Những ngày này, cùng với nhân dân cả nước, không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử đang khẩn trương lan tỏa khắp các địa phương của tỉnh Ninh Bình, Phú Thọ.
Kỳ vọng đời sống thêm ấm no, hạnh phúc
Những ngày này, cùng với nhân dân cả nước, đồng bào dân tộc Mường tại tỉnh Ninh Bình đang hân hoan chờ đón ngày hội của toàn dân. Tại các xã vùng cao Cúc Phương và Phú Long, tỉnh Ninh Bình, mặc dù đặc thù dân cư phân tán, nhiều bản ở xa trung tâm, điều kiện đi lại khó khăn nhưng đã tích cực triển khai các công tác chuẩn bị và sẵn sàng cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026–2031.
Xã Cúc Phương là xã miền núi có diện tích tự nhiên 132,68 km², đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 47,9%. Địa hình đồi núi xen kẽ, dân cư phân tán ở 17 thôn, nhiều khu vực cách xa trung tâm xã. Tính đến ngày 6/3, toàn xã có 6.048 cử tri. Số đơn vị bầu cử trên địa bàn được thành lập 6 đơn vị, 14 tổ bầu cử. Đặc điểm địa bàn rộng, giao thông có nơi còn khó khăn, tỷ lệ cử tri là đồng bào dân tộc thiểu số cao đặt ra nhiều khó khăn đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện bầu cử.
Theo ông Đinh Văn Tha, Trưởng thôn Nga 3, xã Cúc Phương, để mỗi lá phiếu không chỉ thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân mà còn thể hiện niềm tin và kỳ vọng vào sự phát triển bền vững của quê hương trong giai đoạn mới, các đoàn thể thôn quán triệt tinh thần tuyên truyền phải gần dân, sát dân. Ngoài tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh, Uỷ ban bầu cử còn trực tiếp đến từng hộ gia đình, nhất là hộ người cao tuổi, hộ đồng bào dân tộc ở xa trung tâm để giải thích rõ quy trình bầu cử, quyền và nghĩa vụ của cử tri. Bà con rất quan tâm, nhiều người chủ động đến nhà văn hóa để nghiên cứu, đọc tiểu sử của các vị ứng cử nhằm lựa chọn những đại biểu đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân.
Ông Trương Nguyên Nhật, Phó trưởng Ban Xây dựng Đảng xã Cúc Phương cho biết, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh, Ủy ban Bầu cử xã đã ban hành đầy đủ kế hoạch, thành lập Ban Chỉ đạo bầu cử gồm 19 thành viên; Ủy ban Bầu cử xã gồm 17 thành viên; 4 tiểu ban giúp việc; 6 Ban bầu cử tương ứng với 6 đơn vị bầu cử; đồng thời thành lập 14 Tổ bầu cử tại 14 khu vực bỏ phiếu. Tất cả được kiện toàn đúng trình tự, thời hạn luật định, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất.
Theo ông Nhật, đặc thù là địa bàn miền núi có giao thông đi lại khó khăn, địa hình phức tạp nên Đảng ủy đã xác định công tác tuyên truyền hết sức quan trọng. Ngay từ sớm, Đảng ủy đã có nghị quyết triển khai đến Đảng bộ về công tác chuẩn bị bầu cử đến tất cả đảng viên. Trong đó có chủ trương giao cho UBND xã xây dựng lại hệ thống loa truyền thanh, cơ bản đảm bảo phát đến toàn thể các thôn, bản vùng sâu vùng xa nhất của xã.
Cùng với nhân dân trong tỉnh, cử tri xã miền núi Phú Long đang mong chờ đến ngày bầu cử để thực hiện quyền làm chủ, gửi gắm niềm tin và kỳ vọng về những người đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình sẽ góp phần cùng các cấp, các ngành đưa kinh tế - xã hội khu vực miền núi ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Bà Bùi Thị Tinh, đồng bào dân tộc Mường ở Bản Vóng, xã Phú Long chia sẻ, chúng tôi tiếp cận với các thông tin về bầu cử từ nhiều nguồn như loa truyền thanh, các trang thông tin chính thống và được cán bộ thôn đến tận nhà để tuyên truyền, từ đó giúp chúng tôi hiểu được cuộc bầu cử có ý nghĩa rất quan trọng. Qua đợt bầu cử này, cử tri thôn mong muốn các đại biểu trúng cử cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ của người đại biểu.
Ông Phạm Trường Sơn, bản Phùng Thượng, xã Phú Long bày tỏ sự phấn khởi và mong chờ ngày hội lớn của dân tộc. Ông nhận thấy công tác chuẩn bị cho ngày bầu cử tại địa phương được triển khai bài bản, chu đáo, tạo điều kiện để người dân tiếp cận đầy đủ thông tin trước khi thực hiện quyền công dân.
Chia sẻ về kỳ vọng trước ngày bầu cử, ông Sơn mong muốn những đại biểu trúng cử sẽ phát huy tốt vai trò cầu nối, luôn lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân, từ đó đề xuất các chính sách thiết thực nhằm chăm lo đời sống nhân dân, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc và người cao tuổi.
Bảo đảm quyền làm chủ của mỗi cử tri
Không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử đang khẩn trương lan tỏa khắp các địa phương của tỉnh Phú Thọ. Từ việc hoàn thiện cơ sở vật chất tại các khu vực bỏ phiếu, niêm yết danh sách cử tri đến đẩy mạnh tuyên truyền, mọi công tác đang được triển khai đồng bộ nhằm bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, an toàn, đúng quy định, để mỗi lá phiếu thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ, 2.588 sinh viên sẽ thực hiện quyền bầu cử ngay tại trường. Với nhiều sinh viên, đây là lần đầu tiên tham gia bầu cử, đánh dấu bước trưởng thành trong nhận thức và trách nhiệm đối với xã hội.
Cử tri trẻ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 tìm hiểu thông tin về các ứng cử viên. Ảnh: Nguyễn Thảo/TTXVN
Em Nguyễn Thị Thu Hiền, sinh viên năm thứ nhất, Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 chia sẻ: “Đây là lần đầu tiên em tham gia bầu cử nên em rất quan tâm tìm hiểu các thông tin liên quan. Qua các kênh thông tin của nhà trường, em đã hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của cử tri để lựa chọn những đại biểu xứng đáng”.
Thầy giáo Cao Bá Cường, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cho biết: Nhà trường đã chủ động triển khai các nội dung liên quan đến công tác chuẩn bị bầu cử theo phân công và tích cực tuyên truyền qua nhiều hình thức khác nhau. Nhà trường mong muốn mỗi sinh viên đều nắm vững những nội dung cơ bản của cuộc bầu cử, từ đó thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình.
Không chỉ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đến thời điểm này, không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử tại 20 điểm bỏ phiếu trên địa bàn phường Xuân Hòa đang diễn ra hết sức khẩn trương. Điểm nhấn tại phường Xuân Hòa là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tuyên truyền trực quan và công nghệ số.
Ông Đào Anh Dũng, Chủ tịch UBND phường Xuân Hòa chia sẻ: “Chúng tôi đang tập trung cao cho việc rà soát biến động cử tri trên địa bàn để đảm bảo không bỏ sót bất kỳ công dân nào đủ điều kiện. Công tác niêm yết danh sách người ứng cử đã hoàn tất tại các điểm trung tâm, giúp người dân dễ dàng tìm hiểu tiểu sử, quá trình công tác của các ứng viên. Bên cạnh đó, tổ cũng đã lên phương án dự phòng cho các tình huống phát sinh, quyết tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để cử tri yên tâm đi bỏ phiếu vào ngày trọng đại này”.
Với đặc thù là địa bàn có đông lao động ngoại tỉnh và biến động dân cư, phường Phúc Yên cũng quán triệt tinh thần tuyệt đối không để xảy ra sai sót trong việc lập và niêm yết danh sách cử tri. Ông Phan Tiến Dũng, Bí thư phường Phúc Yên cho biết các tổ dân phố đã đến từng hộ để rà soát, đảm bảo quyền bầu cử của mọi công dân. Việc công khai, minh bạch thông tin không chỉ bảo đảm đúng quy định pháp luật mà còn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với công tác tổ chức bầu cử.
Ông Nguyễn Văn Xuân, Tổ trưởng tổ dân phố số 10, phường Phúc Yên cho biết: “Trên địa bàn có gần 1.000 lao động, chủ yếu làm việc ở Khu công nghiệp Kim Hoa. Do đặc thù công nhân thường đi làm theo ca nên chúng tôi chủ động đến từng khu nhà trọ vào buổi tối hoặc những ngày nghỉ để tuyên truyền. Nhiều lao động ngoại tỉnh rất quan tâm đến quyền bầu cử khi sinh sống và làm việc tại địa phương”.
Chị Trần Thị Lan, công nhân đang làm việc tại khu công nghiệp Kim Hoa, phường Phúc Yên chia sẻ: Khi được tổ dân phố thông báo về việc rà soát danh sách cử tri, chị đã chủ động cung cấp thông tin để được đăng ký tham gia bầu cử tại nơi tạm trú. Dù không ở quê nhưng chị vẫn được tạo điều kiện để thực hiện quyền công dân của mình.
Nhờ sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, đến nay công tác rà soát, cập nhật danh sách cử tri tại phường Phúc Yên cơ bản đã hoàn tất, bảo đảm chính xác, đầy đủ và đúng tiến độ. Đây là cơ sở quan trọng để ngày bầu cử trên địa bàn diễn ra dân chủ, an toàn, đúng quy định, đồng thời thể hiện rõ trách nhiệm và sự đồng thuận của người dân trong việc xây dựng chính quyền vững mạnh./.
Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).
Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.
Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...
Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.
Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).
Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.
Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.
Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.
Ở: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.
Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.
Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.
Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.
Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.
Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.
Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.
Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.
Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.
Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.
Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.
Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.
Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.
Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.
Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.
Theo cema.gov.vn