Đặc sắc lễ hội Lồng Tồng tại Bình Phước

Tại huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước, cộng đồng dân tộc Tày, Nùng vẫn còn gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống, trong đó nổi bật là lễ hội Lồng Tồng. Lễ hội này đã được tổ chức liên tiếp 3 lần, với sự tham gia ngày càng đông đảo của người dân, đặc biệt là giới trẻ, các lễ hội đã thực sự trở thành cầu nối giữa quá khứ và hiện tại; giúp thế hệ mai sau hiểu thêm về cội nguồn và những giá trị tốt đẹp của cha ông.

Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

'Luồng xanh' khai thông điểm nghẽn đầu tư ở Điện Biên

Trong bối cảnh thu hút đầu tư ngoài ngân sách được xác định là động lực tăng trưởng, tỉnh Điện Biên tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính. Cơ chế “Luồng xanh” được triển khai nhằm rút ngắn thời gian, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục, góp phần cải thiện môi trường đầu tư.

Nỗi lo nước sạch của người dân vùng biên Thanh Thủy

Nỗi lo nước sạch của người dân vùng biên Thanh Thủy

Tại xã Thanh Thủy, Tuyên Quang, hệ thống cấp nước sinh hoạt xuống cấp sau nhiều năm khai thác, khiến nguồn nước không ổn định và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn vệ sinh. Chính quyền địa phương đang triển khai các giải pháp khắc phục, hướng tới nâng cấp hệ thống nhằm bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cho người dân.

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngày 30/4, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và phối hợp với nhóm thiện nguyện “Vì nụ cười trẻ thơ” thành phố Hải Phòng bàn giao 5 công trình giếng khoan phục vụ dân sinh cho người dân trên địa bàn xã Hướng Phùng.

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết trong mùa khô, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, bảo vệ rừng đang trở thành giải pháp quan trọng. Tại Hạt kiểm lâm Sìn Hồ, Chi cục Kiểm lâm Lai Châu, hệ thống quan trắc, cảnh báo cháy rừng sớm đã phát huy hiệu quả, giúp lực lượng kiểm lâm chủ động hơn trong phát hiện và xử lý các điểm cháy.

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Người già làng tận tụy vì buôn làng

Buôn Kơ Nia 4, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk, có một người già làng đã trở thành điểm tựa tinh thần của bà con suốt nhiều năm qua. Ở tuổi gần 80, già làng Y Hơ Êban vẫn lặng lẽ góp sức giữ gìn bình yên, vun đắp cuộc sống no ấm cho buôn làng.

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, tiêu chí nước sạch luôn giữ vai trò then chốt trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thanh Hóa, tiêu chí này trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh cho người dân. Tuy nhiên, tại khu vực các xã miền núi của tỉnh đang thiếu nhiều công trình cấp nước sạch, nhiều xã đang thiếu nguồn lực đầu tư, gặp khó khăn trong quản lý, vận hành, làm người dân nhiều xã miền núi luôn sống trong cảnh thiếu nước sạch.

Hợp tác xã tìm chỗ đứng trong chuỗi liên kết kinh tế tư nhân

Hợp tác xã tìm chỗ đứng trong chuỗi liên kết kinh tế tư nhân

Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định nhiều nội dung trọng tâm, bao gồm hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh chuyển đổi số, hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp và khuyến khích liên kết chuỗi giá. Trong hệ sinh thái đó, hàng chục nghìn hợp tác xã sẽ đứng ở đâu và liên kết như thế nào để cùng phát triển với khu vực kinh tế tư nhân? Đây là bài toán đang được Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tìm lời giải.

Tôn vinh người có uy tín, củng cố thế trận lòng dân

Tôn vinh người có uy tín, củng cố thế trận lòng dân

Chiều 25/4, , tỉnh Gia Lai tổ chức tọa đàm ôn lại kỷ niệm 80 năm ngày Bác Hồ gửi thư cho Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku năm 1946. Nhân dịp này, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đã tặng Bằng khen cho 95 cá nhân tiêu biểu là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần khẳng định vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, giữ vững “thế trận lòng dân” từ cơ sở.

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Nữ bí thư chi bộ hết lòng vì dân

Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của người Bí thư chi bộ, những năm qua, chị Đặng Thị Thu, Bí thư chi bộ thôn Chanh Yên, xã Thác Bà, tỉnh Lào Cai luôn gương mẫu đi đầu, trách nhiệm, tận tụy trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, được nhân dân tin yêu.

Tăng cường giám sát an toàn thực phẩm trong trường học

Tăng cường giám sát an toàn thực phẩm trong trường học

Trước tình hình mất an toàn thực phẩm diễn biến phức tạp, nguy cơ ngộ độc thực phẩm có xu hướng gia tăng, công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường học trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang được các cấp, ngành tăng cường triển khai đồng bộ.

Điện Biên tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Điện Biên tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Việc tinh gọn bộ máy tại Điện Biên đã giúp giảm đầu mối, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo chuyển biến rõ nét trong phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục cải cách hành chính, hướng tới phát triển bền vững.

Tạo mọi điều kiện để bảo đảm quyền tự do tôn giáo

Tạo mọi điều kiện để bảo đảm quyền tự do tôn giáo

Với vị trí địa lý giáp biên giới Campuchia và lịch sử hình thành từ sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, An Giang đã trở thành mảnh đất cho nhiều đức tin khác nhau đồng hành, phát triển, tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng, hài hòa.

Công nghệ số thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng

Công nghệ số thúc đẩy phát triển du lịch cộng đồng

Trong những năm gần đây, du lịch cộng đồng tại Lai Châu đang dần khẳng định là hướng đi hiệu quả, góp phần tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là ở các xã vùng cao, biên giới còn nhiều khó khăn. Trong hành trình đó, sự xuất hiện của công nghệ 4.0 đã và đang mang đến những thay đổi rõ nét.

Bộ đội sát cánh cùng người dân phát triển sinh kế

Bộ đội sát cánh cùng người dân phát triển sinh kế

Tỉnh Điện Biên đang triển khai chiến dịch trồng mới cà phê, mắc ca trên quy mô lớn. Điểm nhấn là sự vào cuộc của lực lượng bộ đội trực tiếp xuống cơ sở, hỗ trợ người dân đào hố, chuẩn bị đất cho mùa trồng mới, góp phần tạo khí thế thi đua và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Đặc sắc lễ hội té nước tại bản Pa Xa Lào

Lễ Khăm bản hay còn gọi là Hội té nước tại bản Pa Xa Lào, xã Thanh Yên (tỉnh Điện Biên) là một trong những lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Lào. Đây không chỉ là dịp để người dân cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mà còn là thời khắc thiêng liêng để gắn kết cộng đồng, gìn giữ bản sắc văn hóa lâu đời.

Mô hình kinh tế hiệu quả cho vùng dân tộc thiểu số

Mô hình kinh tế hiệu quả cho vùng dân tộc thiểu số

Trong những năm gần đây, tận dụng lợi thế đồi vườn với nguồn thức ăn sẵn có nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã phát triển mạnh mô hình nuôi gà thả vườn hiệu quả rõ rệt, giúp phát triển kinh tế hộ gia đình và từng bước thay đổi diện mạo nông thôn miền núi.

Đồng bào dân tộc Khmer thu hoạch nông sản đón Tết Chôl Chnăm Thmây

Đồng bào dân tộc Khmer thu hoạch nông sản đón Tết Chôl Chnăm Thmây

Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer năm nay đang diễn ra. Thời điểm này, nhiều loại nông sản vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ. Trên các cánh đồng ở xã Long Hiệp (tỉnh Vĩnh Long), bà con Khmer vẫn tất bật ra đồng, tranh thủ từng ngày công để kịp thu hoạch hoàn tất trước ngày lễ chính (16/4), vừa đảm bảo sản xuất, vừa đón Tết trọn vẹn.

Điện Biên tăng cường phòng cháy rừng cao điểm mùa khô

Điện Biên tăng cường phòng cháy rừng cao điểm mùa khô

Tỉnh Điện Biên đang vào cao điểm mùa khô, nhiều khu vực ở cấp dự báo cháy rừng cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm. Trong điều kiện nắng nóng kéo dài, độ ẩm thấp, nguy cơ cháy rừng luôn thường trực, đòi hỏi các giải pháp phòng cháy phải được triển khai quyết liệt ngay từ cơ sở.

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Đảm bảo cây giống, sẵn sàng cho trồng rừng năm 2026

Để đảm bảo cây giống cung cấp cho các địa phương trồng rừng năm 2026, Trung tâm Phát triển Nông, lâm, nghiệp và Thủy sản Khu vực Hòa Bình đã chủ động chuẩn bị 5 giống cây keo lai, bạch đàn nuôi cấy mô và một số loại cây như dổi ăn hạt, trám đen ghép là những loại cây bản địa phát triển, phân bố tự nhiên tại địa phương, phù hợp với đất đai, khí hậu và gần gũi với cuộc sống người dân.

Nét đẹp Lễ hội Rija Nagar của đồng bào Chăm ở Khánh Hòa

Nét đẹp Lễ hội Rija Nagar của đồng bào Chăm ở Khánh Hòa

Trong không khí rộn ràng của những ngày đầu năm mới theo lịch Chăm, chiều 15/4, tại sân vận động thôn Như Ngọc, xã Phước Hữu, tỉnh Khánh Hòa đã diễn ra hoạt động chào mừng Lễ hội Rija Nagar 2026. Sự kiện thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham dự, góp phần tôn vinh và gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo.

Mã số vùng trồng, nâng tầm nông sản xuất khẩu

Mã số vùng trồng, nâng tầm nông sản xuất khẩu

Tại Quảng Trị, việc cấp mã số vùng trồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn mở ra cánh cửa xuất khẩu bền vững cho nông sản địa phương. Đây được xem là “giấy thông hành” quan trọng, giúp nông sản Quảng Trị vươn ra thị trường quốc tế, khẳng định chất lượng và thương hiệu.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên tăng cường phòng, chống cháy rừng mùa khô

Vườn Quốc gia Hoàng Liên tăng cường phòng, chống cháy rừng mùa khô

Trước diễn biến thời tiết cực đoan, nắng nóng kéo dài, độ ẩm giảm thấp, nguy cơ cháy rừng tại Lào Cai ở mức cao. Tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đang được triển khai đồng bộ, chủ động và quyết liệt, góp phần bảo vệ diện tích rừng và hệ sinh thái.

Phát triển hợp tác xã theo hướng liên kết sản xuất, tiêu thụ

Phát triển hợp tác xã theo hướng liên kết sản xuất, tiêu thụ

Những năm qua, kinh tế tập thể, hợp tác xã ở tỉnh Cao Bằng đã có nhiều sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Hiện nay, các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đang tiếp tục thay đổi tích cực với những cách làm mới, sáng tạo hơn, hướng đến phát triển lâu dài, bền vững.

Siết quản lý an toàn thực phẩm trước nguy cơ ngộ độc gia tăng

Siết quản lý an toàn thực phẩm trước nguy cơ ngộ độc gia tăng

Thời gian gần đây, tại Đắk Lắk liên tiếp ghi nhận các vụ ngộ độc thực phẩm và gia tăng các ca bệnh đường tiêu hóa. Thời tiết nắng nóng, độ ẩm cao đang tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, khiến nguy cơ mất an toàn thực phẩm luôn hiện hữu.

Bảo đảm quyền tự do tôn giáo tại phên dậu phía Tây Nam Tổ quốc

Bảo đảm quyền tự do tôn giáo tại phên dậu phía Tây Nam Tổ quốc

Với vị trí địa lý giáp biên giới Campuchia và lịch sử hình thành từ sự giao thoa văn hóa giữa các dân tộc Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, An Giang đã trở thành mảnh đất cho nhiều đức tin khác nhau đồng hành, phát triển, tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng, hài hòa.