bằng cách lấy liềm cắt hoặc dùng một viên đá ráp chà xát vào hàm răng trên, ở ven suối. Cầm máu răng bằng lá thuốc (Tkoi am). Nữ 1-2 tuổi xâu lỗ tai, sau đó lấy bấc cây căng dần tai ra để đến khi trưởng thành thì đeo hoa tai bằng ngà voi có đường kính đến 6 cm. Nam giới không căng tai mà chỉ đục lỗ để đeo khuyên.
Lễ nghi lớn nhất là lễ bỏ mả, tạc tượng mồ, lễ lên nhà mới, có ăn, uống, hát, biểu diễn cồng chiêng.
Lịch: Tháng giêng được tính từ ngày có trận mưa đầu tiên tương đương với tháng 4 dương lịch. Tháng 12 lịch Gia Rai (tháng 3 dương lịch) gọi là Blanning, nghỉ ngơi lao động và làm các lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng.
Học: Người Gia Rai đã có bộ chữ theo mẫu tự La-tinh. Giống như tất cả các dân tộc khác, hiện nay học sinh đều học tiếng và chữ phổ thông.
Văn nghệ: Người Gia Rai có nhiều trường ca như Ðăm San, Xinh Nhã, Ðăm Di... thể hiện dưới hình thức hát thơ có đệm đàn Tưng nưng. Những điệu vũ dân gian Gia Rai có một số động tác mô phỏng những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Ðàn Tơ rưng, Krông put, Tưng nưng ... rất được phổ biến.
Chơi: Thanh niên thích chơi kéo co trong ngày lễ.
Theo cema.gov.vn
Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.
Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.
Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.
Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.
Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.
Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.
Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.
Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.
Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.
Ở: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.
Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.
Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.
Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.
Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.
Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.
Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.
Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...
Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.
Theo cema.gov.vn