Đặc sắc lễ hội Lồng Tồng tại Bình Phước

Tại huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước, cộng đồng dân tộc Tày, Nùng vẫn còn gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống, trong đó nổi bật là lễ hội Lồng Tồng. Lễ hội này đã được tổ chức liên tiếp 3 lần, với sự tham gia ngày càng đông đảo của người dân, đặc biệt là giới trẻ, các lễ hội đã thực sự trở thành cầu nối giữa quá khứ và hiện tại; giúp thế hệ mai sau hiểu thêm về cội nguồn và những giá trị tốt đẹp của cha ông.

Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Vùng cao Hạnh Phúc thi đua hướng về ngày hội lớn

Vùng cao Hạnh Phúc thi đua hướng về ngày hội lớn

Hòa trong không khí thi đua sôi nổi hướng tới Đại hội XIV của Đảng, đồng bào các dân tộc vùng cao xã Hạnh Phúc, tỉnh Lào Cai, tích cực lao động, sản xuất, phát huy tinh thần đoàn kết, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã đề ra.

Người dân Bản Bo phấn khởi đón Tết trong những ngôi nhà mới

Người dân Bản Bo phấn khởi đón Tết trong những ngôi nhà mới

Để nhường đất cho Dự án kết nối giao thông các tỉnh miền núi phía Bắc, nhiều hộ dân ở bản Hợp Nhất, xã Bản Bo (tỉnh Lai Châu) đã di dời đến khu tái định cư mới. Tại đây, những ngôi nhà khang trang đang được hoàn thiện các công đoạn cuối để người dân kịp đón Tết Nguyên đán.

Người dân vùng cao chủ động phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi

Người dân vùng cao chủ động phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi

Các đợt không khí lạnh tăng cường, nhiệt độ xuống thấp đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Để hạn chế thiệt hại, bảo vệ sản xuất và thu nhập của người dân, công tác phòng, chống đói rét cho đàn vật nuôi đã được cấp uỷ, chính quyền và người dân địa phương chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt.

'Tết năm cùng' - nét văn hóa độc đáo của người Dao Hạ Sơn

'Tết năm cùng' - nét văn hóa độc đáo của người Dao Hạ Sơn

Với quan niệm, Tết là dịp để gia đình, dòng tộc sum họp sau một năm lao động vất vả, cũng dịp để báo với tổ tiên về những thành quả trong cả năm, cầu mong những điều tốt sẽ đến trong năm mới sắp đến, từ tháng 11 - 12 âm lịch hàng năm, khắp các bản làng người người Dao xứ Thanh lại cùng nhau ăn Tết năm cùng.

Nỗ lực gieo chữ vùng cao biên giới Quảng Trị

Nỗ lực gieo chữ vùng cao biên giới Quảng Trị

Ở các xã vùng biên giới của tỉnh Quảng Trị, hành trình đến lớp của nhiều học sinh không chỉ bị ngăn trở bởi núi rừng, mưa lũ mà còn bởi nghèo khó, bệnh tật và những lo toan trong chính gia đình mình.

Phòng chống đói, rét cho vật nuôi ở vùng núi cao

Phòng chống đói, rét cho vật nuôi ở vùng núi cao

Gia đình ông Tôn Văn Dì ở xã Khánh Khê, tỉnh Lạng Sơn nuôi 19 con trâu. Trời rời rét đậm, rét hại kéo dài, nền nhiệt độ giảm sâu, nhiều thời điểm chỉ 7 đến 8 độ C. Để hạn chế tác động xấu của thời tiết đến vật nuôi, gia đình ông đã không chăn thả trâu ra ngoài đồi rừng mà nhốt tại nhà, tăng cường bổ sung thức ăn, đảm bảo dinh dưỡng cho đàn trâu, đồng thời gia cố, che chắn chuồng trại, dọn vệ sinh chuồng nuôi thường xuyên để phòng ngừa dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.

Sắc trắng trên cao nguyên Mộc Châu

Sắc trắng trên cao nguyên Mộc Châu

Mộc Châu vào thời điểm này đã sớm khoác lên mình sắc trắng tinh khôi của hoa mận. Mùa hoa mận trên cao nguyên Mộc Châu đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với du khách, in đậm trong bức tranh du lịch Việt Nam.

Bảo đảm sức khỏe cho học sinh trong những ngày rét đậm

Bảo đảm sức khỏe cho học sinh trong những ngày rét đậm

Những ngày này, không khí lạnh tăng cường khiến nhiệt độ tại khu vực vùng cao miền núi phía Bắc giảm sâu, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân, đặc biệt là các em học sinh. Tại các trường mầm non vùng cao, công tác phòng chống rét đã được triển khai đồng bộ.

Lào Cai hỗ trợ khôi phục sản xuất nông nghiệp

Lào Cai hỗ trợ khôi phục sản xuất nông nghiệp

Trước những tổn thất, mất mát to lớn của người dân bị ảnh hưởng bởi hoàn lưu bão số 10, năm 2025, tỉnh Lào Cai kịp thời triển khai các chính sách, hỗ trợ người dân vùng lũ khôi phục lại sản xuất nông nghiệp. Đến nay, những thửa ruộng, những mảnh vườn đã được hồi sinh, những cánh đồng rau màu hay dâu tằm xanh tốt trở lại.

Thần tốc xây mái ấm cho người dân đón Tết

Thần tốc xây mái ấm cho người dân đón Tết

Những ngày đầu năm 2026, tiết trời ở Huế dường như lạnh hơn hẳn, xen lẫn những cơn mưa dai dẳng . Tuy vậy, tại công trình xây dựng nhà ở cho người dân của chiến dịch Quang Trung, không khí lao động rất khẩn trương.

Trải nghiệm mùa cam ly trên cao nguyên Mộc Châu

Trải nghiệm mùa cam ly trên cao nguyên Mộc Châu

Chớm đông, khu du lịch quốc gia Mộc Châu, tỉnh Sơn La, như được khoác lên mình bộ cánh mới rực rỡ của mùa hoa thơm, trái ngọt; đặc biệt, những vườn cam ly kết hợp kinh tế gắn với du lịch đã thu hút đông du khách đến tham quan, trải nghiệm.

Hành trình nghĩa tình - Tiếp bước em tới trường ở Lào Cai

Hành trình nghĩa tình - Tiếp bước em tới trường ở Lào Cai

Nhằm hỗ trợ người dân ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn đón một cái tết ấm cúng hơn và lan tỏa tinh thần xung kích, tình nguyện, từ ngày 8-10/1, Đoàn Thanh niên Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) phối hợp với Đoàn Thanh niên Công an Thành phố Hà Nội tổ chức chương trình “Hành trình nghĩa tình - Tiếp bước em tới trường” tại thôn Tống Trong, xã Trạm Tấu, tỉnh Lào Cai.

Phát triển vùng chuyên canh dừa phục vụ xuất khẩu

Phát triển vùng chuyên canh dừa phục vụ xuất khẩu

Từ năm 2015 đến nay, diện tích dừa của tỉnh Đồng Tháp đã tăng 5.749 ha, với tốc độ tăng trưởng diện tích trung bình 4,5%/năm, góp phần nâng diện tích chuyên canh của tỉnh đạt hơn 24.113 ha dừa, tập trung tại các xã chuyên canh dừa trong vùng ngọt hóa Gò Công ở phía Đông của tỉnh, với sản lượng khoảng 203.770 tấn quả/ năm.

Người dân vùng cao Nậm Có chủ động phòng, chống rét cho gia súc

Người dân vùng cao Nậm Có chủ động phòng, chống rét cho gia súc

Những ngày qua, tại xã vùng cao Nậm Có, tỉnh Lào Cai, sương mù bao trùm khắp các bản làng, nhiệt độ luôn ở mức dưới 10 độ C. Nhằm bảo vệ đàn vật nuôi, bà con nhân dân nơi đây chủ động triển khai nhiều biện pháp phòng, chống rét cho đàn gia súc để bảo vệ tài sản và sinh kế của gia đình.

Khởi sắc du lịch Điện Biên đầu năm 2026

Khởi sắc du lịch Điện Biên đầu năm 2026

Với chuỗi hoạt động văn hóa, lễ hội sôi động, Điện Biên đã đón lượng lớn du khách trong những ngày đầu năm mới 2026. Kết quả tích cực này mở ra cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ, tạo đà thuận lợi để du lịch Điện Biên tiếp tục bứt phá.

Chuyển đổi số mở ra cơ hội để bứt phá

Chuyển đổi số mở ra cơ hội để bứt phá

Sau khi Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được triển khai, nhiều địa phương của tỉnh Đắk Lắk đã đổi mới phương thức, cách làm với hành động cụ thể thay vì chỉ dừng ở khẩu hiệu.

Lào Cai đẩy nhanh tiến độ làm nhà cho người dân vùng lũ

Lào Cai đẩy nhanh tiến độ làm nhà cho người dân vùng lũ

Thiên tai xảy ra những tháng cuối năm đã gây thiệt hại tại nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Thời điểm này, chỉ còn hơn một tháng nữa sẽ đến Tết nguyên đán cổ truyền của dân tộc, chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương đang nỗ lực, đẩy nhanh tiến độ sửa chữa, xây mới nhà cho các hộ dân bị thiệt hại trong thiên tai.

Vượt nắng, thắng mưa xây nhà cho bà con vùng sạt lở

Vượt nắng, thắng mưa xây nhà cho bà con vùng sạt lở

Tại xã miền núi Trà Leng, thành phố Đà Nẵng, nhiều căn nhà bị thiệt hại do thiên tai đang được hỗ trợ xây mới và sửa chữa lại trong 'Chiến dịch Quang Trung'. Tuy nhiên thời tiết vẫn còn mưa lớn dài ngày, đường sá sạt lở khiến việc triển khai gặp nhiều khó khăn.

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Bảo tồn, gìn giữ văn hóa dân tộc Mảng

Việc tổ chức các lớp truyền khẩu tiếng Mảng không chỉ giúp gìn giữ ngôn ngữ, mà còn góp phần xây dựng cộng đồng đoàn kết, giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về giá trị văn hóa và thêm tự hào về nguồn cội của mình.

Chắp cánh an sinh cho người nghèo từ chính sách BHXH, BHYT

Chắp cánh an sinh cho người nghèo từ chính sách BHXH, BHYT

Từ ngày 1/7/2025, một bước tiến mới trong chính sách an sinh xã hội đã được triển khai đồng loạt trên cả nước. Mức hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho hộ nghèo, cận nghèo được nâng lên; cùng với đó, chính sách BHYT tiếp tục mở rộng và gia tăng mức hỗ trợ cho những hoàn cảnh khó khăn. Điều này thể hiện sự quan tâm thiết thực của Đảng và Nhà nước với mục tiêu không ai bị bỏ lại phía sau trên hành trình giảm nghèo bền vững.

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Từ quả ngọt thoát nghèo đến hành trình ra biển lớn

Trên vùng đất khô cằn - nơi từng chỉ trồng lúa, ngô với năng suất thấp, cuộc sống của nhiều hộ dân ở huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ, nay là xã Yên Trị, tỉnh Phú Thọ đã đổi thay nhờ mạnh dạn từ bỏ lối canh tác cũ, chuyển sang trồng bưởi Diễn. Những quả vàng óng, ngọt lành không chỉ là trái ngọt từ bàn tay cần cù của người nông dân, mà còn là biểu tượng cho hành trình thoát nghèo, vươn ra biển lớn.

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Giảm nghèo hiệu quả từ mô hình nuôi bò sinh sản

Từ một con bò cái sinh sản - tưởng như chỉ là một khoản hỗ trợ đơn lẻ. Nhưng với cách làm bài bản, trách nhiệm và có cơ chế quay vòng rõ ràng, nhiều hộ nghèo đã có thêm “cần câu cơm” bền vững để thoát nghèo.

Sâm Núi Dành - mở hướng thoát nghèo cho người nông dân

Sâm Núi Dành - mở hướng thoát nghèo cho người nông dân

Ẩn mình giữa núi đồi trung du xanh ngát, sâm Nam núi Dành tại tỉnh Bắc Ninh đang dần khẳng định vị thế của mình, không chỉ là cây dược liệu quý mà còn là biểu tượng cho sự phát triển bền vững của địa phương. Với giá trị dược liệu quý giá, gắn với lịch sử, văn hóa lâu đời, cùng triển vọng kinh tế vượt bậc, sâm Nam núi Dành xứng đáng được gọi là "vàng xanh" của đất Bắc Ninh, giúp nhiều hộ dân nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững.