Xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn ngành dừa

Tỉnh Bến Tre đang tập trung nâng cao năng lực chế biến ngành dừa thông qua việc phát triển vùng sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất tuần hoàn và chế biến sâu các sản phẩm dừa, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và tăng kim ngạch xuất khẩu.

dua-ben-tre.jpg
Giống dừa ta xanh nổi tiếng của Bến Tre. Ảnh: vietnam.vnanet.vn

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bến Tre Đoàn Văn Đảnh cho biết, trong thời gian tới, tỉnh sẽ đẩy mạnh thông tin tuyên truyền Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ, các mô hình phát triển sản xuất hiệu quả nhất là kinh tế tuần hoàn đến đơn vị, địa phương và người dân biết, áp dụng vào sản xuất.

Tỉnh tăng cường đề xuất, xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn ngành dừa gắn liên kết doanh nghiệp, với mục tiêu góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giảm tối đa chi phí đầu tư, chi phí sản xuất và tiết kiệm tài nguyên, nâng cao thu nhập người dân.

Bên cạnh đó, địa phương tiếp tục vận động, khuyến cáo người dân ứng dụng nguyên tắc sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, nhân rộng mô hình bằng cách tận dụng những phụ phế phẩm sẵn có từ sản xuất dừa bổ sung trả lại cho đất. Qua đó, nhằm giảm chi phí trong sản xuất và tăng thu nhập cho người dân.

Mặt khác, ngành chức năng tỉnh thường xuyên cập nhật và chuyển giao khoa học kỹ thuật đến người dân, nhất là ứng dụng công nghệ vi sinh trong xử lý tất cả phế phụ phẩm từ hoạt động sơ chế dừa kết hợp với nguồn chất thải trong chăn nuôi của địa phương làm nguồn vật tư đầu vào cho canh tác dừa, vừa giảm chi phí đầu tư vừa góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

dua-ben-tre-9288.jpg
hu mua dừa xiêm xanh của người dân. Ảnh: Huỳnh Phúc Hậu/TXVN

Tỉnh Bến Tre mở rộng vùng sản xuất dừa tập trung, sản xuất theo các tiêu chuẩn chứng nhận của thị trường xuất khẩu (tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam, các tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế,…), gắn xây dựng mã số vùng trồng đáp ứng nhu cầu của nước nhập khẩu; liên kết với doanh nghiệp thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã có vai trò tổ chức sản xuất, thu gom và sơ chế dừa để cung ứng các nguyên liệu chất lượng cho doanh nghiệp chế biến.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Bến Tre, hiện nay, diện tích dừa tỉnh Bến Tre đạt 79.775 ha, nhu cầu nguồn vật tư đầu vào cho sản xuất là rất lớn, trong khi giá cả vật tư nông nghiệp ngày càng tăng cao là thách thức gây khó khăn cho sản xuất dừa. Trong khi đó, nguồn phụ phẩm trên vườn dừa gồm tàu lá, mo nang...chiếm khoảng 12-15 tấn/ha/năm và nguồn phụ phẩm từ hoạt động sơ chế dừa đã tạo ra một lượng lớn phụ phẩm khoảng 5 tấn/ha/năm.

Hiện tại các nguồn nguyên liệu này chưa được người dân khai thác triệt để đã gây lãng phí nguồn tài nguyên rất lớn, bên cạnh đó còn gây ra ô nhiêm môi trường. Nếu nguồn nguyên liệu này được sử dụng đúng kỹ thuật sẽ bổ sung lại từ 60-70% chất hữu cơ và dinh dưỡng cho vườn dừa, phần còn lại được bổ sung bằng các loại phân hữu cơ vi sinh cho phép sử dụng trong sản xuất hữu cơ.

Năm 2023-2024, Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp tỉnh Bến Tre đã thực hiện mô hình “Ứng dụng nguyên tắc sản xuất nông nghiệp tuần hoàn vào xây dựng và hoàn thiện chuỗi giá trị dừa” tại 2 huyện Mỏ Cày Nam và Thạnh Phú, bước đầu đạt những kết quả tích cực.

Cụ thể, với việc sử dụng phụ phế phẩm kết hợp với phân chuồng ủ hoai bón cho vườn dừa cho thấy, đất sẽ tơi xốp hơn cây dừa sinh trưởng, phát triển tốt hơn, lá có biểu hiện xanh tốt, tỷ lệ đậu trái cao. Việc tận dụng phụ phế phẩm tái sử dụng cho vườn dừa sẽ làm giảm chi phí đầu vào trong sản xuất, qua việc phòng trừ sâu bệnh hại bằng biện pháp sinh học như trừ bọ cánh cứng, sâu đầu đen hại dừa bằng ong ký sinh, các loại nấm ký sinh sẽ kiểm soát được các loại dịch hại trên dừa.

Các vườn trước khi thực hiện mô hình vào tháng 10/2023, có pH đất ≤ 4 đo thực tế từng vị trí trên liếp vườn. Sau khi tham gia mô hình các hộ đã được hỗ trợ vôi để bón cho vườn kết hợp với phân hữu cơ đã ủ hoai nên đã nâng pH > 5 vào cuối năm 2024. Đáng chú ý, năng suất thực thu trong năm 2024 của các vườn mô hình dựa trên sự kiểm đếm thực tế tại xã An Thới là 11.561 trái/ha/năm. Lợi nhuận đạt 42,597 triệu đồng/ ha. Các vườn tại xã Thới Thạnh có năng suất khoảng 13.520 trái/ha/năm. Lợi nhuận đạt 56,184 triệu đồng/ ha.

dua-ben-tre-554.jpg
Dây chuyền chế biến nước dừa đóng hộp tại Công ty Betrimex, Bến Tre. Ảnh tư liệu: Xuân Anh/TTXVN

Tại Bến Tre, cây dừa không chỉ là sinh kế của hơn 200.000 hộ dân, mà còn là nền tảng phát triển công nghiệp chế biến, xuất khẩu, thương mại và du lịch địa phương. Trong thời gian qua, ngành dừa Bến Tre đã đạt được nhiều kết quả nổi bật. Tính riêng năm 2024, tổng kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm dừa của tỉnh đạt trên 450 triệu USD, góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế địa phương.

Nhiều doanh nghiệp chế biến dừa hoạt động hiệu quả, tiên phong đã vươn ra thị trường quốc tế như : Công ty TNHH Chế biến dừa Lương Quới, Công ty Betrimex, Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Bến Tre. Các sản phẩm từ dừa được nâng tầm giá trị nhờ chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP). Đến nay, tỉnh Bến Tre hiện có trên 100 sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) từ cây dừa; trong đó, nhiều sản phẩm đạt hạng 4 sao, tiêu biểu như dầu dừa nguyên chất, nước cốt dừa đóng hộp, kẹo dừa truyền thống, mỹ phẩm thiên nhiên từ dừa, than hoạt tính từ gáo dừa./.

Công Trí/TTXVN

Có thể bạn quan tâm

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.

Tại nhiều vùng cao, tầm vóc thấp bé và chứng còi xương ở trẻ em vẫn rất phổ biến. Ảnh: V.T

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống-Bài 2: Thể trạng con người còi xương, hệ lụy khôn lường về di truyền

Hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn là căn nguyên khiến thể trạng con người và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc hạn chế, gen di truyền từ cha mẹ sang con khiến những trẻ em sinh ra thường mắc các bệnh còi xương, thấp bé... và vòng xoáy nghèo đói tiềm ẩn nơi non cao.