Dự kiến diễn ra ngày 16 và 17/10 tại thôn Cốc Cai, lễ hội tạo dịp để địa phương giới thiệu một nét văn hóa gắn với sản xuất nông nghiệp, đồng thời mở thêm hướng khai thác du lịch từ những sinh hoạt quen thuộc của người dân.
Đưa du khách đến gần đời sống bản làng
Sức hấp dẫn của Tết cá ở Mậu Duệ bắt đầu từ sự gắn bó giữa người Tày với đất và nước. Trong quá trình canh tác, bà con tận dụng môi trường ruộng lúa để nuôi cá. Cây lúa và con cá cùng hiện diện trong một không gian sản xuất, góp phần cung cấp lương thực, thực phẩm cho gia đình. Đến mùa thu hoạch, việc bắt cá và chế biến các món ăn trở thành một phần trong nhịp sinh hoạt của bản làng. Từ nền tảng ấy, Tết cá được gìn giữ như dịp tưởng nhớ tổ tiên, sum họp gia đình và gửi gắm mong ước mùa màng thuận lợi.
Tổ chức lễ hội gắn với tập quán này, Mậu Duệ có điều kiện giới thiệu văn hóa người Tày ngay trong không gian đã nuôi dưỡng phong tục. Theo chương trình, bên cạnh địa điểm tổ chức tại thôn Cốc Cai, các hoạt động sẽ diễn ra tại hồ cầu Long Lương và khu ruộng Nà Mường. Những địa điểm gắn với sinh hoạt, sản xuất của người dân trở thành nơi giao lưu, giúp khách đến địa phương có thêm cơ hội tìm hiểu mối liên hệ giữa tập quán lao động và đời sống văn hóa.
Hoạt động thi câu cá tại hồ cầu Long Lương tạo điểm hẹn cho người yêu thích câu cá. Tại khu ruộng Nà Mường, các phần thi bò đẹp, đua cá và bắt cá ruộng bằng tay mang đến nhiều hình thức tham gia khác nhau. Trong đó, bắt cá bằng tay là trải nghiệm có khả năng kết nối trực tiếp người dân với du khách. Người tham gia bước xuống ruộng, tìm cá trong bùn nước, làm quen với một công việc vốn gần gũi với cư dân nông nghiệp nhưng có thể còn xa lạ với nhiều người đến từ đô thị.
Giá trị của trải nghiệm ấy còn nằm ở cơ hội hiểu thêm về người làm ra sản phẩm. Một con cá trong bữa ăn được nhìn từ quá trình chăm sóc ruộng đồng, giữ nguồn nước và thu hoạch. Những kiến thức, kỹ năng bà con tích lũy trong lao động có thể được chia sẻ qua từng hoạt động cụ thể. Nhờ vậy, câu chuyện về văn hóa địa phương có thêm cách tiếp cận sinh động, dễ hiểu, nhất là với người trẻ.
Ẩm thực cũng được bố trí thành một nội dung của lễ hội thông qua phần thi chế biến món ăn truyền thống và chợ đêm Tết cá vào tối 16/10. Những món ăn từ cá gắn với tập quán của người Tày được giới thiệu cùng nông sản, sản phẩm đặc trưng địa phương. Du khách có thể tìm hiểu hương vị, cách chế biến và vị trí của món ăn trong sinh hoạt gia đình, qua đó nhận biết những nét riêng của văn hóa ẩm thực Mậu Duệ.
Cùng với hoạt động trên ruộng và bên hồ, trình diễn trang phục dân tộc, văn nghệ dân gian, các gian hàng sản vật góp phần tạo nên chương trình có nhiều điểm tiếp cận. Người quan tâm đến phong tục có thể tìm hiểu Tết cá; người yêu thích ẩm thực có thể khám phá món ăn; những gia đình đến tham quan có thêm lựa chọn giao lưu, trải nghiệm. Sự kết hợp này giúp ngày hội giới thiệu đời sống địa phương từ nhiều phương diện, thay vì chỉ tập trung vào một hoạt động biểu diễn.
Đối với người dân, lễ hội là dịp đưa những sản phẩm và kỹ năng quen thuộc đến với khách tham quan. Món ăn được làm trong gia đình, trang phục được gìn giữ qua các thế hệ hay kinh nghiệm bắt cá đều có thể trở thành nội dung để giới thiệu. Khi những giá trị ấy được nhận biết, người dân có thêm động lực duy trì phong tục và chia sẻ hiểu biết của mình với cộng đồng.
Tạo thêm giá trị từ văn hóa bản địa
Phần thi đua cá tạo không khí sôi nổi tại Lễ hội Tết cá người Tày xã Mậu Duệ.
Theo ông Nguyễn Song Toàn, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Mậu Duệ, địa phương tổ chức Lễ hội Tết cá nhằm tôn vinh văn hóa truyền thống của đồng bào Tày, tạo điều kiện để các thế hệ cùng tham gia, hiểu hơn phong tục của dân tộc. Lễ hội cũng là dịp quảng bá cảnh quan, con người, sản vật của Mậu Duệ, từng bước hình thành những hoạt động trải nghiệm gắn với đời sống cộng đồng.
Định hướng này đặt người dân vào vị trí trực tiếp làm nên nội dung của ngày hội. Theo ông Nguyễn Song Toàn, từ món ăn, sản vật giới thiệu tại chợ đêm đến các phần thi ẩm thực, trang phục, bắt cá đều bắt nguồn từ sinh hoạt của bà con. Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố giúp lễ hội duy trì sức sống và tiếp nối văn hóa truyền thống. Địa phương mong muốn khách đến dự hội hiểu thêm phong tục, đời sống và sự gắn bó của người Tày với quê hương, đồng thời mở thêm cơ hội sinh kế thông qua quảng bá nông sản, ẩm thực và du lịch trải nghiệm.
Với cách tiếp cận ấy, phát triển du lịch bắt đầu từ việc nhận diện những giá trị sẵn có. Ruộng lúa, hồ nước, món ăn và trang phục trở thành những nội dung có thể kết nối trong hành trình tìm hiểu địa phương. Mỗi hoạt động cần có câu chuyện để người tham gia hiểu được ý nghĩa: Vì sao người dân nuôi cá trong ruộng, Tết cá có vị trí như thế nào trong đời sống gia đình, những sản vật mang đến ngày hội được làm ra từ đâu. Chính những thông tin cụ thể ấy giúp trải nghiệm có chiều sâu và tạo dấu ấn riêng cho điểm đến.
Các gian hàng nông sản, sản phẩm đặc trưng cũng mở ra cơ hội tiếp xúc trực tiếp giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Qua việc giới thiệu sản phẩm, bà con có thể tìm hiểu nhu cầu của khách, lựa chọn cách trình bày phù hợp và nhận biết những mặt hàng được quan tâm. Đây là một hướng để hoạt động quảng bá văn hóa gắn với tiêu thụ sản phẩm địa phương, dù hiệu quả lâu dài còn phụ thuộc chất lượng hàng hóa và khả năng duy trì dịch vụ sau lễ hội.
Người dân giới thiệu các món ăn, sản vật địa phương tại Lễ hội Tết cá.
Để những trải nghiệm từ Tết cá có thể tiếp tục được khai thác, việc tổ chức cần phù hợp với mùa vụ và điều kiện sinh hoạt của cộng đồng. Hoạt động trên ruộng phải gắn với yêu cầu bảo vệ sản xuất; giới thiệu ẩm thực cần chú trọng vệ sinh, chất lượng; không gian đón khách cần thuận tiện và giữ gìn cảnh quan. Những điều kiện này có ý nghĩa thiết thực nếu địa phương từng bước xây dựng sản phẩm du lịch từ chương trình lễ hội.
Đồng thời, nét riêng của phong tục cần được thể hiện đúng khi đưa đến công chúng. Các trò thi, hoạt động giao lưu có thể tạo không khí vui tươi, nhưng câu chuyện về Tết cá vẫn cần làm rõ tập quán tưởng nhớ tổ tiên, sum họp gia đình và sự gắn bó với nghề nông của người Tày. Người dân am hiểu phong tục là lực lượng có thể góp phần giải thích, hướng dẫn và truyền lại những giá trị này cho thế hệ tiếp theo.
Lễ hội Tết cá năm 2026 sẽ là dịp để Mậu Duệ giới thiệu một lựa chọn trải nghiệm gắn với văn hóa và sản xuất nông nghiệp. Từ hoạt động bắt cá đến món ăn, từ gian hàng nông sản đến giao lưu văn nghệ, địa phương hướng đến việc tạo thêm cơ hội để người dân giới thiệu quê hương và hưởng lợi từ những giá trị mình gìn giữ. Sự tham gia của cộng đồng cùng cách tổ chức phù hợp sẽ góp phần đưa nét văn hóa Tết cá đến gần hơn với du khách, tạo cơ sở cho Mậu Duệ phát triển các hoạt động du lịch mang dấu ấn bản địa.
Tên gọi khác: Thổ.
Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.
Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.
Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).
Ở: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.
Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.
Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.
Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.
Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.
Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.
Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.
Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.
Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.
Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.
Lịch: Người Tày theo âm lịch.
Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.
Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.
Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...
Theo cema.gov.vn