Già làng, người có uy tín làm cầu nối trong tuyên truyền bầu cử

Từ những ngày đầu triển khai công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đội ngũ già làng, người có uy tín ở tỉnh Đồng Nai đã phát huy vai trò là "cầu nối" quan trọng, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình thông qua lá phiếu cử tri. Không chỉ dừng lại ở việc vận động, già làng, người có uy tín tin tưởng và gửi trọn niềm tin vào phẩm chất và năng lực của các ứng cử viên trong nhiệm kỳ bầu cử này.

Từ những ngày đầu triển khai công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đội ngũ già làng, người có uy tín ở tỉnh Đồng Nai đã phát huy vai trò là "cầu nối" quan trọng, giúp người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình thông qua lá phiếu cử tri. Không chỉ dừng lại ở việc vận động, già làng, người có uy tín tin tưởng và gửi trọn niềm tin vào phẩm chất và năng lực của các ứng cử viên trong nhiệm kỳ bầu cử này.

gia-lang-nguoi-co-uy-tin-3.jpg
Đảng viên và cử tri thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa) tìm hiểu tiểu sử đại biểu ứng cử.

Ngay khi địa phương khởi động công tác chuẩn bị, ông Khàm Thanh Sơn (dân tộc Tày), người có uy tín tại xã biên giới Đắk Ơ đã sát cánh cùng Ban điều hành thôn 10 và chính quyền cơ sở để tuyên truyền, giúp bà con sẵn sàng cho ngày hội lớn của toàn dân. Hàng chục năm qua, ông Sơn cùng cán bộ địa phương đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận thức của người dân về lối sống và phát triển kinh tế.

Hướng tới ngày bầu cử 15/3 tới, ông Khàm Thanh Sơn bày tỏ sự kỳ vọng lớn lao vào đội ngũ đại biểu kế cận. Ông mong muốn những người trúng cử phải thực sự sát dân, luôn lắng nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phục vụ cộng đồng hiệu quả hơn. Niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số ở đây đặt trọn vào những người đủ đức, đủ tài và có sự gắn kết chặt chẽ với đời sống cơ sở.

Ông Sơn kỳ vọng các đại biểu sau khi được tín nhiệm sẽ không chỉ dừng lại ở những lời hứa, mà phải thực hiện bằng hành động cụ thể vì lợi ích của nhân dân. Nguyện vọng lớn nhất của người dân nơi đây là các đại biểu cần thường xuyên sâu sát vùng sâu, vùng xa, biên giới để có những đề xuất chính sách thực tiễn, giải quyết hiệu quả những khó khăn đặc thù tại địa phương.

Đảng viên và cử tri thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa) tìm hiểu tiểu sử đại biểu ứng cử.

Đảng viên và cử tri thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa) tìm hiểu tiểu sử đại biểu ứng cử.

Tại xã Đa Kia, già làng Điểu Chánh (dân tộc S’tiêng) mong muốn: Khi đã được cử tri tin tưởng, các ứng cử viên phải hết lòng phục vụ nhân dân. Mục tiêu chính của người đại biểu là chăm lo đời sống, phát triển kinh tế cho bà con, đồng thời mang lại lợi ích cho Đảng và Nhà nước.

Với đặc thù thôn Bù Tam có đến 90% là đồng bào dân tộc thiểu số S’tiêng, Nùng, Tày..., công tác dân tộc luôn đòi hỏi sự sâu sát. Vì vậy thời gian qua, ông Điểu Chánh luôn tích cực tuyên truyền để bà con xem xét kỹ lưỡng, lựa chọn những cán bộ thực sự tâm huyết, có đức, có tài để đáp ứng kỳ vọng của nhân dân, giúp ổn định đời sống và thúc đẩy kinh tế vùng đồng bào dân tộc phát triển bền vững.

Cùng chung quan điểm, ông Điểu Tuồng, người có uy tín ở xã Phú Nghĩa luôn nhận thức sâu sắc vai trò cầu nối giữa Đảng, chính quyền với người dân ở cơ sở. Ông Điểu Tuồng chia sẻ: Để dân tin và làm theo, bản thân người có uy tín phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi phong trào, từ phát triển kinh tế gia đình đến giữ gìn an ninh trật tự. Trong công tác chuẩn bị bầu cử, ông đã tích cực phối hợp cùng Ban điều hành thôn rà soát, nắm bắt tâm tư từng hộ gia đình để đảm bảo mọi người dân đều hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình.

Đảng viên và cử tri thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa) tìm hiểu tiểu sử đại biểu ứng cử.

Đảng viên và cử tri thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa) tìm hiểu tiểu sử đại biểu ứng cử.

Kỳ bầu cử này, ông Điểu Tuồng mong muốn các đại biểu được bầu, sẽ thực hiện quyết liệt các chính sách hỗ trợ sản xuất bền vững, đặc biệt là ổn định đầu ra cho cây điều, cây cao su, cà phê, đó nguồn thu nhập chính của vùng. Bên cạnh đó, là các vấn đề nâng cao dân trí, cải thiện hạ tầng giao thông và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. “Khi người cán bộ biết lắng nghe và giải quyết thấu đáo khó khăn từ cơ sở, niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước sẽ ngày càng vững chắc hơn. Từ những hành động cụ thể của các cán bộ sẽ tạo động lực mạnh mẽ xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn”, ông Tuồng chia sẻ thêm.

Ông Đặng Văn Long, Bí thư Chi bộ thôn Sơn Trung (xã Phú Nghĩa) khẳng định, già làng và những người có uy tín là “cánh tay nối dài” giúp chính quyền địa phương nắm bắt kịp thời thông tin từ cơ sở. Đặc biệt, trong công tác chuẩn bị bầu cử, sự nhiệt tình và trách nhiệm của họ đã góp phần quan trọng nâng cao nhận thức của người dân, giúp các phong trào ở địa phương diễn ra sôi nổi, đúng định hướng. Với kinh nghiệm và uy tín sẵn có, họ thực sự là điểm tựa vững chắc, giúp củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước trong sự kiện chính trị trọng đại này.

Đường tại xã Lộc Quang được trang trí rực rỡ đón ngày bầu cử.

Đường tại xã Lộc Quang được trang trí rực rỡ đón ngày bầu cử.

Hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 98 già làng và 481 người có uy tín. Thời gian qua, đội ngũ này đã phát huy tốt vai trò là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, góp phần đưa các chính sách đi vào cuộc sống. Không chỉ tích cực tuyên truyền vận động bà con phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, các già làng và người có uy tín còn dồn hết tâm huyết cho công tác chuẩn bị bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Họ bày tỏ kỳ vọng những người trúng cử sẽ thực sự sát dân, luôn lắng nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để phục vụ nhân dân hiệu quả hơn trong nhiệm kỳ mới./.

Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày
Dân tộc Xtiêng

Tên gọi khác: Xa Ðiêng hay Xa Chiêng.

Nhóm địa phương: Bù Lơ, Bù Ðek (Bù Ðêh), Bù Biêk.

Dân số: 85.436 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á) tương đối gần gũi với tiếng Mạ, Mnông, Chơ Ro. Chữ viết hình thành từ trước năm 1975, theo chữ cái La-tinh.

Lịch sử: Người Xtiêng sinh tụ lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên và miền đông Nam bộ.

Hoạt động sản xuất: Nguồn lương thực chính là lúa gạo, khoảng 80% lúa gạo do rẫy cung cấp. Nhóm Bù Lơ ở cao, sâu hơn hoàn toàn làm rẫy. Nhóm Bù Ðeh (Bù Ðêk) ở vùng thấp làm ruộng nước từ khoảng 100 năm, như cách thức canh tác của người Việt sở tại. Lúa rẫy có các giống khác nhau, được trồng theo lối "phát-đốt-chọc-trỉa", kết quả mùa màng phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và việc bảo về trước sự phá phách của chim muông. Công cụ làm rẫy chủ yếu gồm rìu và dao xà gạc để khai phá rừng, sau khi đốt thì dùng cây cào tre có 5 răng để dọn rồi đốt lại, khi trỉa dùng gậy nhọn (mỗi tay cầm một chiếc) để chọc lỗ, đồng thời gieo hạt giống theo, làm cỏ bằng loại cuốc con (về sau thay thế bằng cái xà - bát người Việt sử dụng), dùng tay tuốt lúa. Hái lượm, săn bắt và kiếm cá đưa lại nguồn lợi quan trọng thiết thực. Gia súc phổ biến gồm: trâu, bò, lợn, chó, một số hộ nuôi voi; gia cầm chủ yếu là gà. Có nghề dệt vải và đan lát. Việc mua bán thường dùng vật đổi vật (nay dùng tiền) có quan hệ hàng hoá với người Việt, Khơme, Mnông, Mạ và cả với bên Campuchia.

Ăn: Người Xtiêng ăn cơm tẻ, cơm nếp. Thực phẩm thường ngày của họ chủ yếu là những thứ kiếm được trong rừng và sông suối (nay có mua ở chợ hay của thương nhân). Thức uống truyền thống nước lã, rượu cần. Ðồ đựng cơm canh, nước đều là vỏ bầu chế tác có hình dạng thích hợp. Họ hút thuốc lá bằng tẩu (nay ít thấy).

: Người Xtiêng phân bố tập trung tại tỉnh Bình Phước, một số ở Tây Ninh và Ðồng Nai. Vùng cao ở nhà trệt, mái trùm gần xuống mặt đất và có nơi uốn tròn ở hai đầu hồi và ở một mặt bên. Vùng thấp thường làm nhà sàn khá khang trang, vách dựng nghiêng phía trên ra ngoài. Theo nếp xưa, mỗi làng chỉ gồm một vài ngôi nhà dài, nay hình thức nhà ngắn của từng hộ đang phát triển.

Mặc: Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc áo, quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, thường dùng các loại vòng kim loại và chuỗi cườm, thậm chí một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm nay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay nam giới mặc như người Việt, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi, ở vùng gần người Khơ Me cũng thường gặp phụ nữ Xtiêng quấn váy Khơ Me.

Phương tiện vận chuyển: Các loại gùi rất thông dụng, cách gùi như ở các tộc Thượng khác. Nhóm gần người Việt và Khơ Me, các loại xe gỗ 2 bánh dùng đôi bò kéo từ lâu đã trở thành một phương tiện vận chuyển phổ biến.

Quan hệ xã hội: Mỗi cặp vợ chồng và con cái là một "bếp" (nak). Nhiều bếp hợp thành một nhà (yau). Mỗi làng xưa gồm một vài nhà, càng về sau số nhà càng tăng do việc tách hộ ở riêng. Mỗi người không chỉ thuộc về một "bếp", một nhà, một làng, mà còn là thành viên của một dòng họ nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng nhất định và nằm trong các mối quan hệ họ hàng khác nữa. Về tổ chức xã hội truyền thống, làng là đơn vị bao trùm và nổi bật: trong tự bảo quản ở thì ông "già làng" và các bô lão có uy tín cao khác đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Xưa kia, ngoài một số ít người giàu có và đa số thuộc lớp nghèo, xã hội Xtiêng đã có những "nô lệ gia đình" do phải ở đợ, hoặc bị mua về...

Cưới xin: Thông thường nếu nhà trai có đủ của cải sính lễ, cô dâu về ở đằng chồng, nhưng thực tế phần đông phải ở rể do chưa có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái (ché quý, chiêng cồng, trâu...); riêng ở vùng Bình Long, chàng rể luôn phải về ở nhà vợ. Tập tục hôn nhân giữa các nơi, các nhóm có những điểm khác nhau, chẳng hạn: Nhóm Bù Ðek cho phép con trai cô với con gái cậu cũng như con gái cậu với con gái cô lấy nhau, nhưng ở nhóm Bù Lơ chỉ con trai cô được lấy con gái cậu với điều kiện cậu là anh của cô, cũng chỉ được chấp nhận một lần trong mỗi gia đình.

Sinh đẻ: Phụ nữ kiêng cữ cẩn thận ngay từ thời kỳ mang thai. Việc sinh nở xưa kia, phụ nữ tự xoay xở ngoài rừng một mình. Nay nhiều người ở vùng có tập quán dựng kho thóc trong nhà vẫn ra đẻ ở ngôi nhà nhỏ dựng gần bên nhà ở, bởi họ cho rằng nếu đẻ ở nhà sẽ xúc phạm đến "thần lúa", đẻ xong sẽ phải cúng một con lợn cho "thần lúa".

Trong ngày lễ mừng lúa mới, người Xtiêng thường tổ chức đâm trâu. Khi giết một trâu, họ chỉ dựng đoạn thây cây gạo làm cột. Nếu đâm nhiều trâu, lần đầu gia chủ làm loại cột đơn giản gâng srung, những lần sau họ dựng cột gâng rai với nhiều hoa văn trang trí. Ðây là phần ngọn của cây cột đâm trâu gâng rai.

Ma chay: Quan tài gỗ độc mộc đẽo từ cây rừng. Nếu chết bình thường thì họ chôn trong bãi mộ của làng. Trong quan tài, cùng với tử thi, có bỏ một ít gạo, thuốc lá... Những ché, nồi, dụng cụ... "chia" cho người chết đều để trên và quanh mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả. Có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Những trường hợp chết bất bình thường phải cúng quải tốn kém hơn, kiêng cữ nhiều hơn, lễ thức làm ngoài khu gia cư của làng và không được chôn vào bãi mộ của làng.

Thờ cúng: Người ta tin con người, con vật, cây cối cũng như muôn vật đều có siêu nhiên, tựa như "hồn". "Thần linh" cũng có rất nhiều: thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa... Thần lúa được hình dung là người phụ nữ trẻ và đẹp. Trong các lễ cúng, các vị thần hoặc các siêu nhiên nói chung được nhắc đến để cầu xin, hay tạ ơn, hay thông báo điều gì đó. Vật hiến tế là rượu, gà, lợn, trâu, bò, số lượng càng nhiều và con vật càng lớn chứng tỏ lễ cúng càng to, thần linh càng quyền thế, quan trọng.

Lễ tết: Có rất nhiều lễ cúng lớn nhỏ khác nhau trong đời sống của người Xtiêng. Trong đó, lễ hội đâm trâu là lớn nhất, thường được tổ chức mừng được mùa lớn (gia đình thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở lên - loại gùi có tên Sah cach), mừng chiến thắng kẻ thù, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái lớn khôn... Cùng với hiến sinh trâu còn thường có cả bò, lợn. Nếu hiến sinh một trâu, cột lễ để buộc trâu làm đơn giản, nhưng từ 2 trâu trở lên thì cột lễ trang trí đẹp, làm công phu. Tết Xtiêng được gọi là "lễ cúng rơm", sau khi tuốt lúa rẫy xong, trước khi đốt rẫy vụ sau: lễ thức ngày tết có nội dung tạ ơn thần lúa sau một mùa.

Văn nghệ: Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất, đồng thời là một trong số gia tài quý ở xã hội truyền thống, là cồng và chiêng; nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Ðek (Bù Ðêk) chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Riêng trong đám ma, chỉ dùng 3 cồng hoặc 3 chiêng. Ngoài ra, còn có tù và, trống, khèn bầu, các loại đàn. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng, chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xtiêng

Có thể bạn quan tâm

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vợ chồng bác sĩ người Mông cùng gieo sự sống giữa đại ngàn

Vượt qua những hủ tục lạc hậu và sự khắc nghiệt của thiên nhiên vùng biên viễn, vợ chồng bác sĩ người Mông Lầu Bá Hùa (cán bộ y tế Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh) và Hờ Y Chùa (Trung tâm Y tế Kỳ Sơn) đã viết nên một câu chuyện đầy cảm hứng về nghị lực và y đức. Không chọn phồn hoa đô hội, họ tình nguyện ở lại nơi gian khó nhất, coi sự sống của đồng bào là lẽ sống của chính mình, trở thành những "lá chắn" vững chãi bảo vệ sức khỏe nhân dân nơi cửa ngõ biên cương.

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Ươm 'hạt giống đỏ' giữa đại ngàn Tây Nguyên

Xuân mới về trên khắp buôn làng Tây Nguyên. Trong sắc mai vàng và âm vang cồng chiêng rộn rã, niềm vui của đồng bào các dân tộc tỉnh Đắk Lắk càng thêm trọn vẹn khi nhiều quần chúng ưu tú được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Những đảng viên trẻ là người dân tộc thiểu số đang từng ngày khẳng định vai trò tiên phong, góp sức xây dựng buôn làng ngày càng phát triển.

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Tết hạnh phúc của 'con nuôi Công an xã'

Những ngày giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, không khí Xuân dường như ấm áp hơn tại buôn Tul B, xã Ea Wer, tỉnh Đắk Lắk. Với các em nhỏ là “con nuôi Công an xã”, Tết năm nay không chỉ có bánh kẹo, quần áo mới mà còn trọn vẹn yêu thương từ những “người bố đặc biệt” cán bộ, chiến sĩ Công an xã Ea Wer.

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Bổ sung nguồn lực trẻ cho Đảng nơi vùng cao, biên giới

Xác định tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên là hạt nhân chính trị ở cơ sở, Đảng bộ tỉnh Lào Cai chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; trong đó phát triển đảng viên trẻ năng động, tiêu biểu người dân tộc thiểu số, góp phần quan trọng bổ sung nguồn lực mới cho Đảng.

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Nam kỹ sư bền bỉ đổi mới vì hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững

Trong phong trào thi đua yêu nước của công nhân, lao động tỉnh Thái Nguyên, nhiều tấm gương điển hình đã và đang lan tỏa mạnh mẽ tinh thần lao động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, bền bỉ theo đuổi hành trình cải tiến kỹ thuật, đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và địa phương.

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Truyền lửa thể thao truyền thống của người Mường

Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công”, anh Bùi Văn Miệt (49 tuổi, dân tộc Mường) tại xã Tân Lợi (Đồng Nai) là tấm gương sáng trong việc giữ gìn và truyền lửa các môn thể thao dân tộc.

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Bác sĩ của đồng bào vùng biên

Tại vùng biên giới tỉnh Đồng Nai, bác sĩ Bùi Thị Thu Liễu (51 tuổi, Trưởng Trạm Y tế xã Hưng Phước) thầm lặng cống hiến, dốc hết nhiệt huyết, tình yêu nghề để chăm sóc sức khỏe nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là tấm gương điển hình tiên tiến giai đoạn 2020-2025 được ngành Y tế tỉnh Đồng Nai vinh danh.

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Thanh niên dân tộc thiểu số Gia Lai sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc

Công tác chuẩn bị cho đợt tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2026 tại các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai đang được triển khai nghiêm túc, trách nhiệm. Nhiều thanh niên đã chủ động viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ, thể hiện tinh thần xung kích, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng với Tổ quốc.

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

Người 'truyền lửa' nơi vùng đất khó biên cương

A Thái (sinh năm 1992, dân tộc Rơ Măm) là Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn của làng Le ở xã biên giới Mô Rai, tỉnh Quảng Ngãi. Anh là tấm gương sáng về tinh thần “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, đưa “ý Đảng” vào “lòng dân” một cách tự nhiên và hiệu quả, thắp lên ngọn lửa niềm tin và khát vọng vươn lên cho cả cộng đồng.

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Lặng thầm gieo chữ nơi những 'ốc đảo' bên lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ

Piêng Luống và Phia Òi là 2 trong tổng số 21 bản của xã biên giới Nhôn Mai (tỉnh Nghệ An), nằm biệt lập như những “ốc đảo” bên kia sông Nậm Nơn, thuộc lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ. Những năm qua, trong điều kiện khó khăn về kinh tế, giao thông, cơ sở hạ tầng của bản làng, các giáo viên “cắm bản” ở các điểm trường Mầm non bản Piêng Luống, Phia Òi (Trường Mầm non Nhôn Mai) vẫn bám trụ địa bàn, gần gũi với nhân dân, đem tình yêu thương con trẻ, tinh thần trách nhiệm, tâm huyết với nghề để miệt mài “gieo chữ” cho các thế hệ con em đồng bào các dân tộc nơi đây.

Thanh niên nông thôn bền bỉ làm giàu từ quê hương

Thanh niên nông thôn bền bỉ làm giàu từ quê hương

Từ những mô hình sản xuất hiệu quả tại cơ sở, nhiều thanh niên nông thôn đã khẳng định bản lĩnh, tinh thần dám nghĩ, dám làm và khát vọng làm giàu chính đáng. Với họ, Giải thưởng Lương Định Của không chỉ là sự ghi nhận xứng đáng cho nỗ lực cá nhân, mà còn là động lực để tiếp tục gắn bó với nông nghiệp, đổi mới tư duy, lan tỏa những cách làm hay, góp phần phát triển kinh tế và xây dựng quê hương.

Chàng thanh niên dân tộc Dao làm giàu từ cây chanh rừng

Chàng thanh niên dân tộc Dao làm giàu từ cây chanh rừng

Anh Hoàng Phúc Thắng (người dân tộc Dao ở thôn Bó Pằm, xã Mẫu Sơn, tỉnh Lạng Sơn) đã đi tiên phong trong phát triển kinh tế, thành lập hợp tác xã để liên kết sản xuất, xây dựng sản phẩm OCOP nhằm nâng cao giá trị nông sản địa phương... Anh Thắng trở thành một trong những điển hình nông dân sản xuất giỏi tiêu biểu của tỉnh Lạng Sơn dự Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI.

Người thầy thuốc bền bỉ cống hiến nơi địa đầu Tổ quốc

Người thầy thuốc bền bỉ cống hiến nơi địa đầu Tổ quốc

Giữa guồng quay hối hả của đời sống y tế hiện đại, nơi mỗi quyết định chuyên môn đều gắn với sinh mệnh con người, có những cán bộ quản lý bền bỉ đứng ở tuyến sau, âm thầm giữ cho “cỗ máy” bệnh viện vận hành thông suốt, an toàn và nhân văn. Bác sĩ chuyên khoa II Đoàn Lương Anh, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang là một người như thế.

Thi đua yêu nước: Người Chăm phủ xanh miền cát trắng bay

Thi đua yêu nước: Người Chăm phủ xanh miền cát trắng bay

Giữa trưa ở xã Phước Dinh, tỉnh Khánh Hòa, nắng như đổ lửa, gió từ biển thổi hun hút qua những triền cát trắng khô khát. Nhưng ở làng Tuấn Tú, những vườn măng tây xanh mướt vẫn vươn lên mạnh mẽ. Ở trung tâm gam màu đối lập ấy là ông Hùng Ky (sinh năm 1969), người Chăm hiền lành, dáng người rắn rỏi được bà con trìu mến gọi là “người phủ xanh cát trắng bay”.

'Thầy giáo số' quân hàm xanh

'Thầy giáo số' quân hàm xanh

Những cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tại Lai Châu giúp người dân tiếp cận các kỹ năng số cơ bản còn được gọi trìu mến là “Thầy giáo số” quân hàm xanh. Những "giáo viên" này đang lặng lẽ góp phần rút ngắn khoảng cách số, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi biên cương Tổ quốc.

Dẫn dắt đồng bào dân tộc thiểu số cùng vượt khó làm giàu

Dẫn dắt đồng bào dân tộc thiểu số cùng vượt khó làm giàu

Từ mảnh đất Cao Bằng, ông Lâm Văn Giàng (sinh năm 1968, người dân tộc Tày) theo gia đình vào lập nghiệp trên vùng đất đỏ Miền Đông tại ấp Chà Lon, nay thuộc xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai, từ đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. Bằng ý chí kiên cường và sự nỗ lực không ngừng, ông đã xây dựng thành công một mô hình kinh tế tổng hợp quy mô lớn, mang lại thu nhập hơn 6 tỷ đồng/năm. Ông Giàng trở thành một trong những điển hình nông dân sản xuất kinh doanh giỏi tiêu biểu của cả nước.

Người Sư cả 'nặng lòng' với cộng đồng người Chăm

Người Sư cả 'nặng lòng' với cộng đồng người Chăm

Ở vùng đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn tại tỉnh Lâm Đồng, Sư cả Thường Xuân Hữu (sinh năm 1947), Chủ tịch Hội đồng chức sắc Bàlamôn giáo tỉnh là người được bà con tin yêu, kính trọng. Không chỉ tận tâm dẫn dắt tín đồ trong sinh hoạt tôn giáo, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, ông còn là người có uy tín tiêu biểu, gương mẫu vận động đồng bào chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng nếp sống văn minh, góp phần bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thắp lửa khởi nghiệp cho thanh niên vùng khó

Thắp lửa khởi nghiệp cho thanh niên vùng khó

Sinh năm 1995 tại xã Phú Túc (tỉnh Gia Lai), anh Kpă Séo, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp và Dịch vụ thanh niên xã Đất Bằng, là một trong những gương mặt thanh niên tiêu biểu của địa phương trong phong trào thi đua lao động sản xuất, khởi nghiệp và xây dựng nông thôn mới.

Hiến đất mở đường, tháo gỡ 'điểm nghẽn' hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Hiến đất mở đường, tháo gỡ 'điểm nghẽn' hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thực hiện khâu đột phá của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Ia Hiao lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 về tập trung lãnh đạo, chỉ đạo vận động nhân dân hiến đất mở rộng đường giao thông nông thôn, phong trào hiến đất làm đường tại xã Ia Hiao (tỉnh Gia Lai) thời gian qua đã lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng.

Lớp học tình thương nơi rốn lũ

Lớp học tình thương nơi rốn lũ

Giữa xã Thiên Nhẫn - nơi được mệnh danh là “rốn lũ” của tỉnh Nghệ An có một ngôi trường không còn tiếng trống, không cờ hoa. Thế nhưng, vào mỗi dịp cuối tuần, nơi đây lại rộn ràng tiếng cười nói và tinh thần ham học của hơn 30 học trò tiểu học đặc biệt. Đó là lớp học tình thương do các cựu giáo chức tâm huyết tổ chức cho những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn được tiếp thêm kiến thức, kỹ năng và hơi ấm yêu thương.

Người phụ nữ Khmer giữ nét vẽ tranh trên kiếng ở xã Thuận Hòa

Người phụ nữ Khmer giữ nét vẽ tranh trên kiếng ở xã Thuận Hòa

Nghệ nhân Triệu Thị Vui, 67 tuổi, ở xã Thuận Hòa (TP Cần Thơ), được biết đến như “người giữ lửa” của nghề vẽ tranh trên kiếng truyền thống, một nét nghệ thuật đặc trưng của văn hóa Khmer Nam Bộ. Qua từng nét vẽ tinh tế, bà tái hiện các tích Phật, mang giá trị nghệ thuật và đậm tính tâm linh, đồng thời truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ, góp phần gìn giữ sắc màu tranh kiếng Khmer đang ngày càng hiếm người theo loại tranh thủ công này.

Chàng trai người Tày với thương hiệu Chè Chốt 468

Chàng trai người Tày với thương hiệu Chè Chốt 468

Với ý chí vươn lên và khát vọng làm giàu ngay trên mảnh đất biên cương, anh Lý Đức Dân (người dân tộc Tày, thôn Nà Toong, xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) đã trở thành một trong 36 thanh niên tiêu biểu được Trung ương Đoàn tuyên dương năm 2025.

Tuyên dương đồng bào dân tộc thiểu số vượt khó, sáng tạo

Tuyên dương đồng bào dân tộc thiểu số vượt khó, sáng tạo

Ngày 3/12, UBND tỉnh Đồng Nai tổ chức Hội nghị biểu dương các gương điển hình tiên tiến trong đồng bào dân tộc thiểu số năm 2025, nhằm tôn vinh những cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất, học tập và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

'Cầu nối' phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa Khmer​​

'Cầu nối' phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa Khmer​​

Hơn 10 năm nay, ông Thạch Bình, 63 tuổi, người dân tộc Khmer - người có uy tín tiêu biểu tại xã Nha Bích (Đồng Nai) được người dân biết đến bởi tinh thần nhiệt huyết, tận tâm trong công việc và luôn gương mẫu trong cộng đồng. Với vai trò là người có uy tín, ông đã và đang trở thành cầu nối quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer tại địa phương.

Những nữ 'nông dân số' ở Lào Cai

Những nữ 'nông dân số' ở Lào Cai

Những năm qua, công tác phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến đã được các cấp, ngành tỉnh Lào Cai chú trọng thực hiện, qua đó xuất hiện nhiều tấm gương trong cộng đồng đi đầu về phát triển kinh tế, xã hội.

Người có uy tín - Điểm tựa niềm tin cộng đồng

Người có uy tín - Điểm tựa niềm tin cộng đồng

Giữa không gian núi rừng Điện Biên, lực lượng người có uy tín từ lâu giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng. Am hiểu phong tục, tiếng nói địa phương, họ là cầu nối đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với người dân một cách gần gũi và thuyết phục.

Giữ ngọn lửa yêu văn hóa dân tộc cho trẻ em vùng biên

Giữ ngọn lửa yêu văn hóa dân tộc cho trẻ em vùng biên

Sinh ra trong gia đình có truyền thống dạy tiếng Khmer, cô Thạch Thị Phắt Cà Đi, giáo viên Trường Tiểu học Hòa Đông (xã Phước Vinh, tỉnh Tây Ninh) nỗ lực học tập và chọn mảnh đất vùng biên tỉnh Tây Ninh gắn bó với nghề giáo.