Nghệ nhân ưu tú Nông Văn Nảo, người dân tộc Thái, xã Mường So cho biết, Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu còn được biết đến với ý nghĩa mừng cơm mới, thể hiện sự trân trọng đối với thành quả lao động và lòng biết ơn của con người trước thiên nhiên, đất trời. Qua các nghi lễ truyền thống, đồng bào gửi gắm ước vọng về mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, bản làng bình yên, cuộc sống no ấm, hạnh phúc.
Điểm nhấn của lễ hội là các nghi thức rước hồn lúa, cúng hồn lúa, giã cốm, cúng thần linh bản mường, thụ lễ và phát lộc cầu may. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và trò chơi dân gian tạo nên không khí sôi nổi, thu hút sự tham gia của người dân. Những điệu múa, lời ca truyền thống cùng các phần thi đập lúa, giã cốm và nghệ thuật trình diễn dân gian góp phần tái hiện sinh động đời sống lao động, sinh hoạt văn hóa của đồng bào, phản ánh quan niệm của cộng đồng về mối quan hệ gắn bó giữa con người với thiên nhiên, đồng thời thể hiện đạo lý trân trọng hạt thóc, hạt gạo và công sức lao động của người nông dân.
Phong Thổ là địa bàn có đời sống văn hóa phong phú, nơi các cộng đồng dân tộc cùng sinh sống, đoàn kết và tạo dựng những nét đặc trưng trong sinh hoạt cộng đồng. Những năm qua, cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống gắn với phát triển kinh tế - xã hội và quảng bá tiềm năng du lịch.
Phó Chủ tịch UBND xã Phong Thổ Cao Văn Trinh nhấn mạnh, trong bối cảnh nhu cầu trải nghiệm văn hóa bản địa của du khách ngày càng được quan tâm, các lễ hội truyền thống như Kin Lẩu Khẩu Mẩu có ý nghĩa quan trọng trong việc giới thiệu hình ảnh vùng đất, con người Phong Thổ. Thông qua những nghi lễ đặc sắc, các hoạt động trình diễn dân gian và không gian giao lưu cộng đồng, du khách có thêm cơ hội tìm hiểu đời sống văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc Thái.
Việc tổ chức lễ hội vì vậy không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tinh thần của nhân dân mà còn mở ra cơ hội khai thác các giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch. Khi được tổ chức phù hợp, gắn với gìn giữ bản sắc và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, những lễ hội truyền thống có thể trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng, góp phần tạo sức hấp dẫn cho điểm đến.
Để phát huy hiệu quả giá trị của lễ hội, việc bảo tồn cần được thực hiện thường xuyên, có sự tham gia tích cực của nghệ nhân, người am hiểu phong tục và cộng đồng dân cư. Cùng với đó, cần chú trọng truyền dạy các nghi lễ, làn điệu dân ca, điệu múa và trò chơi dân gian cho thế hệ trẻ; bảo đảm các hoạt động quảng bá, khai thác du lịch không làm biến dạng những giá trị nguyên gốc của di sản.
Lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu năm 2026 tiếp tục khẳng định sức sống của văn hóa truyền thống trong cộng đồng người Thái ở Phong Thổ, góp phần nâng cao ý thức gìn giữ di sản, củng cố khối đoàn kết các dân tộc và từng bước đưa những giá trị văn hóa đặc sắc của địa phương đến gần hơn với du khách trong và ngoài tỉnh.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn