Ngày 14/5, tại xã Toàn Thắng, tỉnh Phú Thọ diễn ra Lễ hội Đánh cá suối truyền thống năm 2026 thu hút hàng nghìn người dân và du khách trong, ngoài tỉnh tham gia.
Lễ hội là hoạt động văn hóa dân gian độc đáo gắn với đời sống sản xuất nông nghiệp lúa nước của người Mường Tló xưa, nay thuộc các xóm Chiềng Đồi, Đồi Bệ và Tân Lập của xã Toàn Thắng. Theo quan niệm dân gian, sau khi hoàn thành việc cấy lúa, người dân tổ chức đánh cá tập thể tại các khoang suối để cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Ngay từ sáng sớm, khu vực sân lễ hội tại xóm Tân Lập cùng các khoang suối Khoang Lở, Khoang Tló đã rộn ràng tiếng chiêng, tiếng trống và sắc màu trang phục truyền thống của đồng bào Mường. Người dân địa phương cùng du khách hào hứng hòa mình vào các hoạt động văn hóa, thể thao và trò chơi dân gian đặc sắc mang đậm bản sắc vùng Mường cổ.
Tại buổi lễ, Chủ tịch UBND xã Toàn Thắng Nguyễn Vũ Hùng nhấn mạnh, lễ hội không chỉ là hoạt động văn hóa tín ngưỡng truyền thống của đồng bào Mường mà còn góp phần giáo dục thế hệ trẻ về ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao tinh thần đoàn kết cộng đồng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Từ một hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người Mường vùng Thạch Bi trước đây, đến nay, Lễ hội Đánh cá suối truyền thống xã Toàn Thắng đã trở thành ngày hội lớn mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian vùng Mường.
Lễ hội không chỉ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống mà còn mở ra cơ hội phát triển du lịch cộng đồng, quảng bá hình ảnh quê hương và con người địa phương. Hiện địa phương đang hoàn thiện hồ sơ đề nghị đưa Lễ hội Đánh cá suối truyền thống vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm bảo tồn, phát huy và nâng tầm giá trị của lễ hội dân gian độc đáo này trong đời sống văn hóa đương đại.
Lễ hội còn được gọi là “Lễ xuống đồng làm cỏ lúa”, mang ý nghĩa tâm linh và thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với các bậc tiền nhân đã có công khai phá vùng đất, hướng dẫn người dân làm ruộng nước và đánh bắt thủy sản. Theo truyền thuyết của người Mường, ông Hun, chàng Hin và Khang bà Ưới Tlục là những người có công đắp đập, đào mương dẫn nước, truyền dạy kỹ thuật sản xuất cho cư dân địa phương. Vì vậy, những con cá lớn nhất sau khi đánh bắt được người dân lựa chọn để dâng cúng Thành hoàng tại miếu thờ như một nghi thức thiêng liêng, thể hiện lòng biết ơn đối với tổ tiên.
Điểm nhấn của lễ hội là hoạt động đánh cá tập thể tại các khoang suối. Hàng trăm người dân trong trang phục lao động truyền thống mang theo vó, lưới, nơm, chài cùng xuống suối bắt cá trong tiếng reo hò, cổ vũ náo nhiệt của du khách hai bên bờ. Không khí lễ hội càng thêm sôi động với các phần thi và hoạt động trải nghiệm như chèo bè mảng, quăng chài, bắn nỏ, kéo co, bơi lội... Các trò chơi dân gian thu hút đông đảo thanh niên và du khách tham gia, tạo nên không gian giao lưu văn hóa cộng đồng đặc sắc.
Một trong những hoạt động được nhiều người quan tâm là chương trình hòa tấu 200 chiêng Mường với âm thanh vang vọng giữa núi rừng, tái hiện không gian văn hóa đặc trưng của đồng bào Mường vùng Đất Tổ. Bên cạnh đó, các tiết mục hát đối giao duyên, trình diễn dân ca Mường, thi đan lát dụng cụ đánh bắt cá truyền thống và thi chế biến ẩm thực dân tộc cũng để lại nhiều ấn tượng đối với du khách.
Khu vực trưng bày nông sản, sản phẩm thủ công truyền thống của 22 xóm trên địa bàn xã thu hút đông đảo người dân tham quan, mua sắm. Nhiều sản phẩm đặc trưng của địa phương như măng rừng, rau sạch, rượu cần, cá suối, các sản phẩm đan lát thủ công… được giới thiệu, quảng bá rộng rãi tới du khách.
Nhiều du khách đánh giá lễ hội không chỉ là hoạt động vui chơi mà còn giúp họ hiểu hơn về đời sống văn hóa, tín ngưỡng và tập quán sản xuất của đồng bào Mường vùng Đất Tổ. Chị Nguyễn Thu Trang, du khách Hà Nội cho biết, lễ hội diễn ra trong không gian suối tự nhiên, tiếng chiêng Mường vang vọng cùng cảnh người dân hào hứng xuống suối bắt cá tạo nên không khí rất đặc biệt, gần gũi và giàu bản sắc. Du khách và bạn bè gần xa rất ấn tượng với tinh thần đoàn kết cộng đồng của người dân địa phương. Từ người già đến trẻ nhỏ đều tham gia lễ hội với sự hào hứng. Các hoạt động như quăng chài, chèo bè, hát giao duyên hay thi ẩm thực đều mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian mà ở nhiều nơi hiện nay khó còn giữ được.
Những năm gần đây, nhờ đẩy mạnh quảng bá trên các nền tảng số và mạng xã hội, Lễ hội Đánh cá suối truyền thống xã Toàn Thắng ngày càng được biết đến rộng rãi. Mỗi mùa lễ hội, hàng nghìn lượt du khách tìm về để trải nghiệm không gian văn hóa Mường đặc sắc và hòa mình vào các hoạt động cộng đồng dân gian độc đáo.
Điểm mới của lễ hội năm 2026 là việc gắn hoạt động văn hóa với công tác bảo vệ môi trường và tái tạo nguồn lợi thủy sản. Trước ngày khai hội, địa phương đã tổ chức thả cá tại khu vực Khoang Lở nhằm tái tạo nguồn lợi thủy sản tự nhiên, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sinh thái trong cộng đồng./.
Tên tự gọi: Mol (hoặc Mon, Moan, Mual).
Nhóm địa phương: Ao Tá (Âu Tá), Mọi Bi.
Dân số: 1.268.963 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).
Lịch sử: Cùng nguồn gốc với người Việt cư trú lâu đời ở vùng Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ...
Hoạt động sản xuất: Nông nghiệp ruộng nước chiếm vị trí hàng đầu, cây lúa là cây lương thực chính. Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre. Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã. Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ.
Ngoài ruộng nước, người Mường còn làm nương rẫy, chăn nuôi gia đình, săn bắn, đánh cá, hái lượm và sản xuất thủ công nghiệp (dệt vải, đan lát...).
Ăn: Họ thích ăn các món đồ như xôi đồ, cơm tẻ đồ, rau, cá đồ. Cơm, rau đồ chín được dỡ ra rá tãi đều cho khỏi nát trước khi ăn. Rượu cần của người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể.
Phụ nữ cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Ðặc biệt, phụ nữ còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.
Mặc: Bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét độc đáo. Khăn đội đầu là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu thùa, yếm, áo cánh (phổ biến là màu trắng) thân rất ngắn thường xẻ ở ngực và váy dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy. Cạp váy nổi tiếng bởi các hoa văn được dệt kỳ công. Trang sức gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 giây bạc có treo hộp quả đào và móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.
Thầy mo khi hành lễ mặc y phục riêng. Ðó là chiếc áo dài 5 thân cài khuy bên nách phải, nhuộm màu xanh hoặc đen, thắt dây lưng trắng, đội mũ vải nhọn đầu. Thầy mỡi khi cúng chữa bệnh thường đội mũ chầu.
Ở: Người Mường sống tập trung thành làng xóm ở chân núi, bên sườn đồi, nơi đất thoải gần sông suối... ở tỉnh Hoà Bình, Thanh Hoá, Phú Thọ. Mỗi làng có khoảng vài chục nóc nhà, khuôn viên của mỗi gia đình thường nổi bật lên những hàng cau, cây mít. Ðại bộ phận ở nhà sàn, kiểu nhà bốn mái. Phần trên sàn người ở, dưới gầm đặt chuồng gia súc, gia cầm, để cối giã gạo, các công cụ sản xuất khác.
Làm nhà mới, khi dựng cột bếp, người Mường có tục làm lễ nhóm lửa. Gia chủ lấy bẹ chuối cắt hình 3 con cá to kẹp vào thanh nứa buộc lên cột bếp, ở cột cái của bếp còn đặt một quả bí xanh. Trước lúc đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa xin thần bếp cho đặt 3 hòn đầu rau và hòn đá cái. Ðêm đó gia chủ mời mọi người uống rượu cần dưới ánh sáng của ngọn lửa không tắt.
Phương tiện vận chuyển: Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở. Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng.
Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách để dùng dần.
Quan hệ xã hội: Quan hệ trong làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng giềng. Gia đình 2-3 thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền con trai trưởng được coi trọng va con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.
Cưới xin: Trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị lễ cưới. Ðể dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo thếng), lễ bỏ trầu (ti nòm bánh), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo dài màu đen thắt 2 vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2 chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà trai biếu cô dì, chú bác.
Sinh đẻ: Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.
Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con. Ðẻ được 3-7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà. Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa. Trẻ sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ). Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.
Ma chay: Người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gia thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang. Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải.
Tang lễ do thầy mo chủ trì, dẫn dắt. Bên cạnh hình thức chịu tang của con trai, con gái như vẫn bình thường thấy ở người Việt, riêng con dâu, cháu dâu chịu tang cha mẹ, ông bà còn có bộ tang phục riêng gọi là bộ quạt ma.
Lịch: Lịch cổ truyền người Mường gọi là sách đoi làm bằng 12 thẻ tre tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc ký hiệu khác nhau để biết tính toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.
Người Mường ở Mường Bi có cách tính lịch khác với người Mường ở các nơi khác gọi là cách tính ngày lùi, tháng tới. Tháng giêng lịch Mường Bi ứng với tháng 10 của lịch Mường các nơi khác và tháng 10 âm lịch.
Văn nghệ: Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích. Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc. Bọ mẹng là hình thức hát giao du tâm sự tình yêu. Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến.
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao... Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca. Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang.
Ngoài sáo, nhị, trống, kèn... thì cồng chiêng là nhạc cụ đặc sắc.
Chơi: Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng. Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, đánh đu, ném còn... Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đàn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh chó hoặc buôn chó, trò đánh mảng, trò chăm chỉ, chằm chăn.
Theo cema.gov.vn