Chương trình mục tiêu quốc gia đang phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo đảm an sinh xã hội, trở thành đòn bẩy thiết thực giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên. Tại Cần Thơ, thông qua việc triển khai đồng bộ các nguồn lực, mô hình hỗ trợ chăn nuôi bò sinh sản đang mang lại hiệu quả rõ nét, giúp nhiều hộ đồng bào Khmer ổn định sinh kế, thoát nghèo bền vững và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Sâu sát cơ sở, trao đúng sinh kế
Tại xã ven biển Trần Đề, công tác giảm nghèo trong vùng đồng bào Khmer được thực hiện với phương châm bám sát cơ sở, tìm hiểu kỹ hoàn cảnh từng hộ dân để có phương án hỗ trợ phù hợp. Quá trình này có sự đóng góp tích cực của các trưởng ấp trong việc trực tiếp rà soát, tuyên truyền và định hướng người dân lựa chọn mô hình sản xuất sát với năng lực thực tế.
Ông Sơn Dinh, Trưởng Ban nhân dân ấp Lâm Dồ (xã Trần Đề) cho biết, chính quyền và đoàn thể thường xuyên đến từng gia đình để nắm bắt nhu cầu, từ đó lựa chọn sinh kế giúp bà con phát triển kinh tế. Nhờ sự kịp thời này, ấp Lâm Dồ đã giảm từ 10 hộ nghèo xuống còn 6 hộ; số hộ cận nghèo cũng giảm từ 16 xuống còn 10 hộ.
Câu chuyện của gia đình bà Thạch Thị Quang (78 tuổi, ngụ ấp Lâm Dồ) là minh chứng cho hiệu quả của cách làm này. Không có đất sản xuất, nhiều năm qua, gia đình bà sống thu nhập chủ yếu dựa vào làm thuê nên cuộc sống rất khó khăn. Nhận thấy gia đình có kinh nghiệm nuôi bò và đủ điều kiện làm chuồng trại, cách đây 3 năm, địa phương đã hỗ trợ bà 2 con bò giống từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia. Nhờ được trao đúng sinh kế, đàn bò của gia đình ngày càng phát triển. Hiện chuồng nhà bà Quang đang duy trì 6 con bò cái mang thai và 2 con bò tơ. Bà Quang phấn khởi cho biết, mô hình này đã tạo nguồn thu nhập, giúp gia đình từng bước cải thiện đời sống.
Nhờ được hỗ trợ bò giống làm sinh kế, gia đình ông Thạch Nam (63 tuổi, ấp Sóc Bưng, xã Nhu Gia) từng bước ổn định kinh tế và nâng cao chất lượng đời sống.
Dù mô hình nuôi bò sinh sản mang lại tín hiệu tích cực, chính quyền xã Trần Đề xác định không áp dụng rập khuôn nhằm tránh vấp phải những rào cản thực tiễn như tình trạng thiếu quỹ đất trồng cỏ hay sức khỏe người nhận hỗ trợ không đảm bảo. Phó Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Trần Đề Lý Hoàng Ngân cho biết, địa phương tiếp tục tham mưu đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức và chú trọng đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Xã định hướng đa dạng hóa các mô hình sinh kế như: nuôi thủy sản, gia cầm hoặc trồng hoa màu; đồng thời, tăng cường hỗ trợ vốn vay, ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý hộ nghèo và huy động tối đa nguồn lực để chăm lo cho người dân, hạn chế tình trạng tái nghèo.
Phát huy quyền làm chủ, khơi dậy ý chí vươn lên
Tại xã Nhu Gia, đồng bào Khmer chiếm 39,67% dân số. Nhờ lồng ghép hiệu quả vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia và ngân sách địa phương, công tác giảm nghèo đã đạt nhiều kết quả tích cực. Đến cuối năm 2025, toàn xã chỉ còn 71 hộ nghèo đa chiều (giảm 10 hộ so với cuối năm 2024) và 214 hộ cận nghèo; đặc biệt tỷ lệ này trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm mạnh.
Kết hợp nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn vốn được cấp từ huyện Mỹ Xuyên (tỉnh Sóc Trăng cũ), địa phương đã triển khai dự án đa dạng hóa sinh kế "Mô hình chăn nuôi bò sinh sản" với tổng kinh phí hơn 620 triệu đồng, hỗ trợ 28 con bò cái cho 17 hộ dân.
Theo ông Lâm Trọng Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Nhu Gia, dự án đặc biệt chú trọng trao quyền làm chủ cho người dân. Xã đã mời cán bộ thú y về tập huấn kỹ thuật bài bản và tổ chức cho bà con đi thực tế đánh giá, tự tay lựa chọn con giống. Nhờ cách làm dân chủ và bám sát thực tiễn, đàn bò nhanh chóng thích nghi, sinh trưởng khỏe mạnh. Tiếp nối đà thành công, thời gian tới, xã dự kiến rà soát và mở rộng hỗ trợ mô hình nuôi dê sinh sản.
Trưởng Phòng Kinh tế xã Nhu Gia Hồ Thanh Tuấn khẳng định, điểm sáng trong công tác giảm nghèo tại địa phương là ý thức vươn lên của đồng bào Khmer. Khi được hỗ trợ sinh kế sát với nhu cầu thực tế, bà con không chỉ nỗ lực sản xuất mà còn thực hiện tốt nghĩa vụ đóng lãi định kỳ cho Ngân hàng Chính sách xã hội. Sự minh bạch và tinh thần trách nhiệm cao này đã giúp dòng vốn tín dụng được bảo toàn, quay vòng liên tục đến tay những hoàn cảnh khó khăn khác. Quan trọng hơn, "điểm tín dụng" tốt đã tạo nền tảng vững chắc để các hộ dân tiếp cận thêm nhiều chính sách ưu đãi, từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.
Tinh thần chăm chỉ, miệt mài lao động của ông Thạch Nam là chìa khóa giúp gia đình từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.
Điển hình là gia đình ông Thạch Nam (63 tuổi, ấp Sóc Bưng). Cuộc sống trước đây vô cùng chật vật và bước ngoặt đến với gia đình ông Nam vào năm 2024 khi được dự án phát triển chăn nuôi hỗ trợ 1 con bò giống. Sau một thời gian ổn định sinh kế, ông Nam quyết định chủ động làm đơn xin thoát nghèo để nhường cơ hội cho những người khó khăn hơn. Trở thành hộ thoát nghèo tiêu biểu, ông tiếp tục được tiếp cận vốn Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2025 và vốn vay tín dụng. Địa phương đã hỗ trợ đối ứng thêm 2 con bò, cấp thức ăn, kinh phí xây chuồng và hướng dẫn kỹ thuật.
Dù đã 63 tuổi, ngoài công việc làm bảo vệ, ông Nam vẫn tận dụng thời gian nghỉ để trồng cỏ làm thức ăn cho bò và nuôi thêm đàn vịt 45 con nhằm tăng thu nhập. Tinh thần cần mẫn, chịu khó không chỉ giúp kinh tế gia đình vững vàng mà còn là điểm tựa để hai người con trai phấn đấu thành đạt, có công việc ổn định.
Với mục tiêu phát triển bền vững và lấy người dân làm trung tâm, Cần Thơ đang triển khai đồng bộ các Chương trình mục tiêu quốc gia. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm từ 1 - 1,5%/năm, phấn đấu đưa tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng dân tộc thiểu số xuống dưới 10% và xóa bỏ hoàn toàn các xã, phường, ấp đặc biệt khó khăn.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Thành ủy Cần Thơ xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Thành phố chủ trương chuyển trọng tâm từ phát triển số lượng sang nâng cao chất lượng, phát huy năng lực tự chủ của hộ nghèo và triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tái nghèo.
Nền tảng vững chắc này chính là tiền đề để Cần Thơ hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2030; đồng thời thắp sáng niềm tin về những vùng quê khởi sắc, nơi mọi người dân đều làm chủ cuộc sống và không ai bị bỏ lại phía sau./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn