Đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở xã miền núi

Đông Thọ là xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Tuyên Quang với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số như: Mông, Tày, Cao Lan… Những năm gần đây, nhờ phát huy hiệu quả nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, đời sống người dân ngày càng cải thiện, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu giảm nghèo bền vững.

dong-tho2-200326.jpg
Trường mầm non Đông Thọ 2 được xây dựng khang trang từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Hạ tầng được đầu tư đồng bộ

Xác định cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, xã Đông Thọ đã chủ động rà soát, xây dựng kế hoạch và ưu tiên nguồn lực để bê tông hóa các tuyến đường liên thôn, nội thôn. Ngay khi được phân bổ vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia, chính quyền địa phương đã nhanh chóng triển khai các bước với phương châm công khai, minh bạch, có sự tham gia giám sát của cộng đồng. Tại mỗi thôn, Ban giám sát cộng đồng được thành lập, đảm bảo mọi khoản chi phí, định mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cũng như phần đóng góp ngày công của người dân đều được bàn bạc dân chủ tại nhà văn hóa; qua đó tạo sự đồng thuận và thống nhất cao trong nhân dân.

dong-tho-200326.jpg
100% đường trục thôn của xã Đông Thọ được bê tông hóa.

Con đường bê tông dài hơn 1,2 km nối thôn Tân An với thôn Làng Mông là một trong những công trình tiêu biểu. Trước đây, đây là tuyến đường đất lầy lội, đi lại khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa. Nay con đường đã được bê tông hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao thương hàng hóa. Ông Lý Văn Súa, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Tân An cho biết, từ khi có con đường mới, việc vận chuyển nông, lâm sản của người dân trở nên dễ dàng hơn, chi phí giảm, thời gian rút ngắn; góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế gia đình.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân, các Chương trình mục tiêu quốc gia triển khai tại xã Đông Thọ đạt nhiều kết quả tích cực. Hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ, 100% đường trục thôn được bê tông hóa; 100% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh; thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 48 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 10,6%.

Tạo điều kiện để người dân vươn lên thoát nghèo

dong-tho3-200326.jpg
Ngôi nhà mới của gia đình bà Lý Thị Xống, thôn Tân An, xã Đông Thọ được xây dựng từ nguồn Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát.

Cùng với đầu tư hạ tầng thiết yếu, địa phương còn chú trọng thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo. Riêng năm 2025, xã đã triển khai xây mới và sửa chữa 72 căn nhà cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí hàng chục tỷ đồng. Nguồn lực được huy động từ ngân sách Nhà nước, nguồn xã hội hóa và phần đối ứng của người dân, giúp nhiều gia đình có nơi ở ổn định, yên tâm lao động sản xuất.

Gia đình bà Lý Thị Xống (thôn Tân An) là một trong những hộ được thụ hưởng chính sách này. Trước đây, gia đình bà với 5 nhân khẩu phải sinh sống trong căn nhà xuống cấp, không đảm bảo an toàn. Nhờ được hỗ trợ 60 triệu đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, gia đình bà đã xây dựng được ngôi nhà kiên cố. Bà Xống chia sẻ, từ khi có nhà mới, gia đình không còn lo lắng mỗi khi mưa gió; các thành viên có thêm động lực lao động, phát triển kinh tế. Con trai lớn của bà hiện đã có việc làm ổn định, góp phần cải thiện thu nhập cho gia đình.

Không chỉ dừng lại ở hỗ trợ hạ tầng và nhà ở, xã Đông Thọ còn tập trung triển khai các mô hình sinh kế phù hợp, giúp người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập bền vững. Gia đình anh Lý Văn Giàng, thôn Tân An trước đây là hộ nghèo, thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Năm 2023, anh được hỗ trợ tham gia mô hình chăn nuôi bò sinh sản từ Dự án liên kết hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bò Mông. Từ hai con bò giống ban đầu, đến nay, đàn bò của gia đình anh đã phát triển lên 6 con. Mỗi năm, gia đình anh có thêm nguồn thu nhập hơn 20 triệu đồng từ việc bán bê và đến cuối năm 2024 đã chính thức thoát nghèo.

Theo anh Giàng, điều quan trọng của mô hình không chỉ là hỗ trợ con giống mà còn là việc được hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, giúp người dân có kiến thức, kinh nghiệm để phát triển sản xuất hiệu quả. Đây là hướng đi thiết thực, tạo điều kiện để người dân chủ động vươn lên thoát nghèo.

dong-tho4-200326.jpg
Đời sống của người dân xã Đông Thọ ngày càng được cải thiện.

Ông Vũ Ngọc Toàn, Phó Chủ tịch UBND xã Đông Thọ cho biết, năm 2025, xã được phân bổ gần 5 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ nguồn vốn này, địa phương đã thực hiện nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng 3 công trình giao thông liên thôn với tổng kinh phí hơn 4,7 tỷ đồng. Đồng thời, xã triển khai tiểu dự án phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Thời gian tới, xã mong muốn tiếp tục được tiếp cận nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, trường học và các công trình hạ tầng thiết yếu khác; qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho phát triển kinh tế - xã hội.

Từ những kết quả đạt được cho thấy, việc triển khai hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia đã và đang tạo ra những chuyển biến tích cực, làm thay đổi diện mạo nông thôn ở Đông Thọ. Những con đường mới, những ngôi nhà kiên cố cùng các mô hình sinh kế hiệu quả không chỉ cải thiện đời sống vật chất mà còn mở ra cơ hội phát triển lâu dài cho người dân. Đây chính là nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, từng bước vươn lên phát triển trong thời gian tới./.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Sơ tán nhiều hộ dân tại Thanh Hóa do nứt núi

Sơ tán nhiều hộ dân tại Thanh Hóa do nứt núi

Tối 7/8, bà Vi Thị Trọng, Chủ tịch UBND xã Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa cho biết, do mưa lớn trong những ngày qua đã gây ra sạt lở đất tại một số tuyến đường. Mưa lớn cũng đã làm quả núi thuộc khu vực bản Thanh Sơn bị nứt ở taluy dương, vết nứt này kéo dài khoảng 100 mét, có vị trí rộng khoảng 0,8 cm. Đây là khu vực có 17 hộ dân và Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Quan Sơn.

Gỡ nút thắt cho y tế cơ sở tại Điện Biên

Gỡ nút thắt cho y tế cơ sở tại Điện Biên

Tại tỉnh Điện Biên, chương trình khám bệnh, chữa bệnh và tư vấn sức khỏe miễn phí đang giúp hàng trăm nghìn người dân được kiểm tra sức khỏe ngay tại địa phương. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực, hệ thống y tế cơ sở vẫn đối mặt với không ít khó khăn do thiếu trang thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh.

Kịp thời hỗ trợ các hộ dân bị cháy nhà tại xóm Chăm

Kịp thời hỗ trợ các hộ dân bị cháy nhà tại xóm Chăm

Chiều 7/8, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hậu (tỉnh An Giang) Huỳnh Hồ Thanh Huy cho biết, chính quyền địa phương đã đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ ban đầu 16 triệu đồng cho các hộ dân có nhà bị cháy tại xóm Chăm, ấp La Ma, giúp bà con vượt qua khó khăn, sớm ổn định cuộc sống.

Lún, nứt cục bộ tại Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa 'đã được tính toán trước'

Lún, nứt cục bộ tại Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa 'đã được tính toán trước'

Ngày 7/8, ông Hà Sỹ Sơn, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 3, tỉnh Lâm Đồng, chủ đầu tư dự án Quảng trường Trung tâm Gia Nghĩa cho biết, sau khi dự án được đưa vào sử dụng, ngày 25/7 vừa qua, một số vị trí đã xuất hiện tình trạng lún, nứt cục bộ trên bề mặt, làm gãy vỡ đá lát nền tại một số vị trí trong khu vực.

Sơn La: Tập trung khắc phục hậu quả mưa lũ tại Muổi Nọi

Sơn La: Tập trung khắc phục hậu quả mưa lũ tại Muổi Nọi

Ngày 7/8, Đoàn công tác của Thiếu tướng Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc Công an tỉnh Sơn La đã đi kiểm tra tình hình thiệt hại do mưa lũ và công tác khắc phục hậu quả tại xã Muổi Nọi, một trong những địa phương chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đợt mưa lớn kéo dài những ngày qua.

Điểm tựa giảm nghèo cho người dân vùng cao

Điểm tựa giảm nghèo cho người dân vùng cao

Giảm nghèo bền vững không chỉ là hỗ trợ trước mắt mà còn tạo sinh kế để người dân chủ động vươn lên. Tại Điện Biên, cùng với các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn vốn tín dụng chính sách và nhiều mô hình hỗ trợ sản xuất đang trở thành điểm tựa giúp hàng nghìn hộ nghèo, cận nghèo từng bước ổn định cuộc sống.

Xuất hiện các cung trượt sạt và nhiều vết nứt, gãy tại Sơn La

Xuất hiện các cung trượt sạt và nhiều vết nứt, gãy tại Sơn La

Từ tháng 6 đến nay, xã Mường Chiên, tỉnh Sơn La đã xảy ra nhiều đợt mưa lớn, kéo dài, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất nông nghiệp của nhân dân. Trong đó, điểm dân cư Nặm Ngùa, bản Phiêng Bay đã xuất hiện cung trượt sạt kèm theo nhiều vết nứt gãy gây sụt lún, có nguy cơ sạt lở đất diện rộng, ảnh hưởng đến tính mạng và tài sản của người dân đang sinh sống tại đây.

Lạng Sơn đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp các xã biên giới

Lạng Sơn đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp các xã biên giới

Để đưa 4 trường phổ thông nội trú liên cấp các xã biên giới là Mẫu Sơn, Quốc Khánh, Khuất Xá và Kiên Mộc (tỉnh Lạng Sơn) vào hoạt động từ năm học 2026 - 2027, các đơn vị thi công và lực lượng liên quan đang tích cực đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện các hạng mục thiết yếu như lớp học, nhà công vụ, nhà hiệu bộ, sân trường... và lắp đặt cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy; dự kiến hoàn thành trong tháng 8/2026.

Đồng hành nâng cao năng lực số vùng biên

Đồng hành nâng cao năng lực số vùng biên

Ngày 6/8, tại phường Nam Đông Hà, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Quảng Trị tổ chức Lễ ra mắt Đội hình tình nguyện viên “Bình dân học vụ số vùng biên” năm 2026. Chương trình Lễ ra mắt được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối với 15 xã biên giới trên địa bàn.

Mưa lớn kéo dài gây nhiều thiệt hại tại tỉnh Sơn La

Mưa lớn kéo dài gây nhiều thiệt hại tại tỉnh Sơn La

Từ đêm 5/8 đến ngày 6/8, trên địa bàn tỉnh Sơn La có mưa vừa, mưa to và rải rác có dông, cục bộ có mưa rất to. Mưa lớn kéo dài đã gây sạt lở đất, sụt lún địa chất, ngập úng cục bộ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhà ở, sản xuất nông nghiệp, giao thông, thủy lợi và các công trình hạ tầng tại các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Lớp dạy chữ Khmer góp phần gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc

Lớp dạy chữ Khmer góp phần gìn giữ hồn cốt văn hóa dân tộc

Hơn 20 năm qua, các chùa Phật giáo Nam tông Khmer tại An Giang đều mở lớp dạy chữ Khmer miễn phí cho con em đồng bào. Không chỉ truyền dạy tiếng nói, chữ viết, những lớp học đặc biệt này còn góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, bồi đắp đạo đức, lối sống và tình yêu cội nguồn cho thế hệ trẻ.

'Đòn bẩy' giúp người dân giảm nghèo, phát triển sinh kế

Mưa lớn kéo dài gây thiệt hại khoảng 15 tỷ đồng tại Tuyên Quang

Trước việc mưa lớn kéo dài đã gây thiệt hại nặng về người và tài sản trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, chính quyền địa phương và các đơn vị chức năng đang tập trung triển khai các biện pháp khắc phục hậu quả; đồng thời chủ động ứng phó với diễn biến thời tiết còn phức tạp trong những ngày tới.

Bảo hiểm y tế - điểm tựa bảo vệ sức khỏe cho người dân

Bảo hiểm y tế - điểm tựa bảo vệ sức khỏe cho người dân

Hiện nay, trong bối cảnh chi phí khám, chữa bệnh ngày càng tăng, việc tham gia bảo hiểm y tế càng khẳng định vai trò “tấm lá chắn” bảo vệ sức khỏe của mỗi gia đình. Tại Đắk Lắk, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, công tác phát triển người tham gia bảo hiểm y tế đạt nhiều kết quả, từng bước hiện thực hóa mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân.

Tạo sinh kế, mở đường thoát nghèo cho đồng bào Khmer

Tạo sinh kế, mở đường thoát nghèo cho đồng bào Khmer

Giảm nghèo bền vững ở vùng đồng bào Khmer không còn dừng ở việc hỗ trợ trước mắt mà đang được tỉnh Vĩnh Long triển khai theo hướng phát huy nội lực của người dân thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, tín dụng chính sách, đào tạo nghề và hỗ trợ phát triển sản xuất. 

Gần 40 điểm bị sạt lở đất do mưa lớn tại Lào Cai

Gần 40 điểm bị sạt lở đất do mưa lớn tại Lào Cai

Theo báo cáo nhanh của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, tính đến 17 giờ ngày 5/8 đợt mưa lớn kéo dài đã gây ra tình trạng sạt lở đất nghiêm trọng tại nhiều nơi trên địa bàn tỉnh. Nhiều nhà ở, công trình hạ tầng và diện tích sản xuất bị thiệt hại nặng nề.

Cảnh báo lũ quét, sạt lở đất tại Thái Nguyên

Cảnh báo lũ quét, sạt lở đất tại Thái Nguyên

Thông tin từ Đài khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Nguyên cho biết, trong 12 giờ qua (từ 3 giờ ngày 5/8 đến 15 giờ ngày 05/08), trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã có mưa vừa, mưa to. Nhiều địa phương ghi nhận lượng mưa lớn như tại Bản Thi 30,4 mm (xã Yên Thịnh); Bộc Bố 55,8 mm (xã Bằng Thành); Nghiên Loan 2 là 39,8 mm (xã Nghiên Loan); Quảng Bạch 45 mm (xã Quảng Bạch);…

Tuyển sinh trường nội trú liên cấp ở Cao Bằng cần đạt trên 90%

Tuyển sinh trường nội trú liên cấp ở Cao Bằng cần đạt trên 90%

Ngày 5/8, tại cuộc họp với lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo và đại diện các xã về công tác tuyển sinh năm học 2026 – 2027 và chuẩn bị vận hành hệ thống trường phổ thông nội trú liên cấp, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Lê Hải Hòa yêu cầu các địa phương rà soát lại kế hoạch tuyển sinh, cam kết đạt tỷ lệ trên 90%, đồng thời tối ưu hóa hệ thống trường liên cấp tại khu vực biên giới, bảo đảm phù hợp giữa quy mô lớp học và số lượng học sinh bởi trường xây dựng xong phải có học sinh, tránh lãng phí cơ sở vật chất sau đầu tư.

Hỗ trợ phụ nữ tỉnh miền núi, biên giới khởi nghiệp gắn với khoa học công nghệ

Hỗ trợ phụ nữ tỉnh miền núi, biên giới khởi nghiệp gắn với khoa học công nghệ

Ngày 5/8, tại Lạng Sơn, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội thảo khoa học thực trạng phụ nữ tỉnh Lạng Sơn khởi nghiệp gắn với khoa học công nghệ nhằm đánh giá thực trạng mức độ sẵn sàng của phụ nữ khởi nghiệp gắn với khoa học công nghệ với quá trình khởi nghiệp/phát triển kinh doanh; đề xuất, khuyến nghị một số giải pháp phù hợp định hướng Đề án hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2026-2035.

Triển khai các giải pháp phòng tránh sạt lở đất ở vùng cao

Triển khai các giải pháp phòng tránh sạt lở đất ở vùng cao

Cao Bằng là tỉnh miền núi có địa hình bị chia cắt, độ dốc lớn, nền địa chất nhiều nơi phong hóa, dẫn đến khả năng gây trượt đất, đá. Trên một số sườn đồi ở các xã vùng cao, đã xuất hiện những vết nứt dài hàng chục mét, nguy cơ sạt lở rất cao. Chính quyền các cấp tỉnh Cao Bằng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm hạn chế lở đất ở các điểm xung yếu.

Chuyển đổi số nơi bản làng biên giới

Chuyển đổi số nơi bản làng biên giới

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về "đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia", Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên đã triển khai mô hình “Chiến sĩ quân hàm xanh đẩy nhanh chuyển đổi số”.

Nỗ lực nâng cao chất lượng, phục vụ nhân dân

Nỗ lực nâng cao chất lượng, phục vụ nhân dân

Vượt qua những thách thức ban đầu khi vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, các địa phương cấp xã, tỉnh Khánh Hòa đã chủ động kiện toàn bộ máy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và cải cách thủ tục hành chính.

Bền bỉ tạo dựng những mùa no ấm nơi biên viễn

Bền bỉ tạo dựng những mùa no ấm nơi biên viễn

Trên những triền đồi biên giới phía Tây Quảng Trị, bước chân của những người lính “quân hàm xanh” không chỉ in dấu trên đường tuần tra mà còn hòa cùng nhịp lao động của bà con dân bản.

Gấp rút hoàn thiện trường lớp, cải thiện điều kiện dạy học tại địa bàn khó khăn

Gấp rút hoàn thiện trường lớp, cải thiện điều kiện dạy học tại địa bàn khó khăn

Những ngày đầu tháng 8, trên nhiều công trình trường học ở Nghệ An, không khí thi công diễn ra khẩn trương. Từ miền núi đến đồng bằng, hàng trăm phòng học, nhà đa năng, thư viện, bếp ăn bán trú và các công trình phụ trợ đang được hoàn thiện trước thềm năm học 2026 - 2027. Việc huy động đồng bộ nguồn vốn ngân sách, Chương trình mục tiêu quốc gia và xã hội hóa đã góp phần từng bước tháo gỡ khó khăn về cơ sở vật chất, tạo nền tảng nâng cao chất lượng giáo dục của địa phương.

Lào Cai kiên quyết sơ tán người và tài sản khỏi khu vực nguy hiểm

Lào Cai kiên quyết sơ tán người và tài sản khỏi khu vực nguy hiểm

Trước nguy cơ thiên tai tiếp tục diễn biến phức tạp, ngày 4/8, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành văn bản hỏa tốc yêu cầu các sở, ngành, cơ quan, đơn vị và UBND các xã, phường khẩn trương triển khai các biện pháp chủ động ứng phó với mưa lớn, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất, lốc, sét và mưa đá. Trong đó, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Tuấn Anh yêu cầu sẵn sàng phương án, kiên quyết sơ tán, di dời người và tài sản ra khỏi khu vực nguy hiểm.