Du lịch bền vững nhìn từ di sản Phật giáo Nam tông Khmer

Hàng trăm năm qua, những mái chùa Phật giáo Nam tông vừa là điểm tựa tín ngưỡng, vừa là nơi lưu giữ di sản của đồng bào Khmer. Giờ đây, khi “guồng quay” du lịch chạm đến từng phum sóc, những không gian thiêng liêng ấy nhanh chóng trở thành điểm đến đầy sức hút.

nam-rong-2306.jpg
Chùa Som Rông tọa lạc tại phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Tuy nhiên, bước vào nhịp sống hội nhập, mỗi ngôi chùa lại mang một tâm thế khác biệt: Có nơi chủ động kiến tạo không gian để phát triển, lại có nơi lặng lẽ khép mình giữ nếp thanh tu. Sự đa dạng trong góc nhìn này đặt ra bài toán mang tính thời sự: Làm sao để khai thác du lịch, phát triển kinh tế mà không làm phai nhòa hồn cốt của di sản.

Chủ động kiến tạo không gian văn hóa gắn với du lịch tâm linh

Với lịch sử hình thành từ năm 1725, chùa Som Rông (Wath Pôtum Wôngsa Som Rông) chọn cho mình hướng đi chủ động trong việc kiến tạo và mở rộng không gian văn hóa. Nhìn từ góc độ của Ban quản trị chùa, việc phát triển các công trình kiến trúc bề thế không chỉ phục vụ nhu cầu tín ngưỡng mà còn là phương tiện hữu hiệu để quảng bá hình ảnh văn hóa Khmer đến với đại chúng.

Chùa Som Rông, phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, nổi bật với kiến trúc độc đáo. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Chùa Som Rông, phường Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, nổi bật với kiến trúc độc đáo. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Sự cởi mở và chủ động này thể hiện qua việc nhà chùa liên tục tôn tạo, xây dựng các công trình mang đậm dấu ấn nghệ thuật. Điển hình là bức tượng Phật Thích Ca Mâu Ni nhập niết bàn khổng lồ chiều dài 72m, cao 29m - được xem là bức tượng Phật nằm lớn nhất cả nước. Với các công trình đầy tính nghệ thuật như chánh điện, bảo tháp và hệ thống tượng Phật Đản sanh, Thành đạo, nhà chùa trở thành điểm đến chiêm bái và “check-in” mang tính biểu tượng của tỉnh Sóc Trăng cũ và giờ là thành phố Cần Thơ.

Theo Thượng tọa Lý Đức, Trụ trì chùa Som Rông, những thành tựu trong bảo tồn, tôn tạo các thiết chế văn hóa, kiến trúc cổ tại chùa Som Rông không thể không nhắc đến phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Chính quyền địa phương luôn quan tâm, tạo điều kiện cấp phép để các hạng mục trong chùa được sửa chữa, trùng tu, xây dựng mới khang trang hơn. Đáp lại sự quan tâm đó là sự đồng thuận, chung sức của nhân dân. Sư sãi và bà con Phật tử tích cực đóng góp công sức, nguồn lực.

nam-rong2-2306.jpg
Ngôi Sala, nơi diễn ra các hoạt động sinh hoạt tôn giáo quan trọng. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Từ lăng kính của chùa Som Rông, du lịch tâm linh được xem là đòn bẩy thực hiện tốt hơn vai trò phụng sự xã hội. Lượng khách hành hương đông đảo tạo điều kiện thuận lợi để nhà chùa lan tỏa các giá trị tốt đẹp, bài trừ mê tín dị đoan và giáo dục truyền thống "Uống nước nhớ nguồn". Sự phát triển này góp phần giúp nhà chùa huy động được nguồn tịnh tài lớn hỗ trợ hoạt động thiện nguyện, xây nhà tình thương, cấp phát học bổng và chăm lo đời sống cho bà con khó khăn. Du lịch, trong trường hợp này được nhà chùa nhìn nhận như một phương tiện hữu hiệu để thắt chặt khối đại đoàn kết và thúc đẩy kinh tế cộng đồng địa phương.

Giữ gìn cốt lõi tu học, vạn sự tùy duyên

chua-khmer.jpg
Rắn thần Naga, hình tượng phổ biến trong các ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer. Ảnh: Nguyễn Hằng/TTXVN

Nép mình dưới những tán cây cổ thụ, chùa Dơi (Wath Mahâtúp) từ lâu được biết đến như một công trình kiến trúc Khmer cổ kính hòa quyện hoàn hảo cùng hệ sinh thái tự nhiên độc đáo. Ở thời kỳ hoàng kim, di tích quốc gia này là "thương hiệu" du lịch rực rỡ bậc nhất của vùng, thu hút dòng khách thập phương nườm nượp đổ về chiêm bái và tận mắt chứng kiến bầy dơi quạ khổng lồ treo mình trên bạt ngàn vòm lá.

Tuy nhiên, theo dòng thời gian cùng nhiều biến động thăng trầm về cảnh quan và môi trường sinh thái, lượng khách du lịch nội địa cũng có phần sụt giảm đáng kể. Dù đã qua thời kỳ đỉnh cao nhộn nhịp, bước vào hiện tại, không gian tĩnh lặng và nét hoang sơ nguyên bản của chùa Dơi vẫn duy trì được sức hút riêng biệt; trong đó, chùa vẫn đón lượng khách tương đối ổn định, đa phần là du khách quốc tế tìm đến khám phá văn hóa, tín ngưỡng bản địa.

Chia sẻ về vấn đề phát triển du lịch, Thượng tọa Lâm Tú Linh, Phó Trụ trì chùa Dơi có một góc nhìn chân phương: Thực tế đối với những người tu hành, nhà chùa không có định hướng gì liên quan đến phát triển du lịch. Thay vào đó, trọng tâm của các sư là tập trung tu tập, sao cho sống tốt đời đẹp đạo. Nhà chùa vẫn duy trì việc tổ chức các ngày lễ cổ truyền như Chol Chnăm Thmây, Sene Dolta, Ok Om Bok… nhằm gìn giữ truyền thống văn hóa của dân tộc. Tâm thế của nhà chùa trước dòng khách du lịch là sự hoan hỷ nhưng không cưỡng cầu.

Ngôi chánh điện cổ kính của chùa Dơi vẫn giữ được những nét hoang sơ nguyên bản sau khi được phục dựng. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Ngôi chánh điện cổ kính của chùa Dơi vẫn giữ được những nét hoang sơ nguyên bản sau khi được phục dựng. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Theo Thượng tọa Lâm Tú Linh, sức hút của chùa Dơi đối với du khách, đặc biệt là khách quốc tế xuất phát từ không gian xanh mát, nét kiến trúc hoang sơ và đặc biệt là hệ sinh thái tự nhiên - nơi trú ngụ của bầy dơi. Dù hiện nay số lượng dơi đã suy giảm nặng nề, cảnh quan nguyên sơ này vẫn phù hợp với sở thích khám phá của khách phương xa.

Không chủ đích "làm du lịch" không đồng nghĩa với việc nhà chùa tách rời khỏi cộng đồng. Chùa Dơi đang triển khai các giải pháp lan tỏa di sản phi vật thể, chẳng hạn như bố trí không gian nhạc ngũ âm trong khuôn viên phục vụ du khách. Nhà chùa còn sở hữu những chất liệu văn hóa dân gian độc đáo như câu chuyện về "heo (lợn) 5 móng" - nguồn cảm hứng từng thu hút đoàn làm phim đến tìm hiểu.

Tuy nhiên, từ góc nhìn của các chùa, sự biến động của du lịch cũng mang lại những trăn trở về sinh kế đồng bào. Lượng khách du lịch những năm gần đây có phần giảm sút đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế của cộng đồng dân cư xung quanh, đặc biệt là những tiểu thương mưu sinh dựa vào việc bán các lễ vật cúng, sản vật địa phương quanh chùa.

Quy hoạch đồng bộ, hài hòa bảo tồn và phát triển

Du khách trải nghiệm tại khuôn viên sinh thái xanh mát tại chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Du khách trải nghiệm tại khuôn viên sinh thái xanh mát tại chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Nhìn nhận về bức tranh tổng thể, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Cần Thơ Sầm Long Giang khẳng định, các thiết chế văn hóa Phật giáo Nam tông Khmer là nguồn tài nguyên văn hóa đặc sắc, mang giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Việc khai thác hiệu quả hệ thống chùa cùng các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer góp phần quan trọng đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng và du lịch trải nghiệm của thành phố.

Tuy nhiên, để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, bước đi cần thiết trước mắt là phải khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng thực trạng và điều kiện kết nối. Kết quả này sẽ làm cơ sở vững chắc để Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu, đề xuất chính sách hỗ trợ thiết thực: Từ việc đưa các chương trình biểu diễn nghệ thuật vào phục vụ tại lễ hội, gắn kết nghệ nhân và cộng đồng dân cư vào chuỗi sản phẩm du lịch cho đến đẩy mạnh số hóa tư liệu, truyền thông quảng bá di sản Khmer đến đông đảo du khách.

Du lịch góp phần tạo thêm nguồn thu nhập từ các dịch vụ phụ trợ cho cộng đồng dân cư quanh chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Du lịch góp phần tạo thêm nguồn thu nhập từ các dịch vụ phụ trợ cho cộng đồng dân cư quanh chùa Dơi. Ảnh: Trung Kiên/TTXVN

Để giải quyết bài toán cân bằng giữa bảo tồn và phát triển, ông Sầm Long Giang cho biết, thời gian tới, Sở tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ sở tôn giáo triển khai bộ quy tắc ứng xử văn minh du lịch dành cho khách tham quan tại các điểm tâm linh. Việc khai thác du lịch phải hướng dẫn du khách thực hiện đúng quy định về trang phục, hạn chế hoạt động ảnh hưởng đến sinh hoạt tôn giáo và tuyệt đối không tổ chức dịch vụ mang tính thương mại trong khu vực thờ tự. Ngành tăng cường tập huấn cho đội ngũ hướng dẫn viên, doanh nghiệp lữ hành và cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức bảo vệ di sản.

Ngành du lịch thành phố chủ trương gắn kết lợi ích cộng đồng vào định hướng phát triển bền vững. Cụ thể, Sở đẩy nhanh công tác phối hợp liên ngành nhằm trang bị, nâng cao kỹ năng làm du lịch cộng đồng cho người dân. Phát triển sản phẩm OCOP, thủ công mỹ nghệ và ẩm thực truyền thống dọc tuyến tham quan chùa cũng được xúc tiến mạnh mẽ, đi đôi với việc nhanh chóng kết nối doanh nghiệp lữ hành thu hút du khách đến trải nghiệm, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp tạo thu nhập ổn định cho bà con.

Phát triển du lịch từ lăng kính của các chùa Phật giáo Nam tông Khmer không phải là một lăng kính đơn sắc. Dù tiếp cận theo cách thức chủ động kiến tạo hay tĩnh tại tùy duyên, cả hai góc nhìn này đều tựu trung ở một điểm: Các di sản tôn giáo không tồn tại độc lập mà luôn đan xen và gắn bó máu thịt với đời sống văn hóa, tinh thần và sinh kế của đồng bào phum sóc. Hiểu thấu đáo góc nhìn từ phía các chùa kết hợp cùng sự định hướng quy hoạch tinh tế, bảo tồn văn minh từ cơ quan quản lý chính là chìa khóa để ngành du lịch địa phương có những bước đi bền vững và nhân văn hơn trong tương lai./.

Dân tộc Khmer

Tên tự gọi: Người Khmer.

Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.

Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.

Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.

Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).

Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.

Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu (2).JPG
Trang phục bắt mắt, nhiều màu sắc góp phần tôn lên vẻ đẹp của phụ nữ Khmer Nam Bộ. Ảnh An Hiếu

: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.

Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.

Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.

Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.

Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.

Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.

Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.

Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.

Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.

Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).

Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.

Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm.jpg
Các nghệ nhân người Khmer (Cà Mau) diễn tấu với các nhạc cụ trong dàn nhạc trống lớn. Ảnh Huỳnh Lâm

Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Khmer

Có thể bạn quan tâm

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Từ ngày 31/8 - 2/9, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lóng Sập, xã Lóng Sập diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch thu hút đông đảo du khách và nhân dân biên giới Việt Nam và Lào tham gia. Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động thuộc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức.

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Tết Độc lập 2/9 không chỉ rộn ràng ở các đô thị mà còn lan tỏa đến những bản làng vùng cao Điện Biên. Trong sắc cờ đỏ, đồng bào các dân tộc khoác lên mình trang phục truyền thống, hòa vào các hoạt động văn hóa, vui hội và đón du khách, cùng lan tỏa niềm tự hào về quê hương, đất nước.

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng Tết Độc lập năm 2026, ngày 2/9/2026, tại Không gian văn hóa Mông thuộc sân vận động xã Than Uyên, Bảo tàng tỉnh Lai Châu phối hợp với UBND xã Than Uyên tổ chức trình diễn cúng cây nêu trích đoạn trong Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông. Đây là một trong những điểm nhấn đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến tham quan, trải nghiệm. 

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Sáng 2/9, tại Quảng trường Tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa), Giải chạy Tuy Hòa bán marathon 2026 “Đón bình minh trên biển” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức đã hoàn thành các phần thi. Giải có sự tham gia của gần 3.000 vận động viên, xuất phát vào lúc 4 giờ sáng 2/9 với hành trình đi qua các tuyến đường ở phường, kết nối các địa điểm du lịch như Tháp Nghinh Phong, Tháp Nhạn và khu vực biển Tuy Hòa.

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Sáng 2/9/2026, tại Sân vận động xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu diễn ra Lễ thượng cờ chào mừng Tết Độc lập năm 2026 với sự tham gia của hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, học sinh, nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu cùng du khách. Sau lễ thượng cờ là các hoạt động múa sạp, diễu hành đường phố mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc vùng cao Lai Châu.

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Nằm trong chuỗi các hoạt động Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, tối 1/9, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Chương trình nghệ thuật với chủ đề "Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu", chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày "Tết Độc lập" - Quốc khánh 2/9. Chương trình thu hút đông đảo du khách và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đến dự.

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Trong không khí đón mừng Tết Độc lập 2/9, đồng bào Mường ở Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ lại sum họp, tổ chức các hoạt động theo phong tục được duy trì qua nhiều thế hệ. Từ bữa cơm đoàn tụ, những món quà biếu cha mẹ đến bánh uôi, tiếng chiêng, lời hát đối, những phong tục ấy góp phần tạo nên nét văn hóa đặc sắc trong ngày Tết của đồng bào Mường nơi đây.

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nhạc ngũ âm không chỉ góp phần tạo nên không khí trang nghiêm trong các nghi lễ Phật giáo hay rộn ràng trong những lễ hội truyền thống, mà còn là một phần văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Tại các ngôi chùa Khmer ở An Giang, những lớp học nhạc ngũ âm đang giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm đặc trưng của dân tộc mình.

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi là nơi mang đậm nét văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; trong đó âm nhạc đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của bà con nhân dân nơi đây.