Để hiểu sâu hơn về những cải tiến và sức lan tỏa của sản phẩm OCOP, phóng viên báo Tin tức và Dân tộc đã có cuộc trao đổi với ông Đào Đức Huấn, Trưởng phòng Quản lý OCOP và Du lịch nông thôn, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia về vấn đề này.
Thưa ông, từ góc độ điều phối các chương trình mục tiêu quốc gia, những chính sách hỗ trợ thời gian qua đã tạo ra chuyển biến như thế nào đối với năng lực tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, chuẩn hóa sản phẩm và phát triển các chủ thể kinh tế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi?
Sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đặc trưng riêng về sản xuất, văn hóa và thương mại, vì vậy không thể áp dụng một cách tiếp cận thị trường đồng loạt cho tất cả sản phẩm.
Vì vậy, chúng ta cần một quá trình thích ứng trên ba phương diện. Trước hết, sản phẩm phải phù hợp thị hiếu nhưng vẫn giữ giá trị đặc trưng. Tiếp đó, tổ chức sản xuất phải ổn định, thường xuyên. Mỗi sản phẩm cũng cần lựa chọn kênh thương mại phù hợp.
Chính vì vậy, làm thương mại khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số yêu cầu phải có sự tìm tòi, nghiên cứu, thích ứng và cần thời gian. Theo đó, trong quá trình tổ chức các chương trình mục tiêu quốc gia, đặc biệt là từ năm 2018, chương trình OCOP được Thủ tướng Chính phủ ban hành và cách tiếp cận OCOP đó là giúp các chủ thể thích ứng thích ứng.
Chương trình OCOP tập trung hỗ trợ quá trình thích ứng, trước hết là chuẩn hóa sản phẩm từ quy trình sản xuất, chất lượng, an toàn đến bao bì phù hợp để tiếp cận thị trường một cách thuận lợi hơn.
Các chủ thể OCOP, Hợp tác xã, hộ gia đình và doanh nghiệp phải nâng cao năng lực quản trị, điều phối, kỹ năng số và tổ chức logistics để đáp ứng yêu cầu của từng kênh phân phối.
Song song với những sự thay đổi đó, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tạo ra những nền tảng về mặt thương mại để hỗ trợ. Và trong 8 năm vừa qua, những sự hỗ trợ của các bộ, đặc biệt là Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã giúp các chủ thể OCOP, nhất là những HTX, doanh nghiệp nhỏ có cơ hội tiếp cận với tất cả các kênh phân phối, và qua sự kiện đó thì các chủ thể phải lựa chọn kênh phân phối nào cho phù hợp.
Rõ ràng là mỗi một chủ thể và mỗi một sản phẩm cần phải có sự lựa chọn và trong thời gian vừa qua các chính sách của Nhà nước đã hỗ trợ rất nhiều trong việc tạo cho các chủ thể nhỏ có được cơ hội để thích ứng tốt hơn trong sản xuất và tham gia vào quá trình thương mại.
Thưa ông, đâu là điểm nghẽn lớn nhất khiến các chủ thể sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường? Hạn chế hiện nay chủ yếu nằm ở tổ chức vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến và bảo quản, năng lực quản trị hay sự thiếu liên kết trong chuỗi giá trị?
Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở năng lực tổ chức và tư duy thị trường của HTX, chứ không chỉ ở chất lượng sản phẩm hay vùng nguyên liệu. Chúng ta phải khẳng định rằng, bản thân HTX đã sản xuất rất tốt và có nhiều tiềm năng để đưa sản phẩm ra thị trường, nhưng để đưa sản phẩm ra thị trường thì hoàn toàn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tổ chức của HTX.
Muốn có đơn hàng ổn định, HTX phải nâng năng lực toàn diện: tổ chức thành viên, quản trị, công nghệ, logistics, xây dựng thương hiệu, bao bì, truyền thông, bảo quản và xử lý rủi ro.
Cùng với đó, cần chuyển từ tư duy “sản xuất rồi chờ người đến mua” sang chủ động tham gia thị trường, chấp nhận các yêu cầu về trách nhiệm pháp lý, chất lượng, đóng gói và cung ứng của từng kênh phân phối.
Mỗi thị trường đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau, từ tiêu chuẩn vùng nguyên liệu, chứng nhận, bao bì đến giá bán, do đó, sản phẩm bán cho siêu thị, khách du lịch hay làm quà tặng cần được thiết kế phù hợp riêng.
Thời gian tới, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ ưu tiên tham mưu, hướng dẫn và điều phối những giải pháp nào nhằm nâng cao năng lực sản xuất, ổn định chất lượng, sản lượng và phát triển các chuỗi sản phẩm tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thưa ông?
Đến giữa năm 2026, gần cuối năm 2026, các chính sách hỗ trợ gắn với Chương trình Mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã cơ bản được hoàn thiện.
Thời gian qua, các bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến phát triển sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm OCOP. Bên cạnh các giải pháp thúc đẩy tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng, chính sách hỗ trợ sản phẩm OCOP hiện tập trung vào việc hình thành một sản phẩm tương đối toàn diện để tiếp cận thị trường.
Trước hết, cần xây dựng được vùng nguyên liệu để tạo ra sản phẩm có tính ổn định.
Cùng với đó là áp dụng khoa học, công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, đối với những sản phẩm tươi sống, cần có giải pháp nâng cao thời hạn sử dụng và thời gian vận chuyển, qua đó mới có thể tiếp cận thị trường một cách bền vững.
Một nội dung quan trọng khác là xây dựng thương hiệu, phát triển bao bì, nhãn mác. Tuy nhiên, điều quan trọng đối với OCOP là phải tạo dựng thương hiệu dựa trên câu chuyện sản phẩm.
Do đó, OCOP sẽ tập trung vào việc tạo dựng những sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm đặc sản, có chỉ dẫn địa lý, có nhãn hiệu của hợp tác xã, của các chủ thể để đưa vào thị trường.
Một trong những điểm cốt lõi của chương trình OCOP là nâng cao năng lực. Cho dù có bao bì, có vùng nguyên liệu nhưng năng lực của hợp tác xã không thay đổi thì cũng không thể bán được sản phẩm. Vì vậy, quá trình rèn luyện, trao đổi, tập huấn, hướng dẫn và đồng hành cùng các hợp tác xã sẽ luôn được chương trình OCOP thực hiện cùng các chủ thể.
Cuối cùng là khía cạnh thương mại. Với những sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là các sản phẩm đặc sản, việc tiếp cận thị trường được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng như Bộ Công Thương xác định theo hướng sẵn sàng mở cửa các kênh.
Chẳng hạn, với chương trình OCOP, các hệ thống thương mại, các siêu thị lớn như Central Retail, MM Mega Market hay Saigon Co.op luôn đồng hành. Tuy nhiên, cánh cửa vào hệ thống siêu thị luôn mở, còn hợp tác xã nào có thể vào được thì phụ thuộc rất nhiều vào các chủ thể, chứ không phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước.
Bản thân các chủ thể khi tham gia thương mại phải có định hướng đa kênh. Đối với sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cần quan tâm đến câu chuyện tiêu thụ gắn với du lịch. Ví dụ khu vực miền núi phía Bắc là một không gian lớn về du lịch, du lịch trải nghiệm, du lịch nông thôn. Vì vậy, cần khai thác những giá trị này để tiêu thụ sản phẩm. Đây cũng là định hướng mà các Chương trình Mục tiêu Quốc gia phải phát triển song song giữa sản phẩm OCOP và du lịch trải nghiệm.
Ngoài ra, thương mại điện tử cũng là một kênh rất phù hợp. TikTok là một trong những kênh đã đồng hành cùng OCOP trong 5 năm trở lại đây và đạt hiệu quả trong việc đưa sản phẩm OCOP từ hợp tác xã đến thẳng người tiêu dùng mà không thông qua kênh trung gian.
Để làm được điều đó, có nhiều yếu tố, không chỉ dừng lại ở việc lên mạng, mở một gian hàng, trao đổi và bán sản phẩm. Những nội dung này cũng đều có chính sách hỗ trợ.
Doanh nghiệp nếu mong muốn được hỗ trợ có thể liên hệ với Ủy ban nhân dân xã, Sở Nông nghiệp và Môi trường để tham gia Chương trình OCOP. Bản thân Chương trình OCOP là một quá trình, phải thay đổi thì mới có thể đạt được 3 sao, 4 sao, 5 sao và khi chủ thể có nhu cầu thì Nhà nước mới hỗ trợ.
Trân trọng cảm ơn ông!