Giữ gìn từ chính đời sống cộng đồng
Trong đời sống văn hóa của người Mông, tiếng khèn từ lâu gắn bó với sinh hoạt tinh thần của cộng đồng. Tại xã vùng cao Sính Phình, tiếng khèn vẫn hiện diện trong nhiều sinh hoạt văn hóa, trở thành một phần quen thuộc trong đời sống của người dân.
Nghệ nhân Ưu tú Sình A Tâu cho biết, khèn là nhạc cụ có vị trí đặc biệt đối với người Mông. Từ nhỏ, nhiều nam giới trong bản đã được làm quen với tiếng khèn, học cách thổi và sử dụng nhạc cụ truyền thống của dân tộc. Người biết trước truyền dạy lại cho người chưa biết, người lớn hướng dẫn lớp trẻ, để tiếng khèn tiếp tục sống trong đời sống cộng đồng.
Với ông Sình A Tâu, truyền dạy tiếng khèn không chỉ là truyền lại cách thổi một nhạc cụ mà còn là truyền cho thế hệ trẻ hiểu hơn về văn hóa, phong tục và niềm tự hào của dân tộc mình. Những người biết thổi khèn vì thế luôn có ý thức hướng dẫn lại cho lớp trẻ, để mỗi thế hệ đều có người tiếp nối và những giai điệu khèn không bị đứt quãng theo thời gian.
Việc truyền nghề cũng được những người am hiểu chế tác khèn coi là trách nhiệm với cộng đồng. Ông Sùng A Câu, xã Sính Phình, cho biết khi còn sức khỏe, ông sẵn sàng hướng dẫn những người trong bản cách làm khèn. Với ông, thế hệ trước càng lớn tuổi càng cần trao lại những kỹ năng đã tích lũy cho lớp trẻ, để nghề làm khèn không bị mai một.
Năm 2022, Nghệ thuật chế tác và múa khèn của người Mông tỉnh Điện Biên được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là sự ghi nhận đối với những giá trị văn hóa đã được cộng đồng gìn giữ qua nhiều thế hệ, đồng thời tạo thêm động lực để việc trao truyền, bảo tồn và phát huy tiếng khèn tiếp tục được thực hiện.
Không chỉ tiếng khèn, trang phục truyền thống cũng là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa của người Mông. Để làm nên một bộ váy áo, người phụ nữ phải trải qua nhiều công đoạn từ dệt vải, nhuộm chàm, tạo hoa văn đến thêu, ghép các mảnh vải. Mỗi đường kim, mũi chỉ không chỉ thể hiện sự khéo léo mà còn chứa đựng những hoa văn, màu sắc được lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Với chị Hồ Thị Dợ, xã Sa Lông, việc làm trang phục truyền thống đã trở thành một phần công việc gắn bó với cuộc sống. Từ khi còn nhỏ, chị Dợ đã được mẹ dạy thêu. Khi lập gia đình, sinh con, chị tiếp tục truyền dạy cho các con cách thêu và những hoa văn của người Mông.
“Các hoa văn được truyền lại từ những người già trong bản, cứ như vậy mẹ truyền cho con, thế hệ này truyền sang thế hệ khác”, chị Hồ Thị Dợ chia sẻ.
Từ cách truyền dạy giản dị trong mỗi gia đình, những hoa văn trên trang phục Mông tiếp tục hiện diện trong đời sống hôm nay. Không chỉ được mặc trong những dịp lễ, Tết hay sinh hoạt cộng đồng, trang phục truyền thống còn được đưa vào các hoạt động văn hóa, du lịch, trở thành cách giới thiệu bản sắc của đồng bào Mông tới du khách.
Mở rộng không gian để văn hóa hiện diện
Văn hóa Mông còn được thể hiện trong những ngày lễ, Tết và các sinh hoạt cộng đồng. Những nghi lễ truyền thống, trang phục, bánh giày, điệu múa và tiếng khèn... tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa đặc trưng, nơi cộng đồng gặp gỡ, gìn giữ phong tục và giới thiệu bản sắc với du khách.
Tại một số bản làng, những giá trị ấy đang được đưa vào phát triển du lịch cộng đồng. Trang phục truyền thống trở thành sản phẩm trải nghiệm; nghề thủ công, ẩm thực và các sinh hoạt cộng đồng trở thành những nội dung để du khách tìm hiểu về đời sống người Mông. Những giá trị vốn gắn với đời sống thường nhật vì thế không chỉ được lưu giữ mà còn có thêm không gian để tiếp tục hiện diện và phát huy.
Theo bà Nguyễn Thị Thanh Chuyên, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Điện Biên, văn hóa Mông ở Điện Biên có những nét đặc trưng, riêng biệt, thể hiện qua nhiều giá trị truyền thống, trong đó có các giá trị văn hóa vật thể như nhà ở, công cụ lao động, trang phục và các nghi lễ truyền thống. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Mông cần hướng tới hình thành những sản phẩm văn hóa, sản phẩm du lịch phù hợp. Qua đó, những giá trị truyền thống không chỉ được gìn giữ trong cộng đồng mà còn được giới thiệu rộng rãi, giúp du khách hiểu hơn về mảnh đất, văn hóa và con người Mông ở Điện Biên.
Đây cũng là định hướng được thể hiện trong bối cảnh Điện Biên đăng cai tổ chức Ngày hội Văn hóa dân tộc Mông lần thứ IV, từ ngày 9–11/10/2026. Ngày hội quy tụ các nghệ nhân, diễn viên, vận động viên quần chúng dân tộc Mông đến từ 11 tỉnh, thành mở ra không gian giao lưu, giới thiệu những sắc thái văn hóa Mông ở các vùng miền.
Các hoạt động được tổ chức theo hướng lấy bản sắc và trải nghiệm làm trung tâm, với trình diễn nghệ thuật khèn Mông, giới thiệu trang phục, nghề truyền thống, văn nghệ quần chúng, trưng bày văn hóa, cùng không gian trải nghiệm ẩm thực và các trò chơi dân gian. Qua đó, người dân và du khách có cơ hội trực tiếp tìm hiểu, cảm nhận những giá trị văn hóa được cộng đồng gìn giữ.
Một số hoạt động còn gắn văn hóa với không gian du lịch cộng đồng, trong đó có chương trình trải nghiệm bản văn hóa Tù Lu - Tìa Ló, xã Pú Nhi. Đây là cách đưa văn hóa ra khỏi không gian trình diễn, để du khách trực tiếp gặp gỡ cộng đồng, tìm hiểu đời sống, ẩm thực, nghề truyền thống và các sinh hoạt văn hóa của người Mông.
Thông qua Ngày hội, các giá trị văn hóa dân tộc Mông có thêm không gian để giới thiệu, giao lưu và kết nối giữa các địa phương. Đồng thời, văn hóa không chỉ được tiếp cận ở góc độ bảo tồn, mà còn từng bước được phát huy trong phát triển du lịch, tạo thêm không gian để cộng đồng tham gia và hưởng lợi từ chính những giá trị văn hóa của mình.
Với những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ, bản sắc văn hóa Mông ở Điện Biên tiếp tục được bồi đắp trong dòng chảy cuộc sống hôm nay. Đó là nền tảng để những nét văn hóa truyền thống được gìn giữ, lan tỏa và tiếp tục đồng hành cùng cộng đồng trong tương lai.
Tên tự gọi: Mông, Na Miẻo.
Tên gọi khác: Mẹo, Mèo, Miếu Hạ, Mán Trắng.
Nhóm địa phương: Mông Trắng, Mông Hoa, Mông Ðỏ, Mông Ðen, Mông Xanh, Na Miẻo.
Dân số: 1.068.189 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngôn ngữ hệ Mông - Dao.
Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm nương định canh hoặc nương du canh trồng ngô, lúa, lúa mạch. Nông dân có truyền thống trồng xen canh trên nương cùng với cây trồng chính là các cây ý dĩ, khoai, rau, lạc, vừng, đậu...
Chiếc cày của người Mông rất nổi tiếng về độ bền cũng như tính hiệu quả. Trồng lanh, thuốc phiện (trước đây), các cây ăn quả như táo, lê, đào, mận, dệt vải lanh là những hoạt động sản xuất đặc sắc của người Mông.
Người Mông chăn nuôi chủ yếu trâu, bò, lợn, gà, ngựa. Ngựa thồ là phương tiện vận chuyển rất có hiệu quả trên vùng cao núi đá. Con ngựa rất gần gũi và thân thiết với từng gia đình Mông.
Họ phát triển đa dạng các nghề thủ công như đan lát, rèn, làm yên cương ngựa, đồ gỗ, nhất là các đồ đựng, làm giấy bản, đồ trang sức bằng bạc phục vụ nhu cầu và thị hiếu của người dân. Các thợ thủ công Mông phần lớn là thợ bán chuyên nghiệp làm ra những sản phẩm nổi tiếng như lưỡi cày, nòng súng, các đồ đựng bằng gỗ ghép. Chợ ở vùng Mông thoả mãn vừa nhu cầu trao đổi hàng hoá vừa nhu cầu giao lưu tình cảm, sinh hoạt.
Ăn: Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa. Bữa ăn với các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rau xào mỡ và canh. Bột ngô được xúc ăn bằng thìa gỗ. Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng bột ngô, gạo vào những ngày tết, ngày lễ.
Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếu cày. Ðưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiện tình cảm quý trọng. Trước kia, tục hút thuốc phiện tương đối phổ biến với họ.
Mặc: Trang phục của người Mông rất sặc sỡ, đa dạng giữa các nhóm.
Phụ nữ Mông Trắng trồng lanh, dệt vải lanh, váy màu trắng, áo xẻ ngực, thêu hoa văn ở cánh tay, yếm sau. Cạo tóc, để chỏm, đội khăn rộng vành.
Phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Ðể tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả.
Phụ nữ Mông Ðen mặc váy bằng vải chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực.
Phụ nữ Mông Xanh mặc váy ống. Phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng.Trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêu chủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập.
Ở: Người Mông quần tụ trong từng bản vài chục nóc nhà. Nhà trệt, ba gian hai chái, có từ hai đến ba cửa. Gian giữa đặt bàn thờ.
Nhà giàu thì tường trình, cột gỗ kê trên đá tảng hình đèn lồng hay quả bí, mái lợp ngói, sàn gác lát ván. Phổ biến nhà bưng ván hay vách nứa, mái tranh.
Lương thực được cất trữ trên sàn gác. Một số nơi có nhà kho chứa lương thực ở ngay cạnh nhà.
Chuồng gia súc được lát ván cao ráo, sạch sẽ.
Ở vùng cao núi đá, mỗi nhà có một khuôn viên riêng cách nhau bằng bức tường xếp đá cao khoảng gần 2 mét.
Phương tiện vận chuyển: Người Mông quen dùng ngựa thồ, gùi có hai quai đeo vai.
Quan hệ xã hội: Bản thường có nhiều họ, trong đó một hoặc hai họ giữ vị trí chủ đạo, có ảnh hưởng chính tới các quan hệ trong bản. Người đứng đầu bản điều chỉnh các quan hệ trong bản, trước kia, cả bằng hình thức phạt vạ lẫn dư luận xã hội. Dân mỗi bản tự nguyện cam kết và tuân thủ quy ước chung của bản về sản xuất, chăn nuôi, bảo vệ rừng và việc giúp đỡ lẫn nhau. Quan hệ trong bản càng gắn bó chặt chẽ hơn thông qua việc thờ cúng chung thổ thần của bản.
Người Mông rất coi trọng dòng họ bao gồm những người có chung tổ tiên. Các đặc trưng riêng với mỗi họ thể hiện ở những nghi lễ cúng tổ tiên, ma cửa, ma mụ... như số lượng và cách bày bát cúng, bài cúng, nơi cúng, ở các nghi lễ ma chay như cách quàn người chết trong nhà, cách để xác ngoài trời trước khi chôn, cách bố trí mộ...
Người cùng họ dù không biết nhau, dù cách xa bao đời nhưng qua cách trao đổi các đặc trưng trên có thể nhận ra họ của mình. Phong tục cấm ngặt những người cùng họ lấy nhau. Tình cảm gắn bó giữa những người trong họ sâu sắc. Trưởng họ là người có uy tín, được dòng họ tôn trọng, tin nghe.
Gia đình nhỏ, phụ hệ. Cô dâu đã qua lễ nhập môn, bước qua cửa nhà trai, coi như đã thuộc vào dòng họ của chồng. Vợ chồng rất gắn bó, luôn ở bên nhau khi đi chợ, đi nương, thăm hỏi họ hàng. Phổ biến tục cướp vợ.
Thờ cúng: Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho việc thờ cúng như nơi thờ tổ tiên, ma nhà, ma cửa, ma bếp. Những người biết nghề thuốc, biết làm thầy còn lập bàn thờ cúng những vị tổ sư nghề của mình. Nhiều lễ cúng kiêng cấm người lạ vào nhà, vào bản. Sau khi cúng ma cầu xin ai thường đeo bùa để lấy khước.
Học: Chữ Mông tuy được soạn thảo theo bộ vần chữ quốc ngữ từ những năm sáu mươi nhưng cho đến nay vẫn chưa thực sự phổ biến.
Lễ tết: Trong khi người Việt đang hối hả kết thúc tháng cuối cùng trong năm thì người Mông đã bước vào Tết năm mới truyền thống từ đầu tháng 12 âm lịch, sớm hơn tết Nguyên đán một tháng theo cách tính lịch cổ truyền của người Mông, phù hợp với nông lịch truyền thống.
Ngày Tết, dân làng thường chơi còn, đu, thổi khèn, ca hát ở những bãi rộng quanh làng. Tết lớn thứ hai là Tết 5 tháng năm (âm lịch). Ngoài hai tết chính, tuỳ từng nơi còn có các Tết vào các ngày 3 tháng 3, 13 tháng 6, 7 tháng 7 (âm lịch).
Văn nghệ: Thanh niên thích chơi khèn, vừa thổi vừa múa. Khèn, trống còn được sử dụng trong đám ma, lúc viếng, trong các lễ cúng cơm. Kèn lá, đàn môi là phương tiện để thanh niên trao đổi tâm tình.
Theo cema.gov.vn