Người giữ lửa bên khung cửi truyền thống
Sau khi nghỉ hưu, bà Hoàng Thị Thoát xã Yên Châu (Sơn La) dành gần như toàn bộ thời gian với công tác bảo tồn văn hóa dân tộc Thái. Từ việc mở lớp dạy chữ Thái, truyền dạy dân ca, hướng dẫn nghề dệt thổ cẩm đến vận động xây dựng Nhà bảo tồn văn hóa Thái, bà luôn là người đi đầu trong các hoạt động gìn giữ bản sắc tại địa phương.
Không gian Nhà bảo tồn văn hóa Thái, được hình thành từ nhiều năm tâm huyết của bà và cộng đồng, giờ đây không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật mà còn trở thành điểm sinh hoạt văn hóa của địa phương. Chính tại đây, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Yên Châu đã lựa chọn là nơi Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm sinh hoạt, mở thêm một hành trình mới cho nghề truyền thống.
Được chị em tín nhiệm bầu làm Tổ trưởng, bà Thoát cho biết niềm vui đi kèm với trách nhiệm lớn hơn. Điều khiến bà đau đáu nhiều năm qua là số người còn gắn bó với nghề dệt ngày càng ít. Nhiều phụ nữ biết dệt nhưng không còn ngồi vào khung cửi vì sản phẩm khó tiêu thụ, thu nhập bấp bênh; trong khi lớp trẻ ngày càng xa những hoa văn, đường chỉ mang đậm bản sắc dân tộc.
"Tôi mong nghề dệt không chỉ còn là ký ức hay chỉ được mang ra trình diễn trong những dịp lễ hội. Muốn giữ được nghề thì trước hết người làm nghề phải sống được bằng nghề. Khi sản phẩm có đầu ra ổn định, chị em mới yên tâm gắn bó, còn thế hệ trẻ mới thấy nghề truyền thống cũng có thể mang lại giá trị kinh tế", bà Thoát chia sẻ.
Theo bà Thoát, Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm sẽ là nơi tập hợp những người còn yêu nghề, cùng truyền dạy kỹ thuật dệt truyền thống, giữ gìn những hoa văn đặc trưng của dân tộc Thái, đồng thời nghiên cứu cải tiến mẫu mã để sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu thị trường nhưng vẫn bảo đảm giá trị văn hóa vốn có. Bà cũng kỳ vọng các sản phẩm thổ cẩm sẽ được quảng bá trên các nền tảng số, kết nối với các điểm du lịch để đưa hình ảnh thổ cẩm Yên Châu đến gần hơn với người tiêu dùng.
"Tôi chỉ mong sau này sẽ có nhiều người trẻ tiếp tục ngồi bên khung cửi, biết dệt, biết yêu và tự hào về văn hóa dân tộc mình. Khi đó, tôi mới thực sự yên tâm rằng những giá trị cha ông để lại sẽ không mất đi theo thời gian", bà Thoát tâm sự.
Để nghề truyền thống trở thành sinh kế
Ngày 24/7, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Yên Châu chính thức thành lập Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm với 10 thành viên. Không chỉ là nơi quy tụ những người còn giữ nghề, tổ còn hướng tới sản xuất các sản phẩm phục vụ người dân và khách du lịch, hỗ trợ hội viên nâng cao tay nghề, liên kết tiêu thụ sản phẩm, đồng thời đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số như Facebook, Zalo, TikTok và các sàn thương mại điện tử.
Theo bà Hoàng Thị Thu, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Yên Châu, việc thành lập tổ xuất phát từ thực tế nghề dệt truyền thống của đồng bào dân tộc Thái đang đứng trước nguy cơ mai một khi số người biết dệt ngày càng ít, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Trong khi đó, thổ cẩm vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của đồng bào Thái, từ trang phục truyền thống, khăn piêu, chăn đệm đến các sản phẩm sử dụng trong cưới hỏi và nhiều nghi lễ của cộng đồng. Vì vậy, bảo tồn nghề dệt cũng chính là gìn giữ một phần bản sắc văn hóa dân tộc.
Để mô hình hoạt động hiệu quả, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã sẽ duy trì sinh hoạt định kỳ, tổ chức các lớp tập huấn về thiết kế mẫu mã, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và hướng dẫn hội viên ứng dụng chuyển đổi số trong quảng bá, bán hàng trực tuyến. Cùng với đó là kết nối với doanh nghiệp, hợp tác xã, các điểm du lịch, hội chợ và chương trình xúc tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ cho sản phẩm thổ cẩm xã Yên Châu.
Theo bà Thu, đây cũng là một trong những hoạt động cụ thể hóa Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại địa phương. Mục tiêu không chỉ là giữ gìn nghề truyền thống mà còn tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho phụ nữ, từng bước đưa nghề dệt gắn với phát triển du lịch cộng đồng và kinh tế địa phương. Hội sẽ tiếp tục khuyến khích các nghệ nhân truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ, đồng thời lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia để hỗ trợ đào tạo nghề, quảng bá sản phẩm và kết nối thị trường, hướng tới xây dựng Tổ Phụ nữ dệt thổ cẩm trở thành mô hình kinh tế tập thể hoạt động bền vững.
Tên tự gọi: Tay hoặc Thay
Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.
Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).
Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).
Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.
Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.
Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.
Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...
Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.
Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.
Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.
Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.
Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).
Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:
Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.
Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.
Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.
Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:
Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).
Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.
Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.
Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.
Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.
Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.
Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.
Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.
Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.
Theo cema.gov.vn