Bảo tồn tiếng nói, chữ viết của đồng bào Khmer dưới mái chùa

Tỉnh Cà Mau hiện có 28 ngôi chùa của Phật giáo Nam tông Khmer. Trong nhiều năm qua, cứ vào dịp hè, các ngôi chùa Khmer tại Cà Mau mở các lớp dạy chữ Khmer, thu hút đông đảo học sinh tham gia.

ca-mau2-19826.jpg
Hòa thượng Tăng Sa Vong, Phó trưởng Ban thường trực Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Cà Mau, Trụ trì chùa Cái Giá chót (xã Hưng Hội, tỉnh Cà Mau) hướng dẫn học sinh học tiếng Khmer. Ảnh: TTXVN phát

Những lớp dạy chữ Khmer không chỉ cung cấp cho các em kiến thức mà còn góp phần bảo tồn chữ viết, gìn giữ tiếng mẹ đẻ cũng như những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của đòng bào dân tộc.

Gìn giữ tiếng mẹ đẻ từ những lớp học hè

Trong mùa hè năm nay, chùa Xiêm Cán (phường Hiệp Thành) tổ chức 18 lớp dạy chữ Khmer, thu hút gần 400 học sinh từ tiểu học đến trung học phổ thông trên địa bàn tham gia. Sau hơn 2 tháng học tập, các em đã hoàn thành chương trình, trong đó 74 em được khen thưởng vì có thành tích xuất sắc.

Hòa thượng Dương Quân, Trụ trì chùa Xiêm Cán cho biết, việc duy duy trì tổ chức các lớp dạy chữ Khmer vào dịp hè giúp các em biết đọc, biết viết; đồng thời hiểu thêm phong tục, tập quán và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhà chùa sẽ tiếp tục đồng hành của chính quyền, Mặt trận tổ quốc phường Hiệp Thành và các nhà hảo tâm tạo điều kiện để các em học tập, gìn giữ tiếng nói, chữ viết Khmer trong thòi gian tới.Tại chùa Cái Giá chót (xã Hưng Hội, tỉnh Cà Mau), lớp dạy chữ Khmer gồm các em học sinh ở những lứa tuổi khác nhau, từ những em mới vào học lớp 1 đến những em đang học trung học cơ sở, trung học phổ thông.

Việc dạy và học chữ Khmer được nhà chùa tổ chức khá bài bản, đáp ứng đày đủ các tiêu chí có một lớp học, có bàn ghế, bảng đen, phấn trắng cũng như giáo trình để giảng dạy. Hòa thượng Tăng Sa Vong, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Cà Mau, Trụ trì chùa Cái Giá chót (xã Hưng Hội) cho rằng, các lớp dạy hè tiếng Khmer tại các chùa có ý nghĩa quan trọng với người dân Khmer.

Ngoài dạy chữ Khmer, nhà chùa còn dạy cả văn hóa truyền thống, lịch sử, giáo lý nhà Phật và đạo làm người, qua đó góp phần bảo tồn, gìn giữ tiếng mẹ đẻ và giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc. Hè năm nay, chùa Cái Giá chót mở 4 lớp dạy chữ Khmer từ lớp 1 đến lớp 3 thu hút 170 học sinh tham gia. “Nhà chùa hỗ trợ các em tiền mua, in đồng phục, trang bị tập, viết, hỗ trợ tiền giảng dạy cho các giáo viên thỉnh giảng. Chùa cũng dành gần 50 triệu đồng để khen thưởng cho các em khi kết thúc lớp học”, Hòa thượng Tăng Sa Vong cho biết.Bà Sơn Thị Sa Thia, (ấp Cái Giá, xã Hưng Hội) có cháu nội học chữ Khmer tại chùa Cái Giá chót cho biết, đây là năm thứ hai cháu của của bà học chương trình tiếng Khmer trong dịp hè.

Lớp dạy chữ Khmer hè tại chùa Xiêm Cán (phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau). Ảnh: TTXVN phát

Lớp dạy chữ Khmer hè tại chùa Xiêm Cán (phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau). Ảnh: TTXVN phát

Theo bà Sa Thia, con cháu dân tộc Khmer mà không biết chữ, biết tiếng của dân tộc mình là một thiếu sót, thiệt thòi lớn. Tham gia lớp học hè, những học sinh ngoan, học tốt còn được Hòa thượng trụ trì chùa tặng gạo, tặng quà, trao thưởng tập, viết.

Em Lâm Hiểu Vy, dân tộc Khmer, (ấp Cái Giá, xã Hưng Hội), chuẩn bị vào lớp 6 trong năm học mới 2026 - 2027 cho biết: "Bốn năm qua, năm nào em cũng tham gia lớp học Khmer hè tại chùa Cái Giá chót, với sự chỉ dạy tận tình của các vị sư, giờ đây em đã đọc và viết được ngôn ngữ của dân tộc mình. Điều này làm em thấy rất vui".

Truyền chữ, truyền cả văn hóa dân tộc

Ông Châu Phát, người có gần 20 năm dạy chữ Khmer dịp hè tại chùa tại chùa Giá Rai mới, (phường Giá Rai). Ở cái tuổi 75, ông vẫn miệt mài truyền dạy tiếng Khmer cho các em nhỏ. Với ông đó không chỉ là niềm đam mê mà còn là trách nhiệm đối với các thế hệ mai sau. Ông Châu Phát không chỉ tạo ra những buổi học gần gũi, bổ ích mà còn truyền dạy cho con em hiểu về giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Khmer. "

Dạy chữ Khmer chủ yếu giúp học sinh các kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc và viết. Việc dạy chữ Khmer tại chùa nhằm không chỉ giúp các học sinh biết được tiếng nói, chữ viết mà còn biết văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc mình", ông Châu Phát chia sẻ.

Ông Lương Văn Pho, Phó Giám đốc sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau cho biết, hè năm 2026, tỉnh Cà Mau tổ chức dạy chữ Khmer hè với 52 điểm dạy tại Chùa, Salatel với 118 lớp học, gần 2500 em học sinh tham gia học. Việc duy trì các lớp dạy chữ Khmer dịp hè không chỉ giúp con em đồng bào rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ mẹ đẻ trong thời gian nghỉ hè mà còn góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao ý thức bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng.

Học sinh đọc đánh vần chữ Khmer tại lớp học hè ở chùa Xiêm Cán (phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau). Ảnh: TTXVN phát

Học sinh đọc đánh vần chữ Khmer tại lớp học hè ở chùa Xiêm Cán (phường Hiệp Thành, tỉnh Cà Mau). Ảnh: TTXVN phát

Theo ông Lương Văn Pho, đội ngũ giáo viên giảng dạy tiếng Khmer tại các chùa được đào tạo chuyên môn bài bản, trình độ ngày càng được nâng cao. Người dạy chữ Khmer thường là các vị sư có nhiều năm tu học hay những giáo viên người Khmer, những người lớn tuổi có tâm huyết. Dù lớp học chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhưng chất lượng học tập luôn được chú trọng. Việc giảng dạy tiếng Khmer được triển khai thống nhất theo chương trình và sách giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Phó Giám đốc sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau cho biết, bên cạnh thực hiện đầy đủ, kịp thời những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, mỗi năm tỉnh cấp kinh phí hàng trăm triệu đồng hỗ trợ người dạy tiếng và chữ viết Khmer trong dịp hè.

Đây là chính sách đặc thù của tỉnh, qua đó đã giúp cho cơ sở hạ tầng vùng dân tộc từng bước phát triển, đời sống vật chất và tinh thần nâng lên rõ rệt. Diện mạo nông thôn vùng đồng bào dân tộc không ngừng khởi sắc, trình độ dân trí được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy. “Tiếng nói và chữ viết của các dân tộc nói chung, dân tộc Khmer nói riêng là một trong những yếu tố quan trọng chứa đựng các giá trị văn hóa, bản sắc của cộng đồng. Việc dạy và học chữ Khmer tại các chùa trong dịp hè không chỉ góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục, nâng cao dân trí mà còn bảo tồn văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Khmer tại địa phương”, Phó Giám đốc sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Cà Mau Lương Văn Pho chia sẻ./.

​

Tuấn Kiệt/TTXVN
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.

Tại nhiều vùng cao, tầm vóc thấp bé và chứng còi xương ở trẻ em vẫn rất phổ biến. Ảnh: V.T

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống-Bài 2: Thể trạng con người còi xương, hệ lụy khôn lường về di truyền

Hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn là căn nguyên khiến thể trạng con người và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc hạn chế, gen di truyền từ cha mẹ sang con khiến những trẻ em sinh ra thường mắc các bệnh còi xương, thấp bé... và vòng xoáy nghèo đói tiềm ẩn nơi non cao.