Đưa tri thức số lên đỉnh Ngọc Linh

Giữa đại ngàn Ngọc Linh, xã Trà Linh, thành phố Đà Nẵng, học sinh dân tộc Xơ Đăng đang từng bước tiếp cận máy tính, internet và những bài học trực quan.

Cùng với đầu tư thiết bị cho trường học, địa phương chủ động mời chuyên gia tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) cho giáo viên, từng bước đưa công nghệ vào dạy học, góp phần thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa miền núi và đồng bằng.

ngoc-linh-tri-thuc-818.jpg
Học sinh các khối lớp tại xã Trà Linh làm quen với máy tính, Internet và các thiết bị số để mở rộng tri thức.

Mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức số

Tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ngọc Linh, những tiết học với tivi, máy tính và thiết bị trình chiếu đang trở thành một phần trong hoạt động dạy học hằng ngày. Từ lớp 3 trở lên, học sinh được tiếp cận trực tiếp với máy tính và internet, có thêm điều kiện tìm kiếm thông tin, làm quen với công nghệ và mở rộng kiến thức ngoài sách giáo khoa.

Em Hồ Thị Hồng Thu, học sinh lớp 5 chia sẻ: “Từ ngày được học với tivi và máy tính, chúng con cảm thấy rất vui và dễ tiếp thu bài học hơn. Những bài giảng có hình ảnh đẹp, âm thanh sống động làm chúng con cứ mong đến giờ lên lớp”.

Với giáo viên, thiết bị công nghệ giúp đổi mới cách truyền đạt kiến thức, tạo thêm hứng thú học tập cho học sinh. Cô giáo Đoàn Thị Bích Ngọc, người nhiều năm gắn bó với học sinh Trà Linh cho rằng, điều kiện dạy học được cải thiện đã góp phần thu hẹp khoảng cách học sinh vùng cao so với các khu vực thuận lợi hơn.

Lớp tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thiết kế bài giảng và xây dựng học liệu số cho giáo viên tại xã Trà Linh.

Lớp tập huấn ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thiết kế bài giảng và xây dựng học liệu số cho giáo viên tại xã Trà Linh.

Đáng chú ý, địa phương có chủ trương trang bị máy tính xách tay cho 100% học sinh khối trung học cơ sở, tạo điều kiện để các em chủ động tìm kiếm tài liệu và rèn luyện kỹ năng học tập trong môi trường số.

Theo ông Nguyễn Hữu Quang, Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Trà Linh, việc hỗ trợ máy tính không chỉ là trao thiết bị mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho học sinh dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại địa phương.

Niềm vui khi nhận máy tính mới hiện rõ trên gương mặt em Hồ Thị Minh Thúy. Em cho biết, thiết bị sẽ giúp việc tìm kiếm tài liệu thuận tiện hơn.

Tuy nhiên, trang bị máy móc mới là bước đầu. Để công nghệ phát huy hiệu quả, giáo viên cần được hướng dẫn sử dụng thành thạo và vận dụng phù hợp vào từng môn học. Từ nhu cầu thực tế đó, UBND xã Trà Linh đã mời Thạc sĩ Lê Vũ, Giám đốc Trung tâm Tin học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Đại học Đà Nẵng, trực tiếp hướng dẫn giáo viên ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong thiết kế bài giảng, xây dựng học liệu số và phát triển các công cụ hỗ trợ hoạt động chuyên môn.

Học sinh tích cực tham gia xây dựng bài trong giờ học tại lớp.

Học sinh tích cực tham gia xây dựng bài trong giờ học tại lớp.

Tại lớp học, giáo viên được hướng dẫn sử dụng AI để thiết kế bài giảng, soạn thảo văn bản, tổng hợp thông tin và xây dựng các trợ lý ảo phục vụ công tác chuyên môn. Thông qua các bài tập thực hành gắn với công việc thực tế, giáo viên từng bước nâng cao khả năng khai thác công cụ AI, chủ động xây dựng sản phẩm phục vụ giảng dạy và công tác quản lý giáo dục.

Theo Thạc sĩ Lê Vũ, điều quan trọng trong ứng dụng AI vào giáo dục không chỉ là giúp giáo viên biết sử dụng các công cụ mới mà còn hướng dẫn thầy cô vận dụng công nghệ để giải quyết những công việc cụ thể trong giảng dạy và xây dựng học liệu.

Qua quá trình tập huấn tại Trà Linh, ông nhận thấy, đội ngũ giáo viên có tinh thần học hỏi nghiêm túc, tích cực thực hành và mong muốn đổi mới phương pháp dạy học. Tuy nhiên, để AI phát huy hiệu quả lâu dài, cần kết hợp giữa trang bị thiết bị, bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên và hỗ trợ chuyên môn thường xuyên, phù hợp điều kiện thực tế của nhà trường.

Khu vực sinh hoạt bán trú tại trường, nơi chăm lo chỗ ở và bữa ăn cho học sinh nhà xa.

Khu vực sinh hoạt bán trú tại trường, nơi chăm lo chỗ ở và bữa ăn cho học sinh nhà xa.

Ông Lê Duy Quang, Phó Chủ tịch UBND xã Trà Linh cho rằng, những buổi tập huấn ban đầu chưa thể đáp ứng toàn bộ yêu cầu chuyển đổi số. Địa phương mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ về công nghệ và chuyên môn để giáo viên có thể ứng dụng hiệu quả vào giảng dạy, thay vì chỉ dừng lại ở việc làm quen với công cụ.

Công nghệ cần đi cùng điều kiện đến trường

Cùng với đổi mới dạy học, Trà Linh còn chú trọng cải thiện hạ tầng và điều kiện sinh hoạt để học sinh duy trì việc đến trường. Trong năm qua, địa phương đã khắc phục hơn 13 điểm sạt lở, cứng hóa hơn 20 km đường bê tông kết nối các bản làng. Những tuyến đường thuận lợi hơn giúp việc đi lại, học tập của học sinh bớt khó khăn, nhất là trong điều kiện thời tiết bất lợi.

Chính quyền xã thành lập các tổ công tác tại khu dân cư, phối hợp với các đoàn thể đến từng gia đình vận động học sinh trở lại lớp sau những đợt nghỉ lễ, Tết. Theo bà Hồ Thị Minh Thuận, Bí thư Đảng ủy xã Trà Linh, việc chia sẻ trách nhiệm vận động học sinh giúp giáo viên giảm bớt áp lực, có thêm thời gian tập trung cho công tác giảng dạy.

Địa hình núi cao tại xã Trà Linh, nơi chính quyền địa phương đã khắc phục các điểm sạt lở và cứng hóa đường giao thông để hỗ trợ học sinh đến trường.

Địa hình núi cao tại xã Trà Linh, nơi chính quyền địa phương đã khắc phục các điểm sạt lở và cứng hóa đường giao thông để hỗ trợ học sinh đến trường.

Tại Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ngọc Linh, việc chăm lo bữa ăn, chỗ ở và sinh hoạt cho học sinh bán trú cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng. Nhà trường duy trì 100% tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường.

Thầy Nguyễn Trần Vỹ, hiệu trưởng nhà trường cho biết, nhà trường luôn cố gắng bảo đảm điều kiện ăn ở và chăm sóc để học sinh yên tâm học tập. Với những em sống xa trường, được ăn, ngủ tại trường giúp giảm bớt quãng đường đi lại và có thêm thời gian dành cho việc học.

Em Phạm Thái Dương chia sẻ, nhà cách trường khoảng một giờ đi bộ. Trước đây, việc đến lớp khá vất vả, nhưng từ khi được ăn ở tại trường, em yên tâm hơn và quyết tâm học tập tốt.

Địa hình núi cao tại xã Trà Linh, nơi chính quyền địa phương đã khắc phục các điểm sạt lở và cứng hóa đường giao thông để hỗ trợ học sinh đến trường.

Địa hình núi cao tại xã Trà Linh, nơi chính quyền địa phương đã khắc phục các điểm sạt lở và cứng hóa đường giao thông để hỗ trợ học sinh đến trường.

Từ những chiếc máy tính trong lớp học đến các buổi tập huấn AI cho giáo viên, chuyển đổi số tại Trà Linh đang từng bước gắn với nhu cầu thực tế. Để những thay đổi này phát huy hiệu quả lâu dài, địa phương cần tiếp tục duy trì điều kiện học tập, hỗ trợ chuyên môn và nâng cao năng lực sử dụng công nghệ. Đây là nền tảng để học sinh vùng cao có thêm cơ hội tiếp cận tri thức, từng bước thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa miền núi và đồng bằng.

Bài và ảnh: Xuân Quý/TTXVN
Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

Ở: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Cây hồi mở hướng phát triển kinh tế vùng biên xứ Lạng

Từ lâu, cây hồi đã gắn bó với người dân xứ Lạng. Mùa thu hoạch chính từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm. Đây là cây trồng chủ lực phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Lạng Sơn, cây hồi không chỉ phủ xanh đất mà còn đem lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân địa phương.

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Thay đổi cách làm để giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk

Từ những mô hình hỗ trợ sinh kế thiết thực, nhiều hộ nghèo, cận nghèo tại các xã vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk đã từng bước cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống. Qua đó, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tạo nền tảng để địa phương thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đưa các xã, thôn, buôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030.

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Nông dân tự tin chuẩn hóa thương hiệu cho nông sản

Thay vì chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm tương tác hay những đơn hàng nhỏ lẻ trên không gian mạng, nhiều nông dân tại Quảng Ninh đang tận dụng lợi thế từ các nền tảng số để từng bước chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu bài bản.

Gây dựng sinh kế xanh dưới tán rừng Hoàng Liên

Gây dựng sinh kế xanh dưới tán rừng Hoàng Liên

Nhằm gắn kết phát triển kinh tế với bảo tồn đa dạng sinh học, Vườn Quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai đã và đang nhân rộng các mô hình sinh kế khai thác khéo léo lợi thế tự nhiên tại khu vực vùng lõi và vùng đệm.

Đưa nông sản từ chợ quê lên chợ số

Đưa nông sản từ chợ quê lên chợ số

Là địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, tỉnh Thanh Hóa hiện có hơn 200 sản phẩm nông sản là sản phẩm OCOP (Chương trình Mỗi xã một sản phẩm) và sản phẩm lợi thế của địa phương.

Kết nối nông nghiệp, du lịch, mở hướng phát triển kinh tế miền núi

Kết nối nông nghiệp, du lịch, mở hướng phát triển kinh tế miền núi

Từ vùng dược liệu dưới tán rừng đến các mô hình chế biến và du lịch sinh thái, khu vực miền núi Đà Nẵng đang đứng trước cơ hội tạo động lực tăng trưởng mới sau sáp nhập. Tuy nhiên, để tài nguyên trở thành sinh kế bền vững, địa phương cần chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, lấy thị trường và giá trị gia tăng làm thước đo.