Tối 28/6, tại phường Đông Hải (tỉnh Khánh Hòa), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026. Sự kiện khép lại chuỗi hoạt động sôi nổi nhằm giới thiệu, quảng bá những giá trị văn hóa truyền thống tinh hoa của đồng bào Chăm.
Phát biểu tại lễ bế mạc, ông Nguyễn Long Biên, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhấn mạnh, thành công của ngày hội không chỉ dừng lại ở quy mô tổ chức hay số lượng người tham gia mà lớn hơn là những giá trị văn hóa được lan tỏa, di sản được tôn vinh. Sự kiện đã truyền tải sâu rộng đến công chúng trong và ngoài nước thông điệp về bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc. Từ đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng; đồng thời tạo động lực thúc đẩy du lịch, công nghiệp văn hóa và các nghề truyền thống gắn với đời sống đồng bào Chăm trong kỷ nguyên mới.
Tiết mục "Bến sông Trăng" do đoàn nghệ thuật quần chúng thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn. Ảnh: Phan Sáu/TTXVN
Đây cũng là hành động thiết thực của tỉnh nhằm triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, qua đó, xây dựng nền văn hóa Khánh Hòa tiên tiến, đậm đà bản sắc, thống nhất trong đa dạng; lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần và động lực để phát triển bền vững, góp phần đưa Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Tiết mục múa do đoàn nghệ thuật quần chúng đoàn Thành phố Hồ Chí Minh biểu diễn. Ảnh: Phan Sáu/TTXVN
Diễn ra từ ngày 26-28/6, Ngày hội quy tụ khoảng 1.000 nghệ nhân, nghệ sĩ, diễn viên và vận động viên quần chúng đến từ 7 tỉnh, thành phố: Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng, An Giang, Tây Ninh và Thành phố Hồ Chí Minh. Các đoàn đã mang đến nhiều hoạt động đặc sắc như liên hoan văn nghệ, trình diễn trang phục truyền thống, thi đấu thể thao, trò chơi dân gian và trưng bày sản phẩm thủ công.
Tiết mục nghệ thuật mở màn lễ bế mạc. Ảnh: Phan Sáu/TTXVN
Ban tổ chức đã trao 117 huy chương Vàng, 117 huy chương Bạc, 234 huy chương Đồng cho các nội dung thể thao; 19 giải A, 19 giải B và 20 giải C cho các hoạt động văn hóa, du lịch. Kết quả này tiếp tục là nền tảng quan trọng để tăng cường khối đại đoàn kết, thắt chặt tình cảm gắn bó và giao thoa văn hóa giữa đồng bào Chăm với cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Ban tổ chức trao tặng Bằng khen cho đoàn nghệ nhân, diễn viên quần chúng dân tộc Chăm 7 tỉnh, thành phố. Ảnh: Phan Sáu/TTXVN
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng trao tặng Bằng khen cho đoàn nghệ nhân, diễn viên quần chúng dân tộc Chăm 7 tỉnh, thành phố: Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang, Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk về sự đóng góp và sự tham gia tích cực trong Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026.
Biểu diễn tiết mục " Một vòng Việt Nam". ẢẢnh: Phan Sáu/TTXVN
Trong đêm bế mạc, các đoàn nghệ sĩ đến từ các tỉnh, phố có đông cộng đồng người Chăm sinh sống đã trình diễn các tiết mục văn nghệ đặc sắc như: “Múa hồn đất”, “Mùa dệt vải mùa Xuân”, “ Nàng Út đi bắt cá”, “Tiếng trống Ginang, tiếng trống hòa bình”, “An Giang điểm hẹn”, “ Người Chăm vui hội, Việt Nam ngày mới”,…
Đồng bào người Chăm theo dõi chương trình nghệ thuật bế mạc Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VI năm 2026 . Ảnh: Phan Sáu/TTXVN
Để văn hóa dân tộc Chăm tiếp tục được lan tỏa, bảo tồn và phát huy, Ngày hội Văn hóa dân tộc Chăm lần thứ VII được tiếp tục tổ chức theo hình thức luân phiên, định kỳ tại tỉnh An Giang vào năm 2031./.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn