Người giữ hồn Thái giữa bản làng đổi thay

Giữa nhịp sống hiện đại đang cuốn theo sự đổi thay mạnh mẽ ở vùng cao, vẫn có những người lặng lẽ gìn giữ các giá trị văn hoá dân tộc, với mong muốn bảo tồn và phát huy cho những thế hệ sau này.

Sau khi nghỉ hưu, bà Hoàng Thị Thoát (dân tộc Thái, sinh năm 1962) vẫn miệt mài đi khắp các bản làng xã Chiềng Sàng cũ (nay thuộc xã Yên Châu, Sơn La), để truyền cho con cháu niềm tự hào và ý thức gìn giữ văn hóa dân tộc Thái.

Hành trình dựng lại không gian văn hóa

Cơ duyên đưa bà Thoát đến với việc tham gia bảo tồn văn hóa dân tộc Thái xuất phát từ những trăn trở rất đời thường. Dù đã biết chữ Thái từ khi còn nhỏ, nhưng theo thời gian, do sử dụng không thường xuyên, nên ngôn ngữ của bà bị mai một đi nhiều. Đến năm 2014, khi có cơ hội học lại chữ Thái, bà như được “đánh thức” một phần ký ức văn hóa đã ngủ quên.

anh1-bai1.jpg
Bà Thoát (bên phải) đang phân tích ý nghĩa hoa văn thổ cẩm cho các cháu nhỏ.

Cũng nhờ đó, bà nhận ra thực tế đáng lo ngại: Nhiều giá trị văn hóa của dân tộc Thái, từ tiếng nói, chữ viết, đến trang phục và phong tục tập quán, đang dần biến mất trong đời sống hàng ngày. Sự thay đổi nhanh chóng của xã hội, cùng với xu hướng hội nhập, khiến lớp trẻ ít quan tâm hơn đến văn hóa truyền thống. Những hình ảnh quen thuộc như áo cóm, khăn piêu, những câu hát dân ca, hay tiếng Thái trong sinh hoạt gia đình, ngày càng thưa vắng.

anh2-bai1.jpg
Bà Thoát chia sẻ nỗi lo khi không có lớp trẻ kế nhiệm.

Bà Thoát tâm sự: “Lớp thanh niên trẻ mải làm quen với văn hoá hiện đại, nên dần xa rời dân ca, chữ viết và phong tục dân tộc; nếu không có người gìn giữ, thế hệ sau dễ mất gốc, là người Thái nhưng không biết nói, hiểu hay thực hành văn hóa của dân tộc mình”.

Năm 2021, bà Thoát thành lập Câu lạc bộ bảo tồn văn hóa Thái tại địa phương. Những ngày đầu, câu lạc bộ chỉ có hơn 20 hội viên, chủ yếu là những người có chung niềm yêu thích văn hóa dân tộc. Hoạt động lúc đó cũng khá đơn giản, chỉ là các cuộc giao lưu, học hỏi giữa các bản với nhau.

“Không có ai đứng ra bảo vệ và giữ gìn bản sắc thì sẽ mất hết. Và dù có đứng ra, thì cũng không phải vì có lợi ích gì cho bản thân mình, mà là “lợi ích” những đứa bé còn trong bụng mẹ, những đứa trẻ mới lớp 1, lớp 2; vì khi lớn lên, chúng sẽ biết người Thái có bản sắc riêng, biết cách quấn khăn Piêu, biết dệt thổ cẩm”, bà Thoắt chia sẻ.

anh3-bai1.jpg
Vòng xòe đoàn kết trong buổi giao lưu văn hóa.

Theo thời gian, với sự kiên trì và tâm huyết, câu lạc bộ dần phát triển. Đến nay, số lượng hội viên đã tăng lên gần 60 người. Không dừng lại ở giao lưu văn nghệ, câu lạc bộ đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực nhằm phục dựng và lan tỏa văn hóa Thái.

Gìn giữ bằng những hành động thiết thực

Năm 2023, bà Thoát kêu gọi thành lập Nhà bảo tồn văn hóa Thái. Suốt hai tháng, bà lặn lội đến các sở, ban, ngành của tỉnh Sơn La để trình bày, xin ý kiến, mong muốn có một ngôi nhà sàn để lưu giữ hiện vật, tái hiện đời sống và trở thành không gian sinh hoạt, giao lưu văn hóa của cộng đồng người Thái.

anh4-bai1.jpg
Không gian nhà bảo tồn văn hóa Thái.

Dù nhận được sự đồng thuận của chính quyền, nhưng quá trình triển khai gặp không ít khó khăn: Thiếu quỹ đất, thiếu nhân lực, mọi việc gần như bắt đầu từ con số không… Sau nhiều lần làm việc với chính quyền địa phương, phương án xây dựng bằng nguồn xã hội hóa được lựa chọn.

anh5-bai1.jpg
Một buổi sinh hoạt Câu lạc bộ văn hóa Thái tại nhà bảo tồn.

Không chùn bước, bà tiếp tục rong ruổi khắp các bản làng, trực tiếp vận động từng hộ dân ủng hộ, mỗi nhà 50.000 đồng, ai khá giả hơn thì góp thêm. Sự kiên trì ấy dần lan tỏa, thu hút sự chung tay của chính quyền, đoàn thể và các nhà hảo tâm, đặc biệt là nhóm Giao lưu văn hóa Thái Việt Nam. Từ sự đồng lòng đó, nhà bảo tồn văn hóa từng bước được dựng lên.

anh6-bai1.jpg
Bà Thoát phải đi khắp các bản trong xã để xin, mua những vật dụng để trưng bày tại nhà bảo tồn văn hóa.

Có nhà rồi, bà Thoát lại tiếp tục đi xin hiện vật: Từ khung cửi, chiếc “ếp” đựng cơm, cái nơm, cái đó đến từng tấm khăn vải… Không phải ai cũng sẵn lòng cho. “Không gian bảo tồn này không tự nhiên mà có. Tôi phải đi khắp nơi xin ý kiến để có đất dựng nhà sàn, vừa làm nơi sinh hoạt cộng đồng, vừa đón khách tìm hiểu văn hóa Thái. Việc vận động người dân hiến tặng hiện vật trưng bày cũng không đơn giản, nhiều người thà bỏ đi chứ không cho, thậm chí hỏi mua cũng không bán”.

anh7-bai1.jpg
Lễ hội Mừng Cơm mới xã Yên Châu năm 2025 được tổ chức tại nhà bảo tồn văn hóa Thái.

Từ khi đi vào hoạt động, Nhà bảo tồn văn hóa Chiềng Sàng trở thành điểm hẹn văn hóa của địa phương, nơi nhiều lễ hội truyền thống như mừng cơm mới, cầu mưa, buộc chỉ cổ tay được phục dựng; các hoạt động giao lưu văn nghệ diễn ra thường niên, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, từ tháng 7/2025, sau khi xã Chiềng Sàng sáp nhập vào xã Yên Châu theo mô hình chính quyền hai cấp, công tác bảo tồn bắt đầu gặp khó. Không còn lực lượng trông coi thường xuyên, ngôi nhà được giao cho bà Thoát tự quản lý.

Mỗi ngày, bà phải đi lại nhiều lần để quét dọn, trông nom; đồng thời phải đối mặt với tình trạng mất cắp, phá hoại xảy ra do thiếu nhân lực trông coi. Nhiều hiện vật giá trị bị lấy đi, từ vải thổ cẩm đến đồ dùng kim loại; nhà sàn xuống cấp với gương vỡ, chốt hỏng, bản lề gãy, đồ đạc bị xáo trộn.

anh8-bai1.jpg
Nhóm du khách Thái Lan đến thăm nhà bảo tồn văn hóa Thái tại xã Yên Châu.
anh9-bai1.jpg
Các em học sinh tìm hiểu về bản sắc văn hóa dân tộc Thái.

“Tôi cũng báo công an nhiều lần rồi, nhưng không thể lúc nào cũng có người canh giữ. Ai cũng còn phải lo mưu sinh. Chúng nó tinh vi lắm, lấy cả những tấm vải trị giá hàng triệu đem bán…”, bà Thoát nghẹn ngào chia sẻ.

Dù đối mặt nhiều khó khăn, bà Thoát vẫn kiên định quan điểm: Bảo tồn văn hóa phải bắt đầu từ những điều gần gũi nhất như nói tiếng mẹ đẻ trong gia đình, mặc trang phục truyền thống dịp lễ, dạy con cháu hiểu phong tục.

Theo bà, gia đình là “mắt xích” then chốt trong truyền giữ văn hóa; nếu cha mẹ không sử dụng tiếng Thái trong sinh hoạt hằng ngày, con cái sẽ dần xa rời, còn trang phục truyền thống vắng bóng sẽ trở thành ký ức xa lạ.

anh10-bai1.jpg
Bà Thoát đang dạy các cháu nhỏ dệt thổ cẩm.

Nhận thức rõ bảo tồn không thể tách rời đời sống kinh tế, bà cùng câu lạc bộ đang hướng tới mô hình kết hợp giữa gìn giữ văn hóa và phát triển sinh kế.

“Phải có sản phẩm, có đầu ra thì chị em mới yên tâm làm, vừa giữ nghề, vừa phát triển kinh tế. Câu lạc bộ mong được các cấp, ngành hỗ trợ thúc đẩy du lịch tại nhà bảo tồn văn hóa Thái, tạo nguồn khách và đầu ra ổn định cho sản phẩm thủ công. Hiện nay, các thành viên vẫn duy trì sản xuất tập trung, tranh thủ thời gian nông nhàn để dệt thổ cẩm, làm khăn piêu”, bà Thoát chia sẻ.

anh11-bai1.jpg
Ông Lò Đức Việt - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Châu.

Theo ông Lò Đức Việt - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Châu, bà Hoàng Thị Thoát là người có nhiều đóng góp quan trọng trong việc gìn giữ và truyền dạy văn hóa Thái, từ tiếng nói, chữ viết đến các điệu xòe, nghề dệt và ẩm thực truyền thống, qua đó góp phần lan tỏa giá trị văn hóa và khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong cộng đồng.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Dịp Lễ hội Nguyên Tiêu hàng năm, bà con người Hoa thường tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc tại các hội quán ở khu vực Chợ Lớn.

Thầy giáo Trần Thích - cầu nối tin cậy của bà con người Hoa Chợ Lớn

Am hiểu tiếng nói, phong tục và đời sống của bà con, thầy giáo Trần Thích, nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học Châu Văn Liêm, nhiều năm trực tiếp tuyên truyền chính sách, tham gia hòa giải, vận động nguồn lực chăm lo an sinh và khuyến học. Với ông, muốn người dân đồng thuận, trước hết phải gần gũi, lắng nghe và tạo dựng niềm tin.

Cô gái Mông 'gùi' luật lên non

Cô gái Mông 'gùi' luật lên non

Từng là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu gắn liền với định kiến giới khắt khe, thay vì chấp nhận số phận, cô gái trẻ Sùng Thị Sơ (Lào Cai) đã lựa chọn con đường học vấn để tự giải cứu chính mình và trở thành người mang kiến thức pháp luật đến các bản làng.

Người có uy tín - cầu nối đưa pháp luật đi vào cuộc sống

Người có uy tín - cầu nối đưa pháp luật đi vào cuộc sống

Mảnh đất vùng biên Quảng Trực (Lâm Đồng) đang tiếp tục thay da đổi thịt và khoác lên mình một diện mạo mới. Thành quả này là nhờ sự ưu tiên nguồn lực của Trung ương và địa phương, sự chung sức, chung lòng của cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn xã; đặc biệt là vai trò nêu gương cũng như tấm lòng vì cộng đồng của các già làng, người có uy tín vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Tại Điện Biên, thời gian qua nhiều phụ nữ vùng cao luôn đi đầu trong các phong trào, phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và vận động hội viên cùng vươn lên. Họ chính là những “thủ lĩnh phụ nữ” ở cơ sở.

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Cứ mỗi dịp hè đến, những người lính mang quân hàm xanh của Đồn Biên phòng Ia Púch, tỉnh Gia Lai, lại trở thành những người thầy bồi đắp kiến thức cho các học sinh nghèo vùng biên giới. Suốt 5 năm qua, lớp học đã trở thành địa chỉ thân thuộc của các em có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bận mưu sinh, ít có điều kiện kèm cặp việc học được củng cố kiến thức, duy trì thói quen học tập và vui chơi lành mạnh trong những ngày hè.

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Cùng với việc chủ động “4 tại chỗ” của các địa phương, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã ở tỉnh Lào Cai đang bám địa bàn, kịp thời phát hiện nguy cơ, triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân trong mùa mưa lũ, không để bị động, bất ngờ.

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Từ sự kiên trì, gần dân của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, nhiều hộ dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã sẵn sàng tháo dỡ công trình, nhường đất vì lợi ích chung. Những mét vuông đất được người dân tự nguyện hiến tặng không chỉ để mở rộng những con đường mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, trách nhiệm vì cộng đồng.

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Đến cuối tháng 7, việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo các thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã hoàn tất. Tại nhiều xã vùng núi phía Tây, bà con nhân dân trong các thôn đã tin tưởng, tín nhiệm bầu lên các trưởng thôn “GenZ”. Với sức trẻ, nhiệt huyết, cùng sự năng động, sáng tạo và thích nghi với thời đại công nghệ 4.0, những trưởng thôn “GenZ” được kỳ vọng mang đến "luồng sinh khí" mới, giúp các thôn vùng sâu, vùng xa ngày càng được khởi sắc, phát triển.

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Từng xông pha trong lửa đạn, cống hiến tuổi trẻ, xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc, nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, nhiều thương binh, bệnh binh ở xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai lại tiếp tục nỗ lực trên “mặt trận” làm kinh tế, góp phần vào sự phát triển của địa phương.

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Giữa những dãy núi trùng điệp của xã Sơn Tây (Quảng Ngãi), nơi cuộc sống của đồng bào Ca Dong vẫn còn nhiều nhọc nhằn, có một ngôi nhà mới vừa được dựng lên trên khu đất an toàn sau thiên tai.

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Hơn ba thập kỷ gắn bó với công việc chung, ông Lỷ A Sy (sinh năm 1952, dân tộc Nùng), người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn Hòa Bình, xã Sông Lũy, tỉnh Lâm Đồng luôn là cầu nối giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân. Bằng tinh thần trách nhiệm và sự gương mẫu, ông đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động người dân chung sức xây dựng nông thôn mới và giữ gìn bình yên nơi xóm làng.

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Ở xã vùng cao Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai, Bí thư chi bộ thôn Cung 11 (trước sáp nhập) Sùng A Mùa bằng sự nỗ lực quyết tâm cùng với nghị lực phi thường đã vượt qua cám dỗ và mặc cảm để đứng dậy sau vấp ngã rồi phấn đấu trở thành người có uy tín trong cộng đồng.

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Nhiều hộ dân ở xã Tân Lợi, thành phố Đồng Nai đang tự nguyện hiến hàng ha đất cùng những vườn cây đang cho thu hoạch để mở đường giao thông. Dù phải chấp nhận thiệt thòi trước mắt, người dân vẫn sẵn sàng chung sức vì lợi ích lâu dài của cộng đồng, góp phần đẩy nhanh tiến độ các công trình và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Ngày 1/7, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố điểm thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026, em Đặng Quỳnh Trang, học sinh lớp 12C3, Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn, là gương mặt xuất sắc của tỉnh Điện Biên trên bảng vàng thủ khoa tổ hợp A00 cả nước với tổng điểm 29,5; trong đó đạt điểm tuyệt đối ở hai môn Toán 10, Hóa 10 và Vật lý 9,5 điểm.

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Tốt nghiệp chương trình cao đẳng ngành Dược tại Huế, cô gái trẻ người Bru - Vân Kiều Hồ Thị Thiết (sinh năm 2002) không chọn ở lại thành phố lập nghiệp như nhiều bạn bè cùng trang lứa. Với tình yêu tha thiết dành cho quê hương, Thiết đã chọn trở về thôn Chênh Vênh, xã biên giới Hướng Phùng (tỉnh Quảng Trị), nơi mình sinh ra và lớn lên.

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Sinh ra ở một bản vùng cao còn nhiều khó khăn tại Tuyên Quang, Giàng Thị Pà chưa từng nghĩ có ngày mình sẽ học đại học, càng không nghĩ sẽ tốt nghiệp cùng lúc hai bằng đại học. Thế nhưng từ những câu chuyện vượt khó của bố mẹ, cô gái người Mông đã từng bước chinh phục con đường tri thức và lựa chọn trở về cống hiến cho quê hương.

Người giữ tiếng kèn Saranai

Người giữ tiếng kèn Saranai

Ở làng Chăm Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng, có một người cao tuổi vẫn lặng lẽ dành trọn tâm huyết cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và vun đắp khối đoàn kết trong cộng đồng. Đó là già làng Thông Long, người có uy tín tiêu biểu của đồng bào Chăm, được bà con quý trọng bởi những đóng góp bền bỉ trong bảo tồn văn hóa truyền thống cũng như vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.