Từ tài nguyên văn hóa đến sản phẩm hàng hóa còn khoảng cách
Đằng sau mỗi sản vật của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi không chỉ là nguồn nguyên liệu và công sức sản xuất, mà còn là câu chuyện về văn hóa, con người, tri thức bản địa và phương thức sống được trao truyền qua nhiều thế hệ. Những giá trị ấy tạo nên bản sắc riêng của sản phẩm, đồng thời chứa đựng tiềm năng trở thành nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
Với quan điểm văn hóa các dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài.
Tiếp nối và phát triển quan điểm đó, mới đây, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy chiến lược: Văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần cần được bảo tồn, mà còn là nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng của phát triển bền vững.
Tuy nhiên, từ giá trị văn hóa đến giá trị kinh tế vẫn còn một khoảng cách. Nhiều sản vật của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn được tiêu thụ như những hàng hóa thông thường. Bản sắc, câu chuyện văn hóa và tri thức cộng đồng kết tinh trong sản phẩm chưa được chuyển hóa tương xứng thành giá trị thương hiệu, lợi thế cạnh tranh và sinh kế bền vững cho người dân.
Chia sẻ tại tọa đàm “Hiện thực hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW: Khơi dậy nguồn lực văn hóa, nâng tầm đặc sản vùng đồng bào dân tộc thiểu số” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 27/8, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ, Phó Vụ trưởng, Vụ Chính sách, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho biết, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một không gian văn hóa đặc sắc, nơi lưu giữ nguồn tài nguyên rất phong phú về bản sắc văn hóa, nghề truyền thống, tri thức bản địa, sản vật đặc hữu và kinh nghiệm sản xuất được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Đây không chỉ là những giá trị cần được bảo tồn, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Nếu được nhận diện đúng, tổ chức lại phù hợp và kết nối với thị trường, những giá trị này hoàn toàn có thể chuyển hóa thành sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ có giá trị gia tăng, qua đó tạo việc làm và sinh kế cho cộng đồng.
Thực tế thời gian qua cho thấy đã có những mô hình bước đầu phát huy tốt hướng đi này. Chẳng hạn, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Mông, Thái, Dao đã từng bước được phát triển thành các sản phẩm thời trang, quà tặng và sản phẩm phục vụ du lịch. Chè Shan tuyết vùng cao không chỉ là sản phẩm nông nghiệp mà còn gắn với điều kiện sinh thái, tri thức canh tác và câu chuyện văn hóa của cộng đồng. Hay du lịch cộng đồng gắn với không gian văn hóa, ẩm thực và nghề truyền thống của đồng bào Thái, Mông, Tày, Dao đã tạo thêm nguồn thu và sinh kế tại chỗ.
Những kết quả đó cho thấy tiềm năng là rất lớn. Tuy nhiên, mức độ khai thác hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Nhiều sản phẩm mới khai thác được phần “vật chất”, trong khi những giá trị tạo nên sức hấp dẫn và giá trị gia tăng cao hơn như câu chuyện văn hóa, tri thức bản địa, thương hiệu, thiết kế và trải nghiệm vẫn chưa được phát huy đầy đủ.
Số liệu về sản phẩm OCOP cũng cho thấy dư địa này còn rất lớn. Đến tháng 6/2025, cả nước có trên 16.800 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên, với hơn 9.800 chủ thể; trong đó người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 17% số chủ thể.
Từ thực tế này, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ cho rằng cần chuyển mạnh từ tư duy “bảo tồn những gì đang có” sang “bảo tồn để phát huy và phát triển”, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế, sinh kế bền vững và vai trò chủ thể của cộng đồng.
Ở góc độ thị trường, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, cho biết các sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã hiện diện rõ hơn trên thị trường, vượt ra khỏi phạm vi “quà quê”, tiếp cận các đô thị lớn, khách du lịch và một số thị trường nước ngoài.
Các sản phẩm như trà Shan Tuyết cổ thụ, gạo Séng Cù, mật ong bạc hà, miến dong, dược liệu, thổ cẩm và nhiều sản phẩm thủ công đã từng bước tiếp cận người tiêu dùng. Người tiêu dùng, nhất là phân khúc trung và cao cấp, ngày càng quan tâm đến nguyên liệu bản địa, quy trình sản xuất đáng tin cậy, câu chuyện con người và tác động tích cực đến cộng đồng.
Tuy nhiên, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn cho rằng có mặt trên thị trường chưa đồng nghĩa với việc đứng vững trên thị trường. Nhiều sản phẩm vẫn xuất hiện chủ yếu theo mùa vụ, tại hội chợ hoặc các tuần hàng; số sản phẩm duy trì được doanh số, đơn hàng và vị trí ổn định trong hệ thống phân phối, bán lẻ còn ít.
Phát triển theo chuỗi, lấy cộng đồng làm chủ thể
Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, để tháo gỡ các điểm nghẽn, cần chuẩn hóa những phần có thể chuẩn hóa nhưng vẫn bảo tồn những yếu tố tạo nên bản sắc sản phẩm. Các sản phẩm cần được nâng chất lượng bao bì, truy xuất nguồn gốc, cách kể câu chuyện và trải nghiệm người tiêu dùng.
Đặc biệt, truy xuất nguồn gốc cần trở thành “hộ chiếu niềm tin”, không chỉ truy xuất được nguồn gốc của hàng hoá mà phải thể hiện được vùng nguyên liệu, người làm ra sản phẩm, tiêu chuẩn chất lượng và hành trình lưu thông của sản phẩm. Khi đó, mã QR không chỉ mở ra một trang quảng cáo mà có thể kể được câu chuyện của sản phẩm.
Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn cho biết thêm, ngoài quảng bá sản phẩm cũng cần kết nối có cam kết. Thời gian qua, nhiều hội nghị kết nối cung cầu đã được tổ chức, song định hướng tới đây là tổ chức các hội nghị gắn với việc lựa chọn nhà cung cấp, thử nghiệm đơn hàng, tư vấn hoàn thiện sản phẩm và theo dõi tỷ lệ tái đặt hàng.
Đối với các doanh nghiệp, cần có hướng dẫn để xây dựng những mẫu sản phẩm cụ thể, qua đó hỗ trợ bà con đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Trong trường hợp sản phẩm chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn đặt ra, cần xây dựng lộ trình phù hợp để bà con từng bước hoàn thiện.
Một yêu cầu khác theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn là chuyển từ sản xuất theo từng hộ riêng lẻ sang hình thành các cụm liên kết gắn với chuỗi cung ứng. Theo đó, cần khuyến khích hợp tác xã, doanh nghiệp dẫn dắt, đơn vị logistics và hệ thống phân phối cùng tham gia xây dựng các điểm gom hàng, lịch đặt hàng, quy cách đóng gói và kế hoạch mùa vụ. Qua đó, có thể giảm chi phí logistics, đồng thời vẫn giữ được dấu ấn riêng của từng cộng đồng.
Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh, hiệu quả của các hoạt động cũng cần được đo lường bằng những kết quả cụ thể. Thay vì chỉ tính số lượng sự kiện được tổ chức, văn bản được ban hành, số lượt trưng bày hay số lượng sản phẩm tham gia, cần đánh giá bằng các chỉ số như doanh số, tỷ lệ đặt hàng, mức thu nhập được giữ lại tại địa phương và việc làm bền vững cho cộng đồng.
Trong đó, cần quan tâm tạo việc làm bền vững không chỉ cho đồng bào dân tộc thiểu số mà cả phụ nữ và lực lượng thanh niên. Đây là những nhóm có thể được huy động để khai thác, phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa, đồng thời góp phần xây dựng thị trường. Việc này cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị, không chỉ riêng ngành Công Thương, mà còn các ngành Tài chính, Dân tộc và Tôn giáo, Du lịch.
Theo đại diện Bộ Công Thương, nguyên tắc xuyên suốt là đồng bào không chỉ cung cấp nguyên liệu hay hình ảnh để tạo dựng câu chuyện thương hiệu. Cộng đồng phải được tham gia quyết định cách sử dụng các yếu tố văn hóa, được ghi nhận quyền và chủ thể quyền đối với tri thức, thiết kế truyền thống; đồng thời được nâng cao năng lực kinh doanh và hưởng lợi công bằng từ phần giá trị gia tăng tạo ra.
Từ góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ cho biết, Bộ sẽ phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu các giá trị văn hóa đặc sắc của 54 dân tộc Việt Nam, gắn với các chương trình, chiến lược truyền thông, quảng bá hình ảnh Việt Nam trong nước và ra quốc tế.
Về tổ chức thực hiện, bà Nguyễn Thị Hồng Huệ cho rằng cần hình thành mối liên kết thực chất giữa Nhà nước, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách, định hướng và điều phối nguồn lực; địa phương là nơi tổ chức thực hiện, xác định và phát huy những giá trị, sản phẩm có lợi thế; doanh nghiệp giữ vai trò kết nối thị trường, hoàn thiện sản phẩm, xây dựng thương hiệu và tổ chức tiêu thụ; còn cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số phải là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và trực tiếp hưởng lợi.
“Đặc biệt, cần chuyển từ tư duy “làm ra sản phẩm rồi mới tìm thị trường” sang “phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường nhưng trên nền tảng giá trị văn hóa của cộng đồng”. Doanh nghiệp, nhà thiết kế, các đơn vị du lịch và cộng đồng cần tham gia ngay từ khâu lựa chọn giá trị, thiết kế, hoàn thiện sản phẩm đến quảng bá và tiêu thụ. Có như vậy mới vừa giữ được bản sắc, vừa nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm”, bà Huệ nhấn mạnh.