Để mạch nguồn văn hóa chảy mãi nơi biên giới

Giữa nhịp sống hiện đại, ở vùng cao biên giới Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang, những nét đẹp văn hóa truyền thống vẫn được gìn giữ và trao truyền qua từng điệu múa, câu hát và niềm say mê tìm hiểu bản sắc dân tộc của các em học sinh nơi đây.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Nùng

Tên tự gọi: Nồng.

Nhóm địa phương: Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín...

Dân số: 968.800 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...

Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...

Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy trì và phát triển (rèn). Ở xã Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đình có lò rèn và hầu như gia đình nào cũng có người biết làm nghề rèn.

Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Slình, thích đi chợ hát giao duyên.

Ăn: Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, bò, chó.

Mặc: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Ðông Bắc nước ta, họ thường sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu trình tường hoặc xây bằng gạch mộc. Ở ven biên giới trước kia còn có loại nhà làm theo kiểu pháo đài, có lô cốt và lỗ châu mai để chống giặc cướp.

Phương tiện vận chuyển: Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.

Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, xã hội người Nùng đã đạt đến trình độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đã biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. Hình thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng con bông (hắc lì) và giỏ đựng con sợi (cởm lót).Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.

Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.

Nhà mới: Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. Vì thế khi làm nhà người ta rất chú ý tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Thờ cúng: Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào. Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.

Lễ tết: Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.

Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.

Chơi: Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số trò chơi như tung còn, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Nùng

Có thể bạn quan tâm

Thắp sáng nơi ở mới cho người dân vùng lũ Mường Than

Thắp sáng nơi ở mới cho người dân vùng lũ Mường Than

Ngay sau trận lũ quét ngày 17/7 tại bản Chít và một số bản của xã Mường Than khiến 24 hộ dân mất nhà ở, tỉnh Lai Châu đã khẩn trương triển khai các giải pháp ổn định dân cư, lựa chọn khu vực bản Sân Bay làm nơi tái định cư an toàn.

Giúp nông dân tiêu thụ nông sản chủ lực qua thương mại điện tử

Giúp nông dân tiêu thụ nông sản chủ lực qua thương mại điện tử

Ngày 25/7, tại xã Chi Lăng, Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) và UBND các xã Chi Lăng, Cai Kinh tổ chức Chương trình quảng bá, xúc tiến tiêu thụ nông sản chủ lực tỉnh Lạng Sơn qua thương mại điện tử với chủ đề "Na và nông sản Lạng Sơn - Lan tỏa giá trị, thương hiệu vươn xa".

Bữa cơm sum vầy tri ân các gia đình liệt sĩ

Bữa cơm sum vầy tri ân các gia đình liệt sĩ

Ngày 25/7, nhân dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/72026), Tỉnh Đoàn Lạng Sơn đã tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, trong đó “Bữa cơm sum vầy - Ấm áp yêu thương” tại gia đình Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Kim, 95 tuổi, phường Đông Kinh, đã thể hiện tình cảm của tuổi trẻ Lạng Sơn với những gia đình có công với đất nước.

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Từng xông pha trong lửa đạn, cống hiến tuổi trẻ, xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc, nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, nhiều thương binh, bệnh binh ở xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai lại tiếp tục nỗ lực trên “mặt trận” làm kinh tế, góp phần vào sự phát triển của địa phương.

Đổi thay trên quê hương chiến khu cách mạng Mường Thàng

Đổi thay trên quê hương chiến khu cách mạng Mường Thàng

Từng là vùng chiến khu cách mạng ghi dấu những năm tháng đấu tranh gian khổ, xã Mường Thàng hôm nay đang khoác lên mình diện mạo mới. Những con đường mới, công trình hạ tầng được đầu tư và đời sống người dân ngày càng khởi sắc đang mở ra một hành trình phát triển mới cho vùng đất giàu truyền thống cách mạng.

Đảng viên trẻ vùng cao tiên phong trong phát triển kinh tế

Đảng viên trẻ vùng cao tiên phong trong phát triển kinh tế

Với sức trẻ, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến, đội ngũ đảng viên trẻ ở vùng cao Điện Biên đang phát huy vai trò tiên phong trong phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và lan tỏa các phong trào thi đua tại cơ sở. Những việc làm thiết thực của họ đang góp phần làm thay đổi diện mạo vùng cao.

Lan tỏa nghĩa tình chăm lo người có công

Lan tỏa nghĩa tình chăm lo người có công

Tỉnh Thái Nguyên đang thực hiện chính sách ưu đãi đối với trên 154.000 người có công với cách mạng. Hằng tháng chi trả trợ cấp ưu đãi cho gần 21.000 người, kinh phí trên 860 tỷ đồng/năm.

Xây dựng xã không ma túy ở vùng cao

Xây dựng xã không ma túy ở vùng cao

Thời gian qua, Công an xã Khao Mang, tỉnh Lào Cai chủ động nhiều giải pháp trong phòng, chống tội phạm và tệ nạn ma túy, xây dựng môi trường xã hội an toàn, văn minh.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, dù được đầu tư xây dựng nhiều công trình nước sinh hoạt tập trung phục vụ người dân, song, tới nay hơn một nửa các công trình cấp nước tại các xã miền núi của tỉnh Thanh Hóa đã không phát huy hiệu quả và bị hư hỏng nặng, không bảo đảm công năng để đáp ứng được nhu cầu cung cấp nước sinh hoạt cho người dân theo thiết kế, ảnh hưởng tới việc cấp nước, dẫn đến nhiều người dân miền núi đang sống trong tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt.

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Đảm bảo chỗ ăn ở cho người dân tránh lũ

Lũ dữ quét qua Mường Than khiến nhiều gia đình phải trắng tay, hơn 1.000 người dân phải đi tránh lũ. Việc bố trí ăn ở, sinh hoạt tạm thời được tỉnh Lai Châu và chính quyền địa phương thực hiện chu đáo dù số lượng bà con tránh lũ rất lớn.

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Thiên tai, mưa lũ và bài toán ứng phó

Từ ngày 15 đến ngày 18/7, mưa lớn tại Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Lào Cai đã làm 8 người chết và mất tích (5 người chết, 3 người mất tích) và 10 người bị thương. Lũ dữ đã cuốn phăng trên 255 tỷ đồng, nhiều công trình, nhà cửa bị hư hỏng, nhiều diện tích cây trồng, vật nuôi trôi theo dòng nước cuốn.

Khi phụ nữ Mông trở thành tuyên truyền viên pháp luật

Khi phụ nữ Mông trở thành tuyên truyền viên pháp luật

Tại khu vực biên giới tỉnh Nghệ An, Câu lạc bộ "Phụ nữ với pháp luật" ở bản Phá Lõm đang phát huy hiệu quả thiết thực. Nhờ cách tuyên truyền gần gũi bằng chính tiếng Mông của lực lượng Biên phòng, những người phụ nữ vùng cao không chỉ được nâng cao hiểu biết mà còn trực tiếp trở thành những tuyên truyền viên nòng cốt, góp phần giữ gìn bình yên cho bản làng nơi biên cương.

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Tình cảm của người dân hướng về tâm lũ Mường Than

Ngay sau khi cơn lũ đi qua, hàng loạt chuyến xe chở đầy hàng hóa cứu trợ từ khắp nơi đã nối đuôi nhau hướng về xã Mường Than, tỉnh Lai Châu. Sự sẻ chia kịp thời từ cộng đồng, doanh nghiệp và các lực lượng vũ trang đang trở thành điểm tựa vững chắc, tiếp thêm sức mạnh để đồng bào vùng tâm lũ gượng dậy sau thiên tai.

Đẩy lùi hủ tục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tuyên Quang

Đẩy lùi hủ tục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tuyên Quang

Không áp đặt, không mệnh lệnh hành chính, bằng sự kiên trì tuyên truyền, vận động, nhiều địa phương ở Tuyên Quang đã tạo chuyển biến tích cực trong xóa bỏ hủ tục, xây dựng nếp sống văn minh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

Đưa giáo dục pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Đưa giáo dục pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số

Tại xã Dũng Tiến (Phú Thọ), công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đang được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng và kết hợp hiệu quả với các nền tảng số để đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giảm tảo hôn ở vùng cao

Đẩy mạnh tuyên truyền, giảm tảo hôn ở vùng cao

Tại tỉnh Điện Biên, tình trạng tảo hôn vẫn xảy ra ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số do điều kiện kinh tế, trình độ dân trí và tập quán lạc hậu. Để từng bước đẩy lùi tình trạng này, các địa phương đang đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân.

Xây dựng 'xã không ma túy' ở vùng biên

Xây dựng 'xã không ma túy' ở vùng biên

Ma túy từng là nỗi lo thường trực ở nhiều bản làng vùng biên Điện Biên. Bằng sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền, lực lượng Công an và người dân, nhiều địa phương đang từng bước xây dựng "xã không ma túy", tạo chuyển biến rõ nét về an ninh trật tự, mang lại cuộc sống bình yên cho đồng bào nơi phên dậu Tổ quốc.

Lào Cai giải bài toán thiếu cán bộ chuyên môn ở cơ sở

Lào Cai giải bài toán thiếu cán bộ chuyên môn ở cơ sở

Sau sáp nhập, chính quyền địa phương hai cấp vận hành theo hướng tinh gọn, nhưng nhiều xã, phường của tỉnh Lào Cai vẫn gặp khó khăn về thiếu cán bộ chuyên môn ở các lĩnh vực trọng yếu như đất đai, y tế, xây dựng. Điều này dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao. Việc giải bài toán thiếu cán bộ chuyên môn đang là yêu cầu đặt ra cho các địa phương.

Điểm tựa nơi phên dậu Tổ quốc

Điểm tựa nơi phên dậu Tổ quốc

Nơi những vùng biên còn nhiều gian khó, mỗi mái nhà mới được dựng lên không chỉ giúp người dân an cư, mà còn góp thêm một điểm tựa để giữ gìn biên cương Tổ quốc.

Vùng cao Điện Biên chủ động ứng phó mùa mưa lũ

Vùng cao Điện Biên chủ động ứng phó mùa mưa lũ

Mùa mưa đã bắt đầu tại tỉnh Điện Biên, kéo theo nguy cơ lũ quét, sạt lở đất ở nhiều địa bàn vùng cao. Trước những diễn biến thời tiết cực đoan, các địa phương đang chủ động triển khai nhiều giải pháp phòng, chống thiên tai, đồng thời đẩy nhanh sắp xếp dân cư khỏi vùng nguy hiểm nhằm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân.

Sức bật kinh tế của xã vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Sức bật kinh tế của xã vùng biên phía Tây Lâm Đồng

Từ một xã biên giới đặc biệt khó khăn, Quảng Trực - xã vùng biên phía Tây tỉnh Lâm Đồng đang từng bước "thay da đổi thịt". Nhờ mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát huy lợi thế đất đỏ bazan để phát triển cây mắc ca, cà phê gắn với chuỗi liên kết sản xuất và đầu tư hạ tầng, diện mạo vùng biên đang ngày một khởi sắc.

Đồng thuận sắp xếp thôn vùng biên Xứ Lạng

Đồng thuận sắp xếp thôn vùng biên Xứ Lạng

Nhằm tinh gọn bộ máy ở cơ sở và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, từ 1.646 thôn, tổ dân phố trước đây, tỉnh Lạng Sơn đã sắp xếp, tinh gọn xuống còn 923 thôn, tổ dân phố. Ở địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đa số người dân đều bày tỏ đồng thuận vì lợi ích lâu dài của việc sắp xếp đơn vị dân cư.