Đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở xã miền núi

Đông Thọ là xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Tuyên Quang với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, dân số chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số như: Mông, Tày, Cao Lan… Những năm gần đây, nhờ phát huy hiệu quả nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, đời sống người dân ngày càng cải thiện, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu giảm nghèo bền vững.

dong-tho2-200326.jpg
Trường mầm non Đông Thọ 2 được xây dựng khang trang từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Hạ tầng được đầu tư đồng bộ

Xác định cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, xã Đông Thọ đã chủ động rà soát, xây dựng kế hoạch và ưu tiên nguồn lực để bê tông hóa các tuyến đường liên thôn, nội thôn. Ngay khi được phân bổ vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia, chính quyền địa phương đã nhanh chóng triển khai các bước với phương châm công khai, minh bạch, có sự tham gia giám sát của cộng đồng. Tại mỗi thôn, Ban giám sát cộng đồng được thành lập, đảm bảo mọi khoản chi phí, định mức hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cũng như phần đóng góp ngày công của người dân đều được bàn bạc dân chủ tại nhà văn hóa; qua đó tạo sự đồng thuận và thống nhất cao trong nhân dân.

dong-tho-200326.jpg
100% đường trục thôn của xã Đông Thọ được bê tông hóa.

Con đường bê tông dài hơn 1,2 km nối thôn Tân An với thôn Làng Mông là một trong những công trình tiêu biểu. Trước đây, đây là tuyến đường đất lầy lội, đi lại khó khăn, đặc biệt vào mùa mưa. Nay con đường đã được bê tông hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, giao thương hàng hóa. Ông Lý Văn Súa, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Tân An cho biết, từ khi có con đường mới, việc vận chuyển nông, lâm sản của người dân trở nên dễ dàng hơn, chi phí giảm, thời gian rút ngắn; góp phần nâng cao thu nhập và thúc đẩy phát triển kinh tế gia đình.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân, các Chương trình mục tiêu quốc gia triển khai tại xã Đông Thọ đạt nhiều kết quả tích cực. Hạ tầng nông thôn được đầu tư đồng bộ, 100% đường trục thôn được bê tông hóa; 100% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh; thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 48 triệu đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 10,6%.

Tạo điều kiện để người dân vươn lên thoát nghèo

dong-tho3-200326.jpg
Ngôi nhà mới của gia đình bà Lý Thị Xống, thôn Tân An, xã Đông Thọ được xây dựng từ nguồn Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát.

Cùng với đầu tư hạ tầng thiết yếu, địa phương còn chú trọng thực hiện các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo, cận nghèo. Riêng năm 2025, xã đã triển khai xây mới và sửa chữa 72 căn nhà cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí hàng chục tỷ đồng. Nguồn lực được huy động từ ngân sách Nhà nước, nguồn xã hội hóa và phần đối ứng của người dân, giúp nhiều gia đình có nơi ở ổn định, yên tâm lao động sản xuất.

Gia đình bà Lý Thị Xống (thôn Tân An) là một trong những hộ được thụ hưởng chính sách này. Trước đây, gia đình bà với 5 nhân khẩu phải sinh sống trong căn nhà xuống cấp, không đảm bảo an toàn. Nhờ được hỗ trợ 60 triệu đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, gia đình bà đã xây dựng được ngôi nhà kiên cố. Bà Xống chia sẻ, từ khi có nhà mới, gia đình không còn lo lắng mỗi khi mưa gió; các thành viên có thêm động lực lao động, phát triển kinh tế. Con trai lớn của bà hiện đã có việc làm ổn định, góp phần cải thiện thu nhập cho gia đình.

Không chỉ dừng lại ở hỗ trợ hạ tầng và nhà ở, xã Đông Thọ còn tập trung triển khai các mô hình sinh kế phù hợp, giúp người dân phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập bền vững. Gia đình anh Lý Văn Giàng, thôn Tân An trước đây là hộ nghèo, thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Năm 2023, anh được hỗ trợ tham gia mô hình chăn nuôi bò sinh sản từ Dự án liên kết hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm bò Mông. Từ hai con bò giống ban đầu, đến nay, đàn bò của gia đình anh đã phát triển lên 6 con. Mỗi năm, gia đình anh có thêm nguồn thu nhập hơn 20 triệu đồng từ việc bán bê và đến cuối năm 2024 đã chính thức thoát nghèo.

Theo anh Giàng, điều quan trọng của mô hình không chỉ là hỗ trợ con giống mà còn là việc được hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, giúp người dân có kiến thức, kinh nghiệm để phát triển sản xuất hiệu quả. Đây là hướng đi thiết thực, tạo điều kiện để người dân chủ động vươn lên thoát nghèo.

dong-tho4-200326.jpg
Đời sống của người dân xã Đông Thọ ngày càng được cải thiện.

Ông Vũ Ngọc Toàn, Phó Chủ tịch UBND xã Đông Thọ cho biết, năm 2025, xã được phân bổ gần 5 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Từ nguồn vốn này, địa phương đã thực hiện nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng 3 công trình giao thông liên thôn với tổng kinh phí hơn 4,7 tỷ đồng. Đồng thời, xã triển khai tiểu dự án phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Thời gian tới, xã mong muốn tiếp tục được tiếp cận nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông, trường học và các công trình hạ tầng thiết yếu khác; qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho phát triển kinh tế - xã hội.

Từ những kết quả đạt được cho thấy, việc triển khai hiệu quả các Chương trình mục tiêu quốc gia đã và đang tạo ra những chuyển biến tích cực, làm thay đổi diện mạo nông thôn ở Đông Thọ. Những con đường mới, những ngôi nhà kiên cố cùng các mô hình sinh kế hiệu quả không chỉ cải thiện đời sống vật chất mà còn mở ra cơ hội phát triển lâu dài cho người dân. Đây chính là nền tảng quan trọng để địa phương tiếp tục thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, từng bước vươn lên phát triển trong thời gian tới./.

Dân tộc Mông

Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.

Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.

Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.

Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.

Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...

Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.

Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.

Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.

Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.

Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.

Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.

Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.

Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.

Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.

Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.

Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt.jpg
Tuổi thơ hồn nhiên của trẻ em dân tộc Mông ở xã Vân Hồ, huyện Mộc Châu (Sơn La). Ảnh Lưu Trọng Đạt

: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.

Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.

Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.

Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.

Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.

Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.

Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.

Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...

Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.

Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.

Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.

Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.

Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.

Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).

Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung.jpg
Các vận động viên dân tộc Mông thi đấu môn bắn nỏ tại Ngày hội Văn hóa, Thể thao các dân tộc huyện Than Uyên (Lai Châu). Ảnh Quý Trung

Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mông
Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Khánh Hòa chủ động kiểm soát sốt rét, hướng tới mục tiêu loại trừ

Khánh Hòa chủ động kiểm soát sốt rét, hướng tới mục tiêu loại trừ

Từ đầu năm đến nay, tỉnh Khánh Hòa ghi nhận 4 ca mắc sốt rét, tập trung tại khu vực miền núi Khánh Vĩnh. Ngành Y tế tỉnh khuyến cáo người dân tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống sốt rét; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền với phương châm "gõ cửa từng nhà".

Tạo đà bứt phá kinh tế từ 'đòn bẩy' cơ sở hạ tầng

Tạo đà bứt phá kinh tế từ 'đòn bẩy' cơ sở hạ tầng

Nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, Thắng Mố là xã vùng cao núi đá với địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, đời sống người dân còn nhiều thiếu thốn. Toàn xã hiện có 2.627 hộ với 15.866 nhân khẩu, trong đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 50%, hộ cận nghèo hơn 13%. Nguồn nước sinh hoạt và sản xuất chưa ổn định… Những con số ấy không chỉ phản ánh thực trạng, mà còn gợi lên một vùng đất vẫn đang loay hoay tìm hướng thoát nghèo bền vững.

Đưa công nghệ đến gần hơn với đời sống người dân miền núi

Đưa công nghệ đến gần hơn với đời sống người dân miền núi

Thời gian qua, việc ứng dụng Kiosk thông minh tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Mậu A, tỉnh Lào Cai đã giúp người dân thực hiện thủ tục hành chính nhanh chóng, thuận tiện hơn; qua đó góp phần nâng cao chất lượng phục vụ ngay từ cơ sở, thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng chính quyền điện tử.

Nỗi lo nước sạch của người dân vùng biên Thanh Thủy

Nỗi lo nước sạch của người dân vùng biên Thanh Thủy

Tại xã Thanh Thủy, Tuyên Quang, hệ thống cấp nước sinh hoạt xuống cấp sau nhiều năm khai thác, khiến nguồn nước không ổn định và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn vệ sinh. Chính quyền địa phương đang triển khai các giải pháp khắc phục, hướng tới nâng cấp hệ thống nhằm bảo đảm nhu cầu sinh hoạt cho người dân.

Ngôi nhà Đại đoàn kết - biểu tượng xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình

Ngôi nhà Đại đoàn kết - biểu tượng xây dựng nông thôn mới tại Ninh Bình

Trên những miền quê Ninh Bình đã có rất nhiều ngôi nhà khang trang được dựng nên từ chương trình xây nhà Đại đoàn kết. Đây chính là biểu tượng của sự sẻ chia, giúp những gia đình nghèo có cơ hội vươn lên trong đời sống, góp phần tô thắm thêm truyền thống đoàn kết dân tộc và là biểu tượng trong xây dựng nông thôn mới tại địa phương.

Điện Biên tăng tốc xây dựng trường nội trú ở biên giới

Điện Biên tăng tốc xây dựng trường nội trú ở biên giới

Hiện nay, tại các xã biên giới tỉnh Điện Biên, nhiều dự án Trường Phổ thông Nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở đang được triển khai đồng loạt. Với yêu cầu tiến độ cao, các đơn vị thi công đang tập trung nhân lực, máy móc, đẩy nhanh tiến độ để kịp đưa công trình vào sử dụng trong năm học mới.

Chủ động dự phòng, ngăn dịch bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng

Chủ động dự phòng, ngăn dịch bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng

Lào Cai đang bước vào thời điểm giao mùa, thời tiết diễn biến phức tạp, một số bệnh truyền nhiễm có xu hướng mắc cao hơn so với cùng kỳ năm trước như: quai bị, tay - chân - miệng, dại, thủy đậu, tiêu chảy... Ngành Y tế Lào Cai đã và đang triển khai nhiều giải pháp phòng, chống, ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe của cộng đồng ngay từ tuyến cơ sở.

Hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả dông lốc, ổn định sản xuất và đời sống

Hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả dông lốc, ổn định sản xuất và đời sống

Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện các địa phương bị thiệt hại bởi dông lốc, mưa đá, gió giật mạnh đã chỉ đạo các lực lượng chức năng hỗ trợ, giúp đỡ người dân khắc phục hậu quả thiên tai, ổn định sản xuất và đời sống. đồng thời thăm hỏi, động viên người bị thương và tiếp tục rà soát, thống kê, đánh giá thiệt hại.

Đánh thức vùng chè Shan tuyết cổ thụ Hồ Thầu

Đánh thức vùng chè Shan tuyết cổ thụ Hồ Thầu

Cây chè Shan Tuyết ở xã Hồ Thầu, tỉnh Tuyên Quang được đánh giá cao nhờ điều kiện tự nhiên đặc biệt: khí hậu mát mẻ, độ cao lý tưởng và hệ sinh thái rừng nguyên sinh, tạo nên hương vị riêng biệt, khó trộn lẫn. Chính quyền và người dân địa phương đang từng bước xây dựng chuỗi liên kết, gắn với chế biến sâu, xây dựng thương hiệu và phát triển du lịch trải nghiệm.

Tuyên Quang có khả năng cao xảy ra mưa đá và gió giật mạnh

Tuyên Quang có khả năng cao xảy ra mưa đá và gió giật mạnh

Ngày 3/5, nhiều khu vực của tỉnh Tuyên Quang như: Xuân Giang, Tân Trịnh, Bằng Lang, Yên Thành, Minh Xuân, Hồng Sơn, Đông Thọ, Trường Sinh, Phú Lương, Bình Ca, Bình Thuận, Minh Quang, Hồng Thái, Yên Lập... đã xuất hiện mưa rào và dông do ảnh hưởng của các vùng mây đối lưu phát triển mạnh.

Bộ đội Biên phòng Quảng Trị kịp thời xử lý hiệu quả nhiều tình huống trong ngày nghỉ lễ

Bộ đội Biên phòng Quảng Trị kịp thời xử lý hiệu quả nhiều tình huống trong ngày nghỉ lễ

Trong những ngày nghỉ lễ 30/4 và 1/5, cùng với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị đã chủ động bám địa bàn, kịp thời hỗ trợ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, tham gia chữa cháy rừng và cứu nạn, cứu hộ, góp phần bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, giữ bình yên địa bàn tuyến biên giới.

Điểm tựa lòng dân nơi vùng cao, biên giới Sơn La

Điểm tựa lòng dân nơi vùng cao, biên giới Sơn La

Bên cạnh nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự, lực lượng Công an tỉnh Sơn La còn trực tiếp tham gia hỗ trợ người dân tại các địa bàn vùng cao, biên giới khi xảy ra sự cố, thiên tai. Trong điều kiện địa hình phức tạp, đi lại khó khăn, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã tham gia đưa người bị nạn đi cấp cứu, hỗ trợ khắc phục hậu quả, góp phần ổn định đời sống người dân, trở thành điểm tựa vững chắc tại cơ sở.

Bữa cơm bán trú tiếp sức học sinh vùng cao đến trường

Bữa cơm bán trú tiếp sức học sinh vùng cao đến trường

Sự thay đổi từ những bữa ăn trưa tại trường đã tác động rõ nét đến đời sống của học sinh vùng cao Nghệ An. Đối với nhiều em, đó không chỉ là một bữa ăn đơn thuần mà còn là bước ngoặt trong sinh hoạt hằng ngày.

Khi doanh nghiệp ‘bắt tay’ nông dân

Khi doanh nghiệp ‘bắt tay’ nông dân

Không chỉ bao tiêu sản phẩm, nhiều doanh nghiệp đang tham gia sâu vào sản xuất, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, tổ chức chuỗi liên kết, giúp nông dân ổn định sinh kế và phát triển bền vững. Việc tham gia sâu vào chuỗi sản xuất không chỉ giúp cả doanh nghiệp và nông dân giảm bớt rủi ro mà còn nâng sức cạnh tranh cho nông sản Việt.

Lào Cai xuất hiện mưa đá, nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở

Lào Cai xuất hiện mưa đá, nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở

Chiều 2/5, tại các xã Minh Lương, Nậm Xé (tỉnh Lào Cai) đã xảy ra mưa đá, gây ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của người dân. Chính quyền địa phương và các lực lượng chức năng đang khẩn trương hỗ trợ bà con khắc phục hậu quả, nhanh chóng ổn định cuộc sống và giảm thiểu thiệt hại.

Không gian văn hóa đa sắc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Không gian văn hóa đa sắc tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

Hoà trong chuỗi hoạt động mừng Ngày Giải phóng miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, chương trình dân ca, dân vũ “Xúng xính chợ phiên” tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam tái hiện sinh động không gian chợ vùng cao qua các tiết mục đan xen và hoạt động giao lưu, trải nghiệm cùng du khách.

Đổi thay trong vùng 'Căn cứ Bắc' ở Nam Tây Nguyên

Đổi thay trong vùng 'Căn cứ Bắc' ở Nam Tây Nguyên

Từng là nơi đón tiếp cán bộ, xây dựng căn cứ chiến lược cho thời kỳ kháng chiến, đến nay vùng "Căn cứ Bắc" (xã Lộc Bắc cũ, nay là xã Bảo Lâm 5, Lâm Đồng) đã vươn mình, thay da đổi thịt đem đến cuộc sống ấm no cho đồng bào các dân tộc nơi đây.