Hành trình đưa văn hóa Thái ra khỏi bản làng

Rời bản làng ra phố thị, nhiều người trẻ mang theo cả ký ức văn hóa nhưng không phải ai cũng biết cách giữ gìn. Giữa lòng Hà Nội đông đúc, chị Cầm Cẩm Thơ, hiện đang công tác tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, đã chọn cách lặng lẽ nhưng bền bỉ để kết nối cộng đồng lan tỏa văn hóa Thái cho thế hệ trẻ.

Người kết nối cộng đồng

Chị Cầm Cẩm Thơ - người con dân tộc Thái có họ hàng xa với nghệ nhân Hoàng Thị Thoát ở Sơn La, không chọn cách giữ văn hóa bằng những khuôn mẫu khô cứng, mà từ con người, từ cộng đồng, từ những mối liên kết tưởng chừng rời rạc, nhưng lại chứa đựng sức mạnh bền bỉ nhất.

bai2-anh1.jpg
Một buổi giao lưu văn hóa được tổ chức quy mô, gắn kết văn hóa cộng đồng Thái tại Hà Nội.

Là người yêu văn hóa Thái từ sâu trong căn cốt, chị không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, hay thực hành các giá trị truyền thống, mà còn chủ động kiến tạo không gian để văn hóa được “sống”. Từ những buổi giao lưu nhỏ của cộng đồng người Thái tại Hà Nội, chị nhận ra một thực tế: Các câu lạc bộ, các nhóm yêu văn hóa Thái ở nhiều địa phương trong cả nước vẫn tồn tại riêng lẻ, thiếu sự kết nối.

Chính từ trăn trở ấy, năm 2016, chị thành lập Nhóm giao lưu văn hóa Thái Việt Nam, nhằm kết nối cộng đồng, bảo tồn và lan tỏa bản sắc; đồng thời hỗ trợ sinh viên khó khăn, dạy chữ Thái miễn phí cho thế hệ trẻ…

Song song với đó, nhiều chương trình văn hóa, thiện nguyện được triển khai, thu hút sự tham gia của các câu lạc bộ, nghệ nhân từ nhiều địa phương, thậm chí cả cộng đồng người Thái ở nước ngoài. Qua đó, hình thành một mạng lưới gắn kết bền chặt, nơi những người con dân tộc Thái, dù ở miền núi hay đô thị, vẫn có thể tìm thấy nhau và cùng chung tay gìn giữ tiếng nói, điệu múa, trang phục và phong tục truyền thống.

bai2-anh2.jpg
“Chúng tôi không chỉ giao lưu văn hóa, mà còn cùng nhau làm thiện nguyện, hỗ trợ những hoàn cảnh khó khăn, giúp đỡ sinh viên, đồng bào vùng thiên tai. Văn hóa, khi được đặt trong đời sống cộng đồng, sẽ trở thành sức mạnh gắn kết tự nhiên nhất”, chị Thơ chia sẻ.

Dù nhận được sự ủng hộ từ đông đảo cộng đồng, vẫn có lúc chị đối diện với những khó khăn, từ việc bất đồng quan điểm, thậm chí là cản trở từ một số cá nhân thiếu hiểu biết về văn hóa. Nhưng với chị, đó chỉ là “những hạt sạn nhỏ”, không đủ để làm chùn bước được những người yêu văn hóa.

Không dừng lại ở vai trò kết nối, chị còn trở thành chỗ dựa tinh thần cho một thế hệ đặc biệt, đó là những sinh viên dân tộc Thái đang học tập tại Hà Nội. Chị gọi họ bằng một cái tên đầy yêu thương: “Đàn con thơ”.

Trong cách gọi ấy không chỉ có sự trìu mến, mà còn hàm chứa trách nhiệm. Bởi theo chị, những người trẻ rời bản làng lên thành phố không chỉ mang theo ước mơ học tập, mà còn mang theo cả bản sắc, thứ rất dễ bị phai nhạt giữa nhịp sống đô thị.

“Các bạn có nhiều nỗi lo: Học tập, chi phí sinh hoạt, xa nhà, sự hòa nhập… Nhiều bạn còn tự ti, mặc cảm. Nhưng điều khiến tôi trăn trở hơn là sự thiếu hụt về không gian văn hóa - nơi các bạn được sống đúng với bản sắc của mình”, chị Thơ tâm sự.

bai2-anh3.jpg
Chị Thơ và nhóm sinh viên dân tộc Thái tại Hà Nội tham gia giao lưu tại Ngày hội văn hoá Thái Lan tại Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội) năm 2025, do Đại sứ quán Thái Lan tổ chức.

Để bù đắp khoảng trống ấy, chị không chỉ tổ chức các hoạt động giao lưu, biểu diễn, mà còn trực tiếp đưa sinh viên về bản, gặp gỡ nghệ nhân, trải nghiệm đời sống văn hóa. Những chuyến đi ấy theo chị không chỉ là hành trình về địa lý, mà là hành trình trở về cội nguồn.

bai2-anh4.jpg
“Văn hóa không thể chỉ học qua sách vở hay màn hình. Phải được chạm, được nghe, được sống cùng nó thì mới hiểu và yêu”, chị Thơ khẳng định.

Từ bị động đến chủ động “lan tỏa” bản sắc dân tộc

Sinh ra và lớn lên ở vùng núi miền Tây Nghệ An, Kha Văn Thương ra Hà Nội học tập với nhiều bỡ ngỡ. Giữa môi trường hoàn toàn khác biệt với quê hương, Thương từng trải qua cảm giác “lệch nhịp” so với bạn bè.

bai2-anh5.jpg
“Có lúc tôi ngại nói tiếng Thái, ngại mặc trang phục truyền thống vì sợ mình khác biệt”, Thương cho biết.

Khi Thương tham gia nhóm sinh viên dân tộc Thái tại Hà Nội vào năm 2022, đặc biệt qua những chuyến đi thực tế cùng chị Thơ, Thương dần nhận ra: Mỗi con người đều có một gốc rễ, và đánh mất gốc rễ ấy cũng là đánh mất chính mình.

Một trong những trải nghiệm khiến Thương “thức tỉnh” là chuyến đi về thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái cũ), đúng dịp Tết Xíp Xí - tết cổ truyền của đồng bào Thái Mường Lò, diễn ra vào ngày 14/7 Âm lịch hằng năm. Tại đây, Thương được hòa mình vào không gian văn hóa đặc trưng với những nghi lễ, phong tục riêng biệt. Đặc biệt, Thương được gặp nghệ nhân Lò Văn Biến - người được ví như một cây đại thụ về văn hóa dân tộc Thái, được nghe ông kể về những cuộc thiên di của người Thái, giải thích về ý nghĩa của vòng Xòe, những họa tiết trong hoa văn thổ cẩm, từ hình quả trám, cây cối, con rồng, mặt trời đều thể hiện sự hòa hợp giữa người Thái với thiên nhiên… Từ đó, Thương hiểu ra rằng, văn hóa không phải là thứ để mình tham gia cho vui, hay để thể hiện ra bên ngoài, mà là điều mình phải giữ từ bên trong. Không còn là chuyện của riêng ai nữa, mà là phần trách nhiệm của chính những người con của dân tộc Thái.

“Trước đây, tôi múa xòe vì thấy vui. Nhưng khi hiểu đó là biểu tượng của sự đoàn kết, là linh hồn của cộng đồng, tôi mới thực sự trân trọng”, Thương nói.

bai2-anh6.jpg
Tái hiện Lễ buộc chỉ cổ tay của người Thái.

Từ những trải nghiệm ban đầu, Thương chuyển từ tham gia theo phong trào sang chủ động tìm hiểu, gìn giữ và lan tỏa văn hóa dân tộc. Cùng nhóm sinh viên người Thái tại Hà Nội dưới sự kết nối của chị Cầm Cẩm Thơ, Thương đã tham gia tổ chức nhiều hoạt động gắn kết cộng đồng.

bai2-anh7.jpg
Học bổng được trao cho nhiều sinh viên khó khăn.

Hằng năm, khoảng tháng 10, nhóm tổ chức chương trình chào tân sinh viên với các hoạt động như trình diễn trang phục truyền thống, múa xòe, trao học bổng cho sinh viên khó khăn, thu hút sự tham gia của nhiều nhóm dân tộc như Mông, Dao, Sán Dìu và cả sinh viên Lào, tạo nên không gian giao thoa văn hóa ngay giữa Thủ đô. Không chỉ lan tỏa giá trị truyền thống, chương trình còn tiếp thêm động lực cho tân sinh viên xa quê.

bai2-anh8.jpg
Với Thương, gìn giữ văn hóa là hiện diện trong đời sống thường ngày: duy trì tiếng Thái trong giao tiếp, nấu những món ăn quê hương, điệu khắp (hát) Thái…

“Những điều ấy với tôi không phải là cố gắng giữ, mà đã ăn sâu vào nếp sống, vào con người mình. Dù đi đâu, làm gì, tôi cũng tin rằng chúng sẽ không bao giờ mất đi, bởi đó chính là mạch nguồn nuôi dưỡng văn hóa của người Thái chúng tôi”, Thương chia sẻ./.

Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Dịp Lễ hội Nguyên Tiêu hàng năm, bà con người Hoa thường tổ chức nhiều hoạt động văn hóa đặc sắc tại các hội quán ở khu vực Chợ Lớn.

Thầy giáo Trần Thích - cầu nối tin cậy của bà con người Hoa Chợ Lớn

Am hiểu tiếng nói, phong tục và đời sống của bà con, thầy giáo Trần Thích, nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học Châu Văn Liêm, nhiều năm trực tiếp tuyên truyền chính sách, tham gia hòa giải, vận động nguồn lực chăm lo an sinh và khuyến học. Với ông, muốn người dân đồng thuận, trước hết phải gần gũi, lắng nghe và tạo dựng niềm tin.

Cô gái Mông 'gùi' luật lên non

Cô gái Mông 'gùi' luật lên non

Từng là nạn nhân của những hủ tục lạc hậu gắn liền với định kiến giới khắt khe, thay vì chấp nhận số phận, cô gái trẻ Sùng Thị Sơ (Lào Cai) đã lựa chọn con đường học vấn để tự giải cứu chính mình và trở thành người mang kiến thức pháp luật đến các bản làng.

Người có uy tín - cầu nối đưa pháp luật đi vào cuộc sống

Người có uy tín - cầu nối đưa pháp luật đi vào cuộc sống

Mảnh đất vùng biên Quảng Trực (Lâm Đồng) đang tiếp tục thay da đổi thịt và khoác lên mình một diện mạo mới. Thành quả này là nhờ sự ưu tiên nguồn lực của Trung ương và địa phương, sự chung sức, chung lòng của cộng đồng các dân tộc anh em sinh sống trên địa bàn xã; đặc biệt là vai trò nêu gương cũng như tấm lòng vì cộng đồng của các già làng, người có uy tín vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Những phụ nữ tiên phong ở bản vùng cao Điện Biên

Tại Điện Biên, thời gian qua nhiều phụ nữ vùng cao luôn đi đầu trong các phong trào, phát triển kinh tế, gìn giữ bản sắc văn hóa và vận động hội viên cùng vươn lên. Họ chính là những “thủ lĩnh phụ nữ” ở cơ sở.

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Mô hình hiệu quả hỗ trợ học trò nghèo vùng biên giới

Cứ mỗi dịp hè đến, những người lính mang quân hàm xanh của Đồn Biên phòng Ia Púch, tỉnh Gia Lai, lại trở thành những người thầy bồi đắp kiến thức cho các học sinh nghèo vùng biên giới. Suốt 5 năm qua, lớp học đã trở thành địa chỉ thân thuộc của các em có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bận mưu sinh, ít có điều kiện kèm cặp việc học được củng cố kiến thức, duy trì thói quen học tập và vui chơi lành mạnh trong những ngày hè.

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Lực lượng xung kích 'lá chắn' phòng, chống thiên tai ở cơ sở

Cùng với việc chủ động “4 tại chỗ” của các địa phương, lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai cấp xã ở tỉnh Lào Cai đang bám địa bàn, kịp thời phát hiện nguy cơ, triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn cho người dân trong mùa mưa lũ, không để bị động, bất ngờ.

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Hiến đất mở đường, lan tỏa sức dân

Từ sự kiên trì, gần dân của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể, nhiều hộ dân trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã sẵn sàng tháo dỡ công trình, nhường đất vì lợi ích chung. Những mét vuông đất được người dân tự nguyện hiến tặng không chỉ để mở rộng những con đường mà còn thể hiện tinh thần đoàn kết, trách nhiệm vì cộng đồng.

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Kỳ vọng vào những trưởng thôn 'GenZ' ở vùng sâu, vùng xa

Đến cuối tháng 7, việc kiện toàn bộ máy lãnh đạo các thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã hoàn tất. Tại nhiều xã vùng núi phía Tây, bà con nhân dân trong các thôn đã tin tưởng, tín nhiệm bầu lên các trưởng thôn “GenZ”. Với sức trẻ, nhiệt huyết, cùng sự năng động, sáng tạo và thích nghi với thời đại công nghệ 4.0, những trưởng thôn “GenZ” được kỳ vọng mang đến "luồng sinh khí" mới, giúp các thôn vùng sâu, vùng xa ngày càng được khởi sắc, phát triển.

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Những thương binh vượt khó làm kinh tế giỏi ở vùng cao Hưng Khánh

Từng xông pha trong lửa đạn, cống hiến tuổi trẻ, xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc, nhưng khi trở về với cuộc sống đời thường, nhiều thương binh, bệnh binh ở xã Hưng Khánh, tỉnh Lào Cai lại tiếp tục nỗ lực trên “mặt trận” làm kinh tế, góp phần vào sự phát triển của địa phương.

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Vun đắp niềm tin nơi rẻo cao

Giữa những dãy núi trùng điệp của xã Sơn Tây (Quảng Ngãi), nơi cuộc sống của đồng bào Ca Dong vẫn còn nhiều nhọc nhằn, có một ngôi nhà mới vừa được dựng lên trên khu đất an toàn sau thiên tai.

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Người "giữ lửa" đoàn kết, giữ gìn bình yên nơi xóm làng

Hơn ba thập kỷ gắn bó với công việc chung, ông Lỷ A Sy (sinh năm 1952, dân tộc Nùng), người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số ở thôn Hòa Bình, xã Sông Lũy, tỉnh Lâm Đồng luôn là cầu nối giữa cấp ủy, chính quyền với nhân dân. Bằng tinh thần trách nhiệm và sự gương mẫu, ông đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, vận động người dân chung sức xây dựng nông thôn mới và giữ gìn bình yên nơi xóm làng.

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Diện mạo mới vùng đồng bào Khmer Cần Thơ

Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị trong triển khai các chương trình, dự án giảm nghèo, TP Cần Thơ đã đưa tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố xuống còn gần 0,6%, trong đó công tác giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt nhiều kết quả tích cực. Những chính sách hỗ trợ thiết thực đang từng bước cải thiện đời sống người dân, làm thay đổi diện mạo vùng đồng bào Khmer, đồng thời củng cố niềm tin của đồng bào đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Đứng dậy sau vấp ngã và trở thành bí thư chi bộ uy tín

Ở xã vùng cao Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai, Bí thư chi bộ thôn Cung 11 (trước sáp nhập) Sùng A Mùa bằng sự nỗ lực quyết tâm cùng với nghị lực phi thường đã vượt qua cám dỗ và mặc cảm để đứng dậy sau vấp ngã rồi phấn đấu trở thành người có uy tín trong cộng đồng.

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Lan tỏa tinh thần hiến đất mở đường

Nhiều hộ dân ở xã Tân Lợi, thành phố Đồng Nai đang tự nguyện hiến hàng ha đất cùng những vườn cây đang cho thu hoạch để mở đường giao thông. Dù phải chấp nhận thiệt thòi trước mắt, người dân vẫn sẵn sàng chung sức vì lợi ích lâu dài của cộng đồng, góp phần đẩy nhanh tiến độ các công trình và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương.

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Cô bé mồ côi vượt khó trở thành thủ khoa toàn quốc khối A00

Ngày 1/7, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố điểm thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026, em Đặng Quỳnh Trang, học sinh lớp 12C3, Trường Trung học phổ thông chuyên Lê Quý Đôn, là gương mặt xuất sắc của tỉnh Điện Biên trên bảng vàng thủ khoa tổ hợp A00 cả nước với tổng điểm 29,5; trong đó đạt điểm tuyệt đối ở hai môn Toán 10, Hóa 10 và Vật lý 9,5 điểm.

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Đánh thức tiềm năng du lịch tại bản làng vùng biên

Tốt nghiệp chương trình cao đẳng ngành Dược tại Huế, cô gái trẻ người Bru - Vân Kiều Hồ Thị Thiết (sinh năm 2002) không chọn ở lại thành phố lập nghiệp như nhiều bạn bè cùng trang lứa. Với tình yêu tha thiết dành cho quê hương, Thiết đã chọn trở về thôn Chênh Vênh, xã biên giới Hướng Phùng (tỉnh Quảng Trị), nơi mình sinh ra và lớn lên.

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Hành trình vượt khó của cô gái dân tộc Mông

Sinh ra ở một bản vùng cao còn nhiều khó khăn tại Tuyên Quang, Giàng Thị Pà chưa từng nghĩ có ngày mình sẽ học đại học, càng không nghĩ sẽ tốt nghiệp cùng lúc hai bằng đại học. Thế nhưng từ những câu chuyện vượt khó của bố mẹ, cô gái người Mông đã từng bước chinh phục con đường tri thức và lựa chọn trở về cống hiến cho quê hương.

Người giữ tiếng kèn Saranai

Người giữ tiếng kèn Saranai

Ở làng Chăm Lâm Thuận, xã Hàm Thuận Bắc, tỉnh Lâm Đồng, có một người cao tuổi vẫn lặng lẽ dành trọn tâm huyết cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và vun đắp khối đoàn kết trong cộng đồng. Đó là già làng Thông Long, người có uy tín tiêu biểu của đồng bào Chăm, được bà con quý trọng bởi những đóng góp bền bỉ trong bảo tồn văn hóa truyền thống cũng như vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.