Ngay từ sáng sớm ngày 17/10, đông đảo người dân và du khách đã đổ về trung tâm bản Thẳm để tham dự các hoạt động trong khuôn khổ Ngày hội Sắc màu văn hóa dân tộc Lự xã Khun Há (Lai Châu) năm 2026. Giữa không gian bản làng yên bình, những bộ trang phục truyền thống rực rỡ cùng các nghi lễ, trình diễn nghề thủ công truyền thống và các môn thể thao dân tộc, các trò chơi dân gian đã tạo nên bức tranh văn hóa sinh động, đậm đà bản sắc của đồng bào dân tộc Lự.
Điểm nhấn của ngày hội là hoạt động tái hiện lễ cúng hồn trâu (Sú khon khoài) – một nghi lễ nông nghiệp tiêu biểu, thể hiện quan niệm tâm linh và lòng biết ơn của người Lự đối với loài vật bốn chân gắn bó mật thiết với đời sống lao động sản xuất nông nghiệp.
Theo quan niệm truyền thống của đồng bào Lự, vạn vật đều có linh hồn và chịu sự chi phối của những lực lượng siêu nhiên. Trong quá trình canh tác, con trâu không chỉ là tài sản quý giá mà còn là người bạn đồng hành cùng con người vượt qua nhọc nhằn, góp sức làm nên những mùa vụ no đủ. Vì vậy, sau khi kết thúc mùa màng, người Lự tổ chức lễ Sú khon khoài để tạ ơn, cầu mong sức khỏe, bình an, gia súc sinh sôi, mùa màng tươi tốt, cuộc sống ngày càng sung túc.
Việc tái hiện nghi lễ tại ngày hội không đơn thuần là một hoạt động trình diễn văn hóa mà còn góp phần giúp thế hệ trẻ và du khách hiểu hơn về thế giới quan, tín ngưỡng cũng như mối quan hệ gắn bó giữa con người với thiên nhiên trong đời sống của đồng bào Lự.
Anh Nguyễn Văn Minh (du khách từ Hà Nội) chia sẻ, đây là lần đầu tiên anh đến bản Thẳm. Cảnh quan ở đây rất đẹp, người dân thân thiện, đặc biệt vẫn giữ được những bộ trang phục truyền thống độc đáo. Được tận mắt chứng kiến lễ cúng hồn trâu, anh hiểu thêm những nét văn hóa riêng có của đồng bào, được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Sau lễ cúng hồn trâu, không gian ngày hội tiếp tục sôi động với các hoạt động trình diễn tục nhuộm răng đen, thi kéo sợi, trình diễn dệt thổ cẩm và thi đan lát các sản phẩm phục vụ cuộc sống sinh hoạt đời thường của dân tộc Lự.
Chị Hoàng Thu Thảo (du khách từ Hưng Yên) cho biết, đây là lần đầu tiên chị đến với ngày hội của đồng bào dân tộc Lự. Chị rất ấn tượng với cuộc sống thanh bình, sự thân thiện của người dân và những nét văn hóa truyền thống được gìn giữ. Được xem các bà, các chị nhuộm răng đen, dệt vải và chứng kiến những người đàn ông đan lát các vật dụng sinh hoạt, chị cảm nhận rõ sự khéo léo, tinh tế trong đời sống của đồng bào Lự.
Tại ngày hội, du khách còn được hòa mình vào những hoạt động mang đậm hơi thở cuộc sống vùng cao như thi bắt cá suối, giã gạo, ẩm thực cùng nhiều trò chơi dân gian như tù lu, kéo co, đi cà kheo, bắn nỏ, chinh phục cầu tre, bịt mắt bắt vịt…
Phó Chủ tịch UBND xã Khun Há Tống Văn Đức cho biết, địa phương xác định bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Lự là nhiệm vụ quan trọng, vừa góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp, vừa tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Cùng với đó, xã chú trọng duy trì các lễ hội, nghi lễ truyền thống gắn với đời sống cộng đồng; phát huy vai trò của các bản, câu lạc bộ văn nghệ và người có uy tín trong việc gìn giữ, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch cộng đồng để tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương.
Theo chương trình, lễ khai mạc ngày hội sắc màu văn hóa dân tộc Lữ diễn ra vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 17/10, với các tiết mục văn nghệ đặc sắc do nghệ nhân và đồng bào dân tộc Lự ở bản Thẳm biểu diễn. Chương trình sẽ giới thiệu những làn điệu dân ca, dân vũ, điệu múa và nét sinh hoạt văn hóa truyền thống trong cuộc sống sinh hoạt đời thường của cộng đồng dân tộc Lự ở Lai Châu.
Tên tự gọi: Lừ, Thay hoặc Thay Lừ.
Tên gọi khác: Phù Lừ, Nhuồn, Duồn.
Nhóm địa phương: Ở Việt Nam chỉ có nhóm Lự Ðen (Lừ Ðăm) ở xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu), phân biệt nhóm Lự Trắng (Lừ Khao) ở Síp Song Păn Na (Trung Quốc).
Dân số: 5.601 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Lự đã có mặt ở khu vực Xam Mứn (Ðiện Biên) ít nhất cũng trước thế kỷ XI - XII. Tại đây họ đã xây thành Xam Mứn (Tam Vạn) và khai khẩn nhiều ruộng đồng. Vào thế kỷ chiến tranh người Lự phải phân tán đi khắp nơi, một bộ phận nhỏ chạy lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ, Sìn Hồ.
Hoạt động sản xuất: Người Lự sáng tạo ra hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thuỷ nhập điền. Ruộng trồng lúa nếp theo kỹ thuật cấy mạ hai lần. Có nơi đã biết dùng phân xanh, rác rưởi và phân chuồng để bón ruộng. Họ làm nương phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày do tiếp thu từ người Mông. Nghề dệt phát triển. Dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa văn đẹp. Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng. Hái lượm, săn bắt, đặc biệt đánh cá ở suối là hoạt động thường xuyên.
Ăn: Người Lự ăn xôi, ưa thích các món chế biến từ cá, trong đó có món nộm chua với thịt cá tươi. Lợn, trâu, bò chỉ mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán.
Mặc: Nữ mặc áo chàm, xẻ ngực. Váy nữ bằng vải chàm đen, có thêu dệt thành hai phần trang trí, dễ cảm giác như váy có hai tầng ghép lại. Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc. Ðầu đội khăn cuốn nghiêng về phía trái, để lộ mặt trước với những đường gấp viền thêu hoa văn bổ dọc. Nhuộm răng đen. Ðeo vòng tay bằng bạc, bằng đồng.
Nam mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen. Ðàn ông thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là tập quán trang trí.
Ở: Người Lự cư trú ở các huyện Phong Thổ, Sìn Hồ, Ðiện Biên (Lai Châu). Nhà sàn 4 mái, mái kéo dài che làm hiên sàn nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm ra vải. Trong nhà có chăn, đệm, màn, rèm; bếp ở giữa nhà.
Phương tiện vận chuyển: Gùi, trâu kéo, ngựa thồ.
Quan hệ xã hội: Quan hệ láng giềng là chủ đạo. Họ theo tập quán tương trợ giữa các gia đình trong lao động sản xuất, khi làm nhà mới, cưới xin ma chay.
Hai họ - Pu Da (nội) và Ta Nai (ngoại) là quan trọng nhất.
Cưới xin: Người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều với câu tục ngữ "dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ". Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục ở rể 3 năm sau đó về làm dâu 2 năm thì đôi vợ chồng được phép ra ở riêng để thành đơn vị gia đình hạt nhân sống trong nếp nhà sàn riêng của mình. Có ba bước cưới xin:
+ "Ăn giáp tối": lễ nhập phòng.
+ "Ăn mới": tổ chức ăn uống và nhà trai dâng lễ vật cho nhà gái trong đó phải có một thanh gươm.
+ "Ðón dâu".
Sinh đẻ: Khi đầy tháng nhờ ông máy đem bút vót bằng cây guột và một mảnh vải trắng đĩa mực tàu đến bói và tìm tên cho trẻ nhỏ. Ðặt trứng gà lên bát gạo, ông máy gieo hạt gạo lên trông trứng xem chẵn, lẻ. Nếu ứng đúng như ông xướng thì lấy tên đó đặt cho trẻ và ghi tên vào mảnh vải rồi trao lại cho bố mẹ giữ lấy làm khai sinh. Nữ thường có tên là Kẻo (Ngọc) và nam là Khăm (Vàng)...
Ma chay: Khi có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang. Mổ một trâu đen (không trắng) để cúng tiễn hồn về cõi hư vô. Quàn thi thể ở nhà 3 ngày rồi thuê 8 người ngoài họ để khiêng ra rừng ma. Chôn không đắp thành mồ. Những người đi đưa đám trước khi lên nhà phải tắm rửa sạch sẽ. Bà con gần gũi thuộc họ nội của người chết phải kiêng 3 ngày không lao động sản xuất.
Nhà mới: Kiêng không làm lễ lên nhà mới vào giữa trưa. Sau khi quét sạch nhà, mời 4 cụ già ngoài họ đến uống rượu quanh một cái chậu có 4 chén rượu đặt ở giữa nhà. Một chàng trai trẻ đến bên cửa ra vào, ngồi xổm và cất tiếng xin mua nhà, các cụ đang uống rượu đáp: "chủ nhà sắp đến nhận rồi". Vợ chồng chủ nhà đã đứng sẵn ở chân cầu thang. Chồng mang một cái chài trên vai, vợ gánh một bên là kiềng và một bên là chõ xôi; chồng trước, vợ theo sau leo lên cầu thang, đặt đồ vào nhà. Tiếp theo, hai thiếu nữ thắp hai bó đuốc bước lên nhà. Một cô khác ở đầu cầu thang cầm ống nước để dập tắt lửa cháy ở bó đuốc đi đầu. Người thứ hai, cầm bó đuốc vẫn cháy sáng, đưa đến nhóm lửa ở bếp. Ngọn lửa phải giữ cho cháy suốt 3 ngày 3 đêm. Chủ nhà làm lễ thờ tổ tiên bằng cỗ đầu lợn. Dân bản được mời ăn cỗ uống rượu, mọi người vui hát theo điệu sáo đôi.
Thờ cúng: Người Lự thờ cúng tổ tiên ở gian "hóng" trong nhà, mỗi năm một lần vào tháng giêng theo lịch Lự, tương đương với tháng 10 âm lịch; thắp thêm 10 ngọn nến sáp ong ở quanh mâm cỗ. Ông "chủ đầu" (chảu hô) đọc bài cúng. Vào tháng giêng có lễ cúng bản gọi là "kiêng bản" (căm bản) với mâm cỗ 3 yến lợn đều cúng dựng ở đầu bản và cạnh sông, suối. Vào tháng 3 mồng 3 có lễ cúng ở khu "rừng thiêng" (đóng căm) với mâm cỗ 3 yến lợn và cũng như thế, tháng 6 mồng 6 với mâm cỗ 6 yến lợn. Sau khi "chủ đầu" làm lễ xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi và kiêng nội bất xuất, ngoại bất nhập từ 3 đến 9 ngày gọi chung là "kiêng bản kiêng mường".
Lễ tết: Cách đương đại 3 thế hệ về trước, khoảng 60-70 năm, người Lự còn thực hiện những nghi lễ Phật giáo gọi là bun như: lễ mừng năm mới (bun pi mày) vào tháng giêng; lễ té nước (bun huất nặm) vào tháng11, tháng 12 và lễ thả ống pháo sáng (bun bẳng phay) vào tháng 2, 3 theo âm lịch Lự.
Lịch: Có lịch riêng - tháng giêng là tháng10 âm lịch.
Học: Người Lự có sử dụng chữ theo mẫu tự Pali. Người ta lấy gai hoặc que sắt nhọn làm bút viết trên lá cọ rừng ghi nhiều loại truyện thần thoại, cổ tích. Cũng có thể vỏ cây guột khô, vót nhọn, chấm mực tàu viết trên miếng vải trắng. Xưa kia, trẻ 7-8 tuổi có tập quán đến học chữ của ông "chẩu hua" (sư).
Văn nghệ: Hát Lự (Khắp Lử) là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Theo lối hát này (ỉn khống). Xưa, vào lúc màn đêm buông xuống, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói trải giữa sân say sưa hát, thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm.
Chơi: Người Lự có các trò chơi kéo co, ném én. Nam thanh niên thích múa gươm.
Theo cema.gov.vn