Thay đổi tập quán canh tác giúp nông dân Khmer giảm chi phí sản xuất

Chủ động tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật, thay đổi phương thức canh tác và tham gia liên kết sản xuất đang giúp nhiều nông dân Khmer ở Vĩnh Long nâng cao hiệu quả kinh tế, từng bước cải thiện đời sống. 

Thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác và chương trình hỗ trợ sản xuất, bà con có thêm điều kiện ứng dụng kỹ thuật mới, giảm chi phí đầu vào, nâng cao năng suất và ổn định đầu ra nông sản.

Ông Thạch Dương, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, xã Nhị Trường, kiểm tra chất lượng cây giống rau màu, phục vụ nhu cầu sản xuất của nông dân địa phương.
Ông Thạch Dương, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, xã Nhị Trường, kiểm tra chất lượng cây giống rau màu, phục vụ nhu cầu sản xuất của nông dân địa phương.

Được thành lập năm 2019, Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, xã Nhị Trường, tỉnh Vĩnh Long từng bước trở thành địa chỉ liên kết sản xuất, cung ứng vật tư và hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân. Từ 10 thành viên ban đầu, đến nay Hợp tác xã phát triển lên 120 thành viên, trong đó có 20 thành viên góp vốn và hơn 100 thành viên liên kết. Đáng chú ý, trên 95% thành viên và hộ dân tham gia liên kết là đồng bào Khmer.

Theo ông Thạch Dương, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, đơn vị tập trung hỗ trợ nông dân giảm chi phí sản xuất, tiếp cận kỹ thuật mới và tìm đầu ra ổn định cho nông sản. Hằng năm, Hợp tác xã cung ứng khoảng 1 triệu cây giống rau màu, chủ yếu là ớt, cà chua, ngô và một số loại rau màu khác. Đối với sản xuất lúa, Hợp tác xã cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức thu mua sau thu hoạch.

Một trong những cách làm được thành viên đánh giá cao là Hợp tác xã hỗ trợ tạm ứng vật tư đầu vụ, đến khi thu hoạch mới thanh toán. Sau thu hoạch, Hợp tác xã thu mua lúa và đối trừ khoản vật tư đã ứng trước. Giá thu mua theo thị trường tại thời điểm giao dịch, thành viên liên kết được ưu tiên mua cao hơn khoảng 100–200 đồng/kg. Phương thức này giúp nông dân giảm áp lực vốn đầu tư, đồng thời yên tâm hơn về đầu ra sản phẩm. Nhờ tiết giảm chi phí đầu vào và cải thiện giá bán, lợi nhuận của các hộ tham gia liên kết tăng khoảng 10–15 triệu đồng/ha so với sản xuất bên ngoài mô hình. Năng suất lúa đạt khoảng 6–6,5 tấn/ha trong vụ Hè Thu và Thu Đông; riêng vụ Đông Xuân đạt khoảng 7 tấn/ha, cao hơn 10-15% so với trước khi tham gia hợp tác xã. Các giống lúa được sử dụng chủ yếu là Đài Thơm 8 và OM 18.

Ông Thạch Dương, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, xã Nhị Trường, kiểm tra chất lượng cây giống rau màu, phục vụ nhu cầu sản xuất của nông dân địa phương.
Ông Thạch Dương, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Ngọc Thạch, xã Nhị Trường, kiểm tra chất lượng cây giống rau màu, phục vụ nhu cầu sản xuất của nông dân địa phương.

Tham gia Hợp tác xã từ năm 2021, ông Kim Nuộne, xã Nhị Trường có 4,6 ha đất sản xuất nông nghiệp; trong đó, gia đình dành 4 ha trồng lúa giống OM 18 và 0,6 ha sản xuất ớt, cà chua, ngô giống theo nhu cầu liên kết. Theo ông Nuộne, gia đình được hỗ trợ giống, vật tư và hướng dẫn kỹ thuật trong quá trình sản xuất. Việc tạm ứng vật tư đầu vụ giúp gia đình giảm áp lực vốn; khi thu hoạch, sản phẩm được Hợp tác xã thu mua và đối trừ khoản đã ứng trước.

Ông Kim Nuộne cho biết, việc có đơn vị liên kết thu mua với giá ưu tiên cao hơn thị trường khoảng 100–200 đồng/kg giúp gia đình chủ động hơn trong sản xuất, giảm lo lắng về đầu ra và cải thiện thu nhập. Qua quá trình tham gia, gia đình cũng chú trọng hơn đến việc sử dụng giống phù hợp, thực hiện theo hướng dẫn kỹ thuật để nâng cao hiệu quả canh tác.

Cùng với mô hình liên kết thông qua hợp tác xã, tại xã Phong Thạnh, việc tổ chức sản xuất theo nhóm nghề nghiệp gắn với doanh nghiệp đang tạo điều kiện để nông dân Khmer tiếp cận quy trình canh tác mới. Vụ Hè Thu năm 2026, gia đình bà Thạch Thị Chia tham gia Chi hội Nông dân nghề nghiệp trồng lúa chất lượng cao ST25 với diện tích 1 ha. Tham gia mô hình, gia đình bà được doanh nghiệp cung ứng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và hỗ trợ một phần chi phí cấy theo thỏa thuận. Các khoản đầu tư được đối trừ sau thu hoạch. Bên cạnh đó, nông dân được hướng dẫn quy trình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp và được doanh nghiệp bao tiêu lúa hàng hóa với giá 8.000 đồng/kg.

Gia đình bà Thạch Thị Chia, xã Phong Thạnh, thu hoạch lúa trong mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Gia đình bà Thạch Thị Chia, xã Phong Thạnh, thu hoạch lúa trong mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp.

Bà Thạch Thị Chia cho biết, trước đây gia đình chủ yếu sản xuất dựa vào kinh nghiệm, chưa chú trọng đúng mức đến quy trình sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nên chi phí đầu tư còn cao. Khi tham gia mô hình, được hướng dẫn kỹ thuật, gia đình biết cách sử dụng vật tư hợp lý hơn, góp phần tiết giảm chi phí. Việc được hỗ trợ vật tư, một phần chi phí cấy và có doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm cũng giúp gia đình giảm áp lực vốn, yên tâm sản xuất và nâng cao thu nhập.

Trong vụ Hè Thu năm 2026, do thời tiết bất lợi, năng suất lúa của gia đình bà Chia giảm. Tuy nhiên, giá thu mua theo thỏa thuận đạt 8.000 đồng/kg, cao hơn giá thị trường khoảng 1.700–1.800 đồng/kg, nên gia đình vẫn bảo đảm lợi nhuận. Qua mô hình, bà có thêm kinh nghiệm trong áp dụng kỹ thuật, sử dụng vật tư hợp lý và nhận thấy vai trò của liên kết tiêu thụ đối với hiệu quả sản xuất.

Từ hai mô hình trên cho thấy, khi được hỗ trợ về giống, vật tư, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm, nông dân Khmer có thêm điều kiện thay đổi tập quán sản xuất, mạnh dạn áp dụng quy trình canh tác mới. Sự tham gia của hợp tác xã, tổ chức hội và doanh nghiệp góp phần kết nối các khâu sản xuất, giúp nông dân giảm chi phí và ổn định đầu ra nông sản.

Theo Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2025–2030, định hướng đến năm 2045, tỉnh tập trung đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức sản xuất và tăng cường liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị.

Cùng với đó, tỉnh tích cực triển khai Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030. Định hướng này tập trung tổ chức sản xuất quy mô lớn, nâng cao chất lượng gạo, giảm sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm nước, tăng cường cơ giới hóa và giảm phát thải trong sản xuất.

Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị sản xuất bình quân trên đất trồng trọt đạt trên 360 triệu đồng/ha; tỷ lệ giá trị sản phẩm nông, lâm, thủy sản được sản xuất theo hình thức hợp tác, liên kết đạt từ 40% trở lên. Tỷ lệ sản phẩm được sản xuất theo quy trình thực hành tốt, ứng dụng công nghệ cao gắn với chuyển đổi số đạt từ 30% trở lên.

Bài và ảnh: Thanh Hòa/TTXVN
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Sôi nổi Giải bóng đá nữ Mường Lai mở rộng

Sôi nổi Giải bóng đá nữ Mường Lai mở rộng

Sau 5 ngày tranh tài, sáng 7/11, tại sân vận động xã Mường Lai, tỉnh Lào Cai, trận chung kết Giải bóng đá nữ xã Mường Lai mở rộng lần thứ I năm 2026 giữa đội bóng Mường Lai và Yên Thành đã diễn ra với sự theo dõi của đông đảo người dân, du khách.

Mưa lớn cục bộ gây thiệt hại tại Lào Cai

Mưa lớn cục bộ gây thiệt hại tại Lào Cai

Từ đêm 6/11 đến sáng ngày 7/11, một số địa phương tại Lào Cai có mưa lớn gây ngập lụt, sạt lở cục bộ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của nhân dân.

Tìm biểu trưng mới cho vùng đất Điện Biên Phủ

Tìm biểu trưng mới cho vùng đất Điện Biên Phủ

Chiều 6/11, UBND tỉnh Điện Biên tổ chức Lễ phát động Cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Điện Biên, nhằm lựa chọn tác phẩm tiêu biểu, làm cơ sở trình cấp có thẩm quyền xem xét, lựa chọn biểu trưng chính thức của tỉnh.

Bộ đội Biên phòng đồng hành cùng các trường nội trú liên cấp

Bộ đội Biên phòng đồng hành cùng các trường nội trú liên cấp

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, lực lượng Bộ đội Biên phòng Lai Châu đã huy động cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất, đồng hành cùng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới.

Người có uy tín - điểm tựa trong xây dựng bản làng vùng biên

Người có uy tín - điểm tựa trong xây dựng bản làng vùng biên

Bằng uy tín, trách nhiệm và sự gương mẫu trong đời sống hằng ngày, đội ngũ người có uy tín trên địa bàn xã biên giới Phong Thổ (tỉnh Lai Châu) đang phát huy vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự và bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số

Bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số

Các lớp học xóa mù chữ và dạy tiếng dân tộc Khmer, Hoa, Chăm tại An Giang đang được duy trì và mở rộng tại nhiều địa phương, giúp đồng bào các dân tộc nâng cao khả năng đọc, viết, hạn chế tái mù chữ; qua đó góp phần bảo tồn tiếng nói, chữ viết và gìn giữ những nét văn hóa truyền thống của các dân tộc.

Ứng dụng công nghệ số vào các trường học ở vùng khó khăn

Ứng dụng công nghệ số vào các trường học ở vùng khó khăn

Vượt qua những khó khăn về cơ sở vật chất và áp lực từ mô hình quy mô lớn sau sáp nhập, đội ngũ cán bộ, giáo viên tại các trường học vùng khó khăn và các cơ sở giáo dục tỉnh Hà Tĩnh đang nỗ lực tự học, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) vào bài giảng cũng như công tác quản trị.

Phật giáo đồng hành cùng dân tộc bằng những việc làm thiết thực

Phật giáo đồng hành cùng dân tộc bằng những việc làm thiết thực

Phát huy tinh thần đoàn kết, chăm lo người yếu thế, gìn giữ văn hóa và nâng cao trách nhiệm là những nội dung Phật giáo chú trọng. Qua các hoạt động cụ thể, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp tục vận động tăng ni, Phật tử sống tốt đời, đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc.

Củng cố thế trận biên phòng từ lòng dân

Củng cố thế trận biên phòng từ lòng dân

Không chỉ tăng cường tuần tra, kiểm soát, chủ động đấu tranh với các loại tội phạm, lực lượng Bộ đội Biên phòng Lạng Sơn còn chú trọng tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật, tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Lạng Sơn động thổ xây cầu hơn 157 tỷ đồng bắc qua sông Kỳ Cùng

Lạng Sơn động thổ xây cầu hơn 157 tỷ đồng bắc qua sông Kỳ Cùng

Ngày 4/11, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông tỉnh Lạng Sơn tổ chức động thổ Dự án đầu tư xây dựng cầu Cửa Nam nối hai bờ sông Kỳ Cùng góp phần kết nối không gian phát triển, tạo động lực xây dựng đô thị Lạng Sơn ngày càng văn minh, hiện đại.