Chuẩn hóa giáo dục dân tộc, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Tỉnh Vĩnh Long tập trung các giải pháp nhằm tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, làm nền tảng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông và phát triển bền vững nguồn nhân lực địa phương.

vinh-long-giao-duc-11052026.jpg
Lớp học chữ Khmer hè năm 2025 tại chùa Âng, phường Nguyệt Hóa, tỉnh Vĩnh Long. Ảnh: Thanh Hòa/TTXVN

Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% học sinh cấp tiểu học và trung học cơ sở người dân tộc thiểu số đều đến trường; 100% trẻ em người dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục mầm non được tăng cường tiếng Việt trước khi vào lớp Một. Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số được học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú tăng trên 12% so với tổng số học sinh dân tộc thiểu số trong độ tuổi đi học.

Bên cạnh đó, 100% cơ sở giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số tổ chức các hoạt động tìm hiểu văn hóa dân tộc thiểu số cho học sinh; đáp ứng nhu cầu học tiếng dân tộc thiểu số, trong đó có tiếng Khmer, theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tỉnh cũng đặt mục tiêu tỷ lệ người dân tộc thiểu số trong độ tuổi từ 15 - 60 biết chữ đạt 98%; duy trì trung tâm giáo dục thường xuyên thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

Về đội ngũ giáo viên, tỉnh phấn đấu 100% cơ sở giáo dục phổ thông có học sinh đăng ký học tiếng dân tộc thiểu số bảo đảm đủ giáo viên giảng dạy theo quy định; 100% cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số được bồi dưỡng tiếng dân tộc, cập nhật kiến thức văn hóa dân tộc.

Cùng với đó, toàn bộ trường, lớp học tại các cơ sở giáo dục phổ thông vùng dân tộc thiểu số sẽ được kiên cố hóa; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia bằng tỷ lệ chung của tỉnh; được trang bị đầy đủ sách giáo khoa và thiết bị dạy học môn tiếng Khmer theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Thị Bé Mười, đến năm 2030, giáo dục dân tộc trên địa bàn tỉnh sẽ được đổi mới căn bản theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Tỉnh bảo đảm mọi người dân được tiếp cận giáo dục có chất lượng nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, đưa chất lượng giáo dục dân tộc tiệm cận mặt bằng chung của giáo dục phổ thông.

Để thực hiện mục tiêu, tỉnh sẽ rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo lộ trình phù hợp; chú trọng củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường có tổ chức dạy tiếng dân tộc thiểu số. Đồng thời, tỉnh tăng cường bồi dưỡng tiếng dân tộc, văn hóa dân tộc cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và gắn kết với phụ huynh học sinh.

Tỉnh cũng đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, phân luồng học sinh gắn với nhu cầu lao động thực tế; thu hút sự tham gia của cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, tài liệu và đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp tại trường phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên.

Ngoài ra, Vĩnh Long sẽ ưu tiên huy động nguồn lực từ các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035 cùng các dự án đầu tư công để tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nhất là phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú. Tỉnh xác định sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực tại chỗ, đặc biệt là nguồn nhân lực đồng bào dân tộc thiểu số, là một trong những khâu đột phá cho phát triển nhanh và bền vững thời gian tới./.

Phạm Minh Tuấn/TTXVN
Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Trẻ hóa cán bộ cơ sở: Tạo nguồn cho quản trị hiện đại

Trẻ hóa cán bộ cơ sở: Tạo nguồn cho quản trị hiện đại

Sau sắp xếp từ 3.797 xuống còn 2.026 khối, xóm, thôn, bản, Nghệ An đang đứng trước một cuộc chuyển giao quan trọng ở cơ sở. Không chỉ thu gọn đầu mối, việc sắp xếp còn mở ra cơ hội lựa chọn đội ngũ cán bộ trẻ hơn, có trình độ, năng lực ứng dụng công nghệ và tư duy phát triển kinh tế cộng đồng.

Những con chữ mở thêm cơ hội hòa nhập cộng đồng

Những con chữ mở thêm cơ hội hòa nhập cộng đồng

Lớp xóa mù chữ tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên đang mở ra cơ hội làm lại cuộc đời cho nhiều người, họ từ những người chưa từng biết chữ đến có thể tự đọc, tự viết. Mỗi con chữ không chỉ mang đến tri thức mà còn tiếp thêm niềm tin, giúp học viên thay đổi nhận thức, vững vàng hơn trên hành trình tái hòa nhập cộng đồng.

Những nét chữ mở đường tái hòa nhập cộng đồng

Những nét chữ mở đường tái hòa nhập cộng đồng

Từ những người chưa từng biết chữ đến những học viên có thể tự đọc, tự viết, lớp xóa mù chữ tại Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Điện Biên đang mở ra cơ hội làm lại cuộc đời. Mỗi con chữ không chỉ mang đến tri thức mà còn tiếp thêm niềm tin, giúp học viên thay đổi nhận thức, vững vàng hơn trên hành trình tái hòa nhập cộng đồng.

Giải quyết trước hạn hồ sơ cho doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế

Giải quyết trước hạn hồ sơ cho doanh nghiệp trong lĩnh vực y tế

Nhằm cải thiện môi trường đầu tư, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trong lĩnh vực y tế của tỉnh giai đoạn 2026-2030, ngành Y tế tỉnh Gia Lai đặt mục tiêu 100% hồ sơ của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp được giải quyết đúng hạn, hướng tới trước hạn đối với hồ sơ đủ điều kiện; đồng thời rà soát, đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và xử lý tình trạng gây phiền hà, nhũng nhiễu doanh nghiệp.

Chính phủ giao bổ sung 192,251 tỷ đồng cho chương trình mục tiêu quốc gia

Chính phủ giao bổ sung 192,251 tỷ đồng cho chương trình mục tiêu quốc gia

Chương trình mục tiêu quốc gia hướng tới xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc gắn với đô thị hóa, thích ứng biến đổi khí hậu. Phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giảm nghèo đa chiều, bền vững, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội.

Nghị quyết 57 mở đường đưa khoa học, công nghệ vào chính sách dân tộc

Nghị quyết 57 mở đường đưa khoa học, công nghệ vào chính sách dân tộc

Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá. Bộ Dân tộc và Tôn giáo cụ thể hóa trong dự thảo Đề án 2026-2035, hướng tới chính sách dựa trên dữ liệu, ứng dụng công nghệ và đưa nghiên cứu vào phát triển dân tộc thiểu số.

Đưa di sản dân tộc, tôn giáo đến gần công chúng bằng công nghệ số

Đưa di sản dân tộc, tôn giáo đến gần công chúng bằng công nghệ số

Từ hỗ trợ các tín đồ sử dụng ứng dụng số đến số hóa không gian, hiện vật và kể chuyện văn hóa, các cộng đồng dân tộc, tôn giáo tại TP Hồ Chí Minh đang tìm cách ứng dụng công nghệ để gìn giữ di sản, đưa những giá trị truyền thống đến gần hơn với công chúng.

Trao tặng cờ Tổ quốc, đồng hành cùng ngư dân vươn khơi bám biển

Trao tặng cờ Tổ quốc, đồng hành cùng ngư dân vươn khơi bám biển

Ngày 1/10, Đoàn Đặc nhiệm Phòng, chống tội phạm ma túy số 2, BTL Cảnh sát biển tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật gắn với công tác dân vận “Cảnh sát biển với đồng bào dân tộc, tôn giáo”, trao tặng 500 lá cờ Tổ quốc cùng nhiều phần quà cho bà con xã Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Đồng hành cùng người dân trong quá trình tháo gỡ 'nút thắt' đất đai

Đồng hành cùng người dân trong quá trình tháo gỡ 'nút thắt' đất đai

Xây dựng và phát triển Thành phố Đồng Nai theo hướng “Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, nguồn lực, mục tiêu và đối tượng thụ hưởng của sự phát triển là một trong những nội dung được xác định tại Nghị quyết 16-NQ/TW ngày 21/7/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2065.

Vốn chính sách mở lối thoát nghèo tại vùng biên giới Sơn Hồng

Vốn chính sách mở lối thoát nghèo tại vùng biên giới Sơn Hồng

Từ những khoản vay để phát triển chăn nuôi, nhiều hộ dân ở vùng biên Hà Tĩnh có thêm điều kiện mở rộng sản xuất, từng bước cải thiện đời sống. Những mô hình được hình thành từ nguồn vốn ưu đãi đang tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập và mở ra hướng thoát nghèo bền vững.

Xây dựng thế trận lòng dân - Bài 1: Dân vận tốt để tạo niềm tin

Xây dựng thế trận lòng dân - Bài 1: Dân vận tốt để tạo niềm tin

Chính quyền địa phương gắn công tác dân vận với việc giữ gìn an ninh, củng cố đoàn kết và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số. Địa phương phát huy vai trò của già làng, trưởng ấp, người có uy tín, chức sắc tôn giáo để xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Công nghệ số 'bao phủ' vùng núi, biên giới Lạng Sơn

Công nghệ số 'bao phủ' vùng núi, biên giới Lạng Sơn

Thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các thôn xóm vùng cao, vùng biên giới ở tỉnh Lạng Sơn đang từng bước tạo ra những thay đổi lớn trong đời sống, sinh hoạt.