Tạo nền tảng tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Dân tộc Ê Đê

Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar, Ðê.

Nhóm địa phương: Kpă, Adham, Krung, Mđhur, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, Êpan... 

Dân số: 331.194 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian. Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫn còn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy theo chế độ luân khoảnh. Rẫy sau một thời gian canh tác thì bỏ hoá cho rừng tái sinh rồi mới trở lại phát, đốt. Chu kỳ canh tác khoảng từ 5-8 năm tuỳ theo chất đất và khả năng hồi phục của đất. Rẫy đa canh và mỗi năm chỉ trồng một vụ. Ruộng nước trâu quần chỉ có ít nhiều ở vùng Bih ven hồ Lắc.

Gia súc được nuôi nhiều hơn cả là lợn và trâu, gia cầm được nuôi nhiều là gà, nhưng chăn nuôi chủ yếu chỉ để phục vụ cho tín ngưỡng. Nghề thủ công gia đình phổ biến có nghề đan lát mây tre làm đồ gia dụng, nghề trồng bông dệt vải bằng khung dệt kiểu Inđônêdiêng cổ xưa. Nghề gốm và rèn không phát triển lắm. Trước đây việc mua bán, trao đổi bằng phương thức hàng đổi hàng.

Ăn: Người Ê Đê ăn cơm tẻ bằng cách nấu trong nồi đất nung hay nồi đồng cỡ lớn. Thức ăn có muối ớt, măng, rau, củ do hái lượm, cá, thịt, chim thú do săn bắn. Thức uống có rượu cần ủ trong các vò sành. Xôi nếp chỉ dùng trong dịp cúng thần. Nam nữ đều có tục ăn trầu cau.

Mặc: Trang phục truyền thống là phụ nữ quấn váy tấm dài đến gót, mùa hè thì ở trần hay mặc áo ngắn chui đầu. Nam giới thì đóng khố, mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh, nam nữ thường choàng thêm một tấm mền. Ðồ trang sức có chuỗi hạt, vòng đồng, vòng kền đeo ở cổ và tay, chân. Nam nữ đều có tục cà răng-căng tai và nhuộm đen răng. Ðội đầu có khăn, nón.

: Ðịa bàn cư trú chủ yếu hiện nay là tỉnh Ðắk Lắk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây Phú Yên, Khánh Hòa. Ngôi nhà truyền thống của người Ê Đê là nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình thuyền với 2 đặc trưng cơ bản là: hai vách dọc dựng thượng thách - hạ thu; hai đầu mái nhô ra. Nhà chỉ có hai hàng cột ngang, kết cấu theo vì cột, không kết cấu theo vì kèo. Không gian nội thất chia ra làm hai phần theo chiều dọc. Phần đầu gọi là Gah, vừa là phòng khách, vừa là nơi sinh hoạt cộng đồng của cả đại gia đình mẫu hệ. Phần cuối gọi là ôk, dành cho các cặp hôn nhân ở trong từng buồng có vách ngăn bằng phên nứa.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi đan cõng trên lưng bằng đôi quai quàng qua vai. ở vùng Krông Băk phổ biến có loại gùi cao cẳng. Vận chuyển trên bộ thì có voi nhưng không phổ biến lắm.

Quan hệ xã hội: Gia đình Ê Đê là gia đình mẫu hệ, hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế. Xã hội Ê Đê vận hành theo tập quán pháp truyền của tổ chức gia đình mẫu hệ. Cả cộng đồng được chia làm hai hệ dòng để thực hiện hôn nhân trao đổi. Làng gọi là buôn và là đơn vị cư trú cơ bản, cũng là tổ chức xã hội duy nhất. Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ của cả hai hệ dòng nhưng vẫn có một chi họ là hạt nhân. Ðứng đầu mỗi làng có một người được gọi là chủ bến nước (Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong việc hôn nhân, nhờ mai mối hỏi chồng và cưới chồng về ở rể. Khi một trong hai người qua đời thì gia đình và dòng họ của người quá cố phải có người đứng ra thay thế theo tục "nối dòng" (chuê nuê) để cho người sống không bao giờ đơn lẻ, sợi dây luyến ái giữa hai dòng họ Niê và Mlô không có chỗ nào bị đứt theo lời truyền bảo của ông bà xưa.

Ma chay: Khi có người chết thì tục nối dòng phải được thực hiện. Người chết già và chết bệnh thì tang lễ được tổ chức tại nhà rồi đưa ra nghĩa địa thổ táng. Xưa kia có tục người trong một dòng họ chết trong một thời gian gần nhau thì các quan tài được chôn chung một huyệt. Vì quan niệm thế giới bên kia là sự tái hiện thế giới bên này nên người chết được chia tài sản đặt ở nhà mồ. Khi dựng nhà mồ, lễ bỏ mả được tổ chức linh đình, sau đó là sự kết thúc việc săn sóc vong linh và phần mộ.

Nhà mới: Việc làm nhà được cả làng quan tâm. Sự giúp đỡ lẫn nhau về nguyên vật liệu: gỗ, tre, nứa và tranh lợp cũng như ngày công thông qua hình thức gọi là H’rim zít (tổ chức "giúp công" lao động hay "đổi công" trong làng). Lễ khánh thành được tiến hành sau khi dựng xong hàng cây chân vách. Nhưng việc dọn lên nhà mới có thể được thực hiện trước đó một thời gian dài khi các điều kiện để khánh thành nhà chưa cho phép. Nữ giới là đoàn người đầu tiên được bước lên sàn nhà mới. Họ mang theo nước và lửa để sưởi ấm và tưới mát cho nơi cư trú mới mẻ này. Ðó là cách chúc phúc cho ngôi nhà và các thành viên của gia chủ. Dẫn đầu các thành viên nữ là một khoa sang – bà chủ của gia đình mẫu hệ.

Lễ Tết: Người Ê Đê ăn tết vào tháng chạp (tháng 12 lịch âm) khi mùa màng đã thu hoạch xong (không vào một ngày nhất định, tuỳ theo từng buôn). Sau tế ăn mừng cơm mới (hmạ ngắt) rồi mới đến tết (mnăm thun) ăn mừng vụ mùa bội thu. Ðó là tết lớn nhất, nhà giàu có khi mổ trâu, bò để cúng thần lúa; nhà khác thì mổ lợn gà. Vị thần lớn nhất là đấng sáng tạo Aê Ðiê và Aê Ðu rồi đến thần đất (yang lăn), thần lúa (yang mđiê) và các thần linh khác. Phổ biến quan niệm vạn vật hữu linh. Các vị thần nông được coi là phúc thần. Sấm, sét, giông bão, lũ lụt và ma quái được coi là ác thần. Nghi lễ theo đuổi cả đời người và lễ cầu phúc, lễ mừng sức khoẻ cho từng cá nhân. Ai tổ chức được nhiều nghi lễ này và nhất là những nghi lễ lớn hiến sinh bằng nhiều trâu, bò, chè quý (vò ủ rượu cần) thì người đó càng được dân làng kính nể.

Lịch: Nông lịch cổ truyền Ê Đê được tính theo tuần trăng: một năm có 12 tháng và được chia làm 9 mùa tương ứng với 9 công đoạn trong chu kỳ nông nghiệp rẫy: mùa phát rẫy, mùa đốt rẫy mới, mùa xới đất, mùa diệt cỏ... Mỗi tháng có 30 ngày.

Học: Việc học tập (học nghề, truyền bá kiến thức...) theo lối làm mẫu, bắt chước và nhập tâm, truyền khẩu. Ðến năm 1923 mới xuất hiện chữ Ê Đê theo bộ vần chữ cái La-tinh.

Văn nghệ: Có hình thức kể khan rất hấp dẫn. Về văn chương, khan là sử thi, trường ca cổ xưa; về hình thức biểu diễn là loại ngâm kể kèm theo một số động tác để truyền cảm. Về dân ca có hát đối đáp, hát đố, hát kể gia phả... Nền âm nhạc Ê Đê nổi tiếng ở bộ cồng chiêng gồm 6 chiêng bằng, 3 chiêng núm, một chiêng giữ nhịp và một trống cái mặt da. Không có một lễ hội nào, một sinh hoạt văn hoá nào của cộng đồng lại có thể vắng mặt tiếng cồng chiêng. Bên cạnh cồng chiêng là các loại nhạc cụ bằng tre nứa, vỏ bầu khô như các dân tộc khác ở Trường Sơn, Tây Nguyên, nhưng với ít nhiều kỹ thuật riêng mang tính độc đáo.

Chơi: Trẻ em thường thích chơi cù quay, thả diều vằng có sáo trúc. Trò chơi đi cà kheo trên cao nguyên cũng lôi cuốn không ít thiếu niên Ê Đê ở nhiều nơi. Trò bịt mắt dê, ném lao (ném xa và ném trúng mục tiêu cũng được nhiều trẻ em Ê Đê ưa thích.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Ê Đê
Dân tộc Gia Rai

Tên tự gọi: Gia Rai.

Tên gọi khác: Jrai, Giơ Ray, Chơ Ray.

Nhóm địa phương: Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân.

Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ hệ Malayô Pôlynêixa (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Gia Rai là một trong những cư dân sớm sinh tụ ở vùng núi Tây Nguyên, lan sang một phần đất Campuchia. Trong xã hội Gia Rai xưa đã có Pơ tao ia (vua nước) và Pơ tao pui (vua lửa) chuyên cúng trời, đất, cầu mưa thuận gió hoà... Trước thế kỷ XI người Ê Ðê, Gia Rai được gọi chung một tên là Rang Ðêy. Vào thế kỷ XV-XVI sử sách phong kiến Việt Nam ghi nhận danh hiệu Thủy Xá (vua nước), Hoả Xá (vua lửa). Chỉ có người đàn ông họ Siu mới được làm vua lửa, vua nước và con gái họ Rơ chom mới được quyền làm vợ hai vua. Có lẽ chữ Pơ tao đồng nghĩa với Mtao của người Chăm, Tạo của người Thái và Thao của người Lào, đều chỉ người thủ lĩnh.

Hoạt động sản xuất: Kinh tế trồng trọt là cái gốc của hoạt động sản xuất. Ðất đai là đối tượng tác động lao động được phân chia thành hai loại - đất chưa canh tác có tên: đê, trá, lon, vô chủ và đất canh tác gọi chung là Hma, phần sở hữu của mỗi gia đình. Hma gồm những mảnh đất trồng trọt theo cách nửa vườn, nửa rẫy; nương phát, đốt, cuốc xới đất và trọc lỗ tra hạt. Còn ruộng nước dùng cuốc xới ; sục bùn và đang chuyển sang cày, bừa dùng 2 bò kéo.

Chăn nuôi gia đình: Trâu, bò, ngựa, voi, lợn, gà, chó... Trong đó trâu là vật ngang giá trong việc trao đổi vật quý như chiêng, ché và hiến sinh trong lễ nghi tín ngưỡng. Nghề phụ gia đình có: mộc, rèn và đan lát. Những người thợ thủ công đã làm ra những chiếc gùi dùng để đựng đồ mặc, trang sức, vận chuyển. Nghề dệt với khung dệt kiểu Inđônêdiêng khá thịnh hành tạo được tấm vải khổ rộng, hoa văn đẹp.

Ăn: Gạo tẻ là lương thực chính; lương thực phụ là ngô. Thức ăn có rau, muối, ớt, canh rau, lâu lâu mới có bữa thịt, cá. Bữa cơm hàng ngày có thể cả gia đình ngồi quanh nồi cơm, bát ớt... hoặc chia thành từng phần cho mỗi người. Bữa tiệc, lấy ché rượu cần làm trung tâm, quanh đó có các món ăn đựng trên bát, đĩa hoặc lá chuối để vừa ăn, vừa uống. Khi rượu ngà say có hát, nhảy múa, đánh chiêng. Trừ trẻ thơ, mọi người bất kể nam nữ đều hút thuốc lá.

Mặc: Ðàn ông đóng khố vải trắng kẻ sọc nhiều màu (toai), ngày lễ đóng khố vải chàm dài 4 m và rộng 0,30 m, có đường viền hoa văn và buông tua chỉ nhiều màu ở hai đầu. Áo màu đen cộc tay, hở nách, đường viền hoa văn chỉ màu chạy dọc hai sườn mang đậm dấu vết kiểu pông-sô. Pơtao hoặc chủ làng mặc áo chàm che kín mông, tay dài, chui đầu, có một mảng sợi màu đỏ làm khuy và khuyết cài từ cổ đến ngực. Dưới dải cúc là miếng vải đỏ hình vuông khâu đáp vào để làm dấu hiệu là áo. Ðàn bà mặc váy chàm (dài 1,40 m x rộng 1 m), có đường viền hoa văn chạy quanh gấu. Phần cạp có tua chỉ trắng hoặc màu. Váy không khâu liền thành ống nên khi mặc chỉ cuốn vào thân để chỗ giáp hai đầu về phía trước. Họ mặc áo cánh ngắn bó sát thân, dài tay. Trên cánh tay áo có chiếc được thêu những đường vòng hoa văn chỉ màu. Nơi ở quanh năm nóng nực nên cả nam lẫn nữ ưa thích cởi trần.

: Nhà sàn cho mỗi gia đình một vợ một chồng mẫu hệ. Kiến trúc có hai loại. Nhà sàn dài kiểu la-yun-pa, dài 13,5 m và rộng 3,5m là kích thước trung bình cho mỗi nhà. Nhà được phân thành hai phần: bên mang và bên óc. Cửa bên óc chỉ quay về hướng Bắc và bên óc dành cho những người đàn bà - chủ gia đình mẫu hệ. Trong nhà có hai bếp. Nhà nhỏ kiểu Hđrung với kích thước rộng 3m x dài 9m. Chiều cao từ đất lên đòn nóc không quá 4,50m. Cửa chính thông ra sàn phơi chỉ quay về hướng Bắc. Hai bên cửa chính có hai cửa sổ. Trong nhà chỉ có một bếp.

Phương tiện vận chuyển: Gùi có hai dây đeo qua vai là hình thức phổ biến. Ngoài ra có ngựa, voi để thồ và cưỡi. Voi còn dùng để kéo...

Quan hệ xã hội: Làng (Plơi hoặc Bôn) vừa là đơn vị cư trú vừa cấu kết thành tổ chức xã hội, có một hội đồng gồm những ông già chủ trì chung (Phun pơ bút). Hội đồng chọn người đứng đầu làng (Ơi pơ thun, Thap lơi hay Khoa plơi), có lệ làng gọi là Kđi. Xã hội Gia Rai truyền thống có hình thức cố kết vùng gọi là Tơ ring. Người đứng đầu Tơ ring là Khoa Tơ ring, giúp việc xét xử có Po phắt kđi và Thao kđi. Tơ ring là cộng đồng lãnh thổ, khi có chiến tranh trở thành liên minh quân sự.

Dòng họ theo chế độ mẫu hệ nên phả hệ hoàn toàn tính về dòng mẹ. Khối cộng đồng máu mủ được tập hợp thành từng họ - Kơ nung hoặc Ðgioai. Mỗi họ thường được phân chia nhiều ngành hoặc phân đôi, thành họ khác. Mỗi họ, mỗi ngành kiêng một tô tem riêng. Gia đình nhỏ mẫu hệ là nét nổi bật của người Gia Rai khác với trường hợp người Ê Ðê là đại gia đình mẫu hệ.

Cưới xin: Luật tục nghiêm cấm những người cùng ngành họ và dòng mẹ lấy nhau. Tuổi từ 18-19 nam nữ tự do lựa chọn người yêu, trong đó nữ chủ động lựa chọn lấy chồng. Phong tục giản đơn, không mang tính chất mua bán và do nhà gái chủ động. Bảo lưu tục chồng chết, vợ lấy em chồng và ngược lại vợ chết, chồng có thể lấy chị vợ. Khi đã thành vợ thành chồng thì đàn ông phải sang nhà vợ, không có trường hợp ngược lại.

Sinh đẻ: Bà mẹ được coi trọng. Khi mang thai họ không được làm việc nặng nhọc. Họ rất lo sợ đẻ khó và chết vì sinh nở. Khi sinh nở sản phụ phải kiêng khem nhiều thứ như không ăn cơm nấu mà chỉ dùng cơm lam, không ăn thịt mà chỉ ăn rau...

Ma chay: Người Gia Rai theo tục tất cả người cùng họ mẹ chôn chung một huyệt. Người đàn ông chết phải khiêng về chôn ở huyệt phía mẹ mình. Trong huyệt chung ấy, các quan tài được xếp kề sát bên nhau theo chiều ngang rồi chồng lên theo chiều dọc. Khi quan tài cao bằng miệng huyệt thì lấy ván kê bốn bề để chôn tiếp vài ba lớp nữa mới làm lễ "bỏ mả" (Họa lui, Thi nga hay Bó thi) - một nghi thức lớn trong quá trình tang lễ.

Nhà mới: Việc làm nhà mới bắt đầu bằng nghi thức bói tìm đất. Bà chủ đem 7 hạt gạo đặt trên đất rồi lấy cái bát úp lên để bói tìm sự linh ứng của thần đất. Sau 3 ngày, 3 đêm đi lật bát lên xem nếu hạt gạo còn nguyên là thuận. Ngược lại, mất hạt nào thì phải đi phải đi bói tìm chỗ khác. Ðặt hạt gạo để bói xong tổ chức ăn uống, hò reo, múa chiêng 3 ngày. Dựng nhà xong lại mở hội nhà mới 3 hôm nữa mới kết thúc.

Thờ cúng: Người Gia Rai theo vạn vật hữu linh. Thần linh (Yang) có nhiều loại, trong đó có ba loại nổi bật được nhắc đến trong lễ cúng hàng năm hay nhiều năm một lần:

Thần nhà (Yang sang) lực lượng bảo vệ nhà cửa được cúng trong nhà. Khi nhà mới dựng thì phải tiến hành nghi thức lễ đâm trâu và trồng cây gạo.

Thần làng (yang ala bôn) và thần nước (yang ia) là lực lượng bảo vệ làng xóm và cuộc sống của mọi thành viên được cúng ở bến nước và chân núi.

Thần vua (Yang pó tao) do vua lửa, vua nước, vua gió (ptao agin) tiến hành lễ cầu trời, mưa thuận, gió hoà và mùa màng tươi tốt.

Ngoài ra, người Gia Rai còn tin khi chết các linh hồn biến thành ma. Có hiện tượng gán cho người có ma thuật làm hại gọi là ma lai.

Lễ tết: Xưa nam nữ đến tuổi thành niên có tục cưa răng hàm trên. Việc này do ông già Pô khoa tkơi thực hiện bằng cách lấy liềm cắt hoặc dùng một viên đá ráp chà xát vào hàm răng trên, ở ven suối. Cầm máu răng bằng lá thuốc (Tkoi am). Nữ 1-2 tuổi xâu lỗ tai, sau đó lấy bấc cây căng dần tai ra để đến khi trưởng thành thì đeo hoa tai bằng ngà voi có đường kính đến 6 cm. Nam giới không căng tai mà chỉ đục lỗ để đeo khuyên.

Lễ nghi lớn nhất là lễ bỏ mả, tạc tượng mồ, lễ lên nhà mới, có ăn, uống, hát, biểu diễn cồng chiêng.

Lịch: Tháng giêng được tính từ ngày có trận mưa đầu tiên tương đương với tháng 4 dương lịch. Tháng 12 lịch Gia Rai (tháng 3 dương lịch) gọi là Blanning, nghỉ ngơi lao động và làm các lễ nghi tôn giáo, tín ngưỡng.

Học: Người Gia Rai đã có bộ chữ theo mẫu tự La-tinh. Giống như tất cả các dân tộc khác, hiện nay học sinh đều học tiếng và chữ phổ thông.

Văn nghệ: Người Gia Rai có nhiều trường ca như Ðăm San, Xinh Nhã, Ðăm Di... thể hiện dưới hình thức hát thơ có đệm đàn Tưng nưng. Những điệu vũ dân gian Gia Rai có một số động tác mô phỏng những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Ðàn Tơ rưng, Krông put, Tưng nưng ... rất được phổ biến.

Chơi: Thanh niên thích chơi kéo co trong ngày lễ.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Gia Rai

Có thể bạn quan tâm

Nghị quyết 57-NQ/TW: Chuyển đổi số lan tỏa từ cơ sở

Nghị quyết 57-NQ/TW: Chuyển đổi số lan tỏa từ cơ sở

Nghị quyết 57-NQ/TW đang từng bước hiện hữu bằng những đổi thay cụ thể trong đời sống người dân vùng cao, vùng biên giới Tuyên Quang, giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn, tiết kiệm thời gia, chi phí và nâng cao hiệu quả giải quyết công việc.

Hối hả trên các công trường xây dựng trường nội trú liên cấp

Hối hả trên các công trường xây dựng trường nội trú liên cấp

Chỉ còn hơn 2 tuần nữa là bước vào năm học mới 2026-2027. Đến thời điểm này, loạt Trường Phổ thông nội trú liên cấp tại các vùng biên giới Lai Châu như: Pa Tần, Phong Thổ, Hua Bum, Bum Nưa… đã gần hoàn thiện, sẵn sàng đón học sinh và các thầy cô giáo đến học tập và công tác trong năm học mới.

Tuyên truyền pháp luật cho hàng trăm người dân biên giới

Tuyên truyền pháp luật cho hàng trăm người dân biên giới

Hưởng ứng Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc năm 2026 tại xã Bù Gia Mập, trong ngày 16/8, Công an thành phố Đồng Nai phối hợp với chính quyền, Công an xã Bù Gia Mập và các tổ chức đoàn thể trên địa bàn tuyên truyền pháp luật cho hàng trăm người dân biên giới.

Tăng tốc về đích, sẵn sàng đón học sinh vùng biên đến trường

Tăng tốc về đích, sẵn sàng đón học sinh vùng biên đến trường

Sau gần 9 tháng tích cực triển khai, dự án xây dựng hai trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và Trung học cơ sở (THCS) tại xã Hương Khê và xã Sơn Kim 1 (Hà Tĩnh) đã đạt trên 95% khối lượng. Các nhà thầu đang tập trung tối đa nhân lực, máy móc, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu hoàn thành công trình trước ngày 30/8/2026, kịp phục vụ năm học mới 2026 - 2027.

Gỡ vướng cho gần 3.000 cơ sở nuôi chim yến theo quy định mới

Gỡ vướng cho gần 3.000 cơ sở nuôi chim yến theo quy định mới

Sau khi HĐND tỉnh Gia Lai ban hành Nghị quyết số 53/2026/NQ-HĐND quy định khu vực không được phép chăn nuôi và vùng nuôi chim yến, các địa phương đã đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân triền khai thực hiện. Ghi nhận tại phường Ayun Pa, nơi có nhiều cơ sở nuôi chim yến nhất khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai cho thấy chủ trương nhận được sự đồng thuận của người dân, song quá trình triển khai còn phát sinh một số khó khăn cần được tháo gỡ.

Kích hoạt 'báo động đỏ' để thúc giải ngân đầu tư công

Kích hoạt 'báo động đỏ' để thúc giải ngân đầu tư công

Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, giải ngân vốn đầu tư công của Tỉnh có chuyển biến nhưng vẫn chưa đạt kế hoạch đề ra. Cụ thể tổng kế hoạch đầu tư công năm 2026 của tỉnh là trên 11,1 nghìn tỷ đồng, đến nay đã phân bổ chi tiết vốn hơn 9,6 nghìn tỷ đồng. Tính đến 31/7, đã giải ngân 3,27 nghìn tỷ đồng, đạt hơn 34% kế hoạch. Để kịch bản giải ngân đạt 68% theo kế hoạch trước ngày 30/9, tỉnh phải giải ngân hơn 4,1 nghìn tỷ đồng trong tháng 8 và 9.

Mở rộng kết nối, hình thành nền y tế số

Mở rộng kết nối, hình thành nền y tế số

Chuyển đổi số đang từng bước thay đổi phương thức khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tỉnh Đắk Lắk. Người dân đã được tiếp cận nhiều tiện ích như sử dụng căn cước công dân, hồ sơ bệnh án điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt...; trong khi các bệnh viện tiếp tục ứng dụng công nghệ để cải tiến quy trình chuyên môn, nâng cao chất lượng phục vụ.

Gia Lai chấn chỉnh tình trạng mua bán, gian lận mã số vùng trồng

Gia Lai chấn chỉnh tình trạng mua bán, gian lận mã số vùng trồng

Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn vừa có văn bản yêu cầu các sở, ngành, đơn vị, địa phương tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm chấn chỉnh, xử lý nghiêm tình trạng mua bán, gian lận giấy chứng nhận cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Giữ màu xanh rừng lim cổ thụ nơi biên giới Hà Tĩnh

Giữ màu xanh rừng lim cổ thụ nơi biên giới Hà Tĩnh

Hơn 60 ha rừng lim xanh với hàng nghìn cây gỗ quý trong đó có những cây lên tới 100 năm tại vùng biên giới Hà Tĩnh đang được Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn bảo vệ nghiêm ngặt.

Hiệu quả các chính sách vùng đồng bào Khmer ở An Giang

Hiệu quả các chính sách vùng đồng bào Khmer ở An Giang

Những con đường bê tông nối dài, những ngôi nhà kiên cố, cùng các mô hình sản xuất, làng nghề truyền thống ngày một khởi sắc đang cho thấy diện mạo mới ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh An Giang đang đổi thay từng ngày.

Thống nhất nguồn lực phát triển nông thôn mới và vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2026 - 2030

Thống nhất nguồn lực phát triển nông thôn mới và vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2026 - 2030

Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030. Việc tích hợp ba chương trình trước đây nhằm thống nhất nguồn lực, giảm trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Dự án xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp hối hả về đích

Dự án xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp hối hả về đích

Để bảo đảm hoàn thành xây dựng giai đoạn I và kịp thời tổ chức lễ khai giảng năm học mới 2026-2027 đồng loạt vào ngày 5/9 tới, tỉnh Tuyên Quang đang huy động tối đa nguồn lực, quyết tâm tăng tốc đưa các dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và Trung học cơ sở đi vào hoạt động đúng kế hoạch.

Đắk Lắk ra mắt Bản đồ số nông sản và phát động chiến dịch '30 ngày đêm' chuẩn hóa dữ liệu sầu riêng

Đắk Lắk ra mắt Bản đồ số nông sản và phát động chiến dịch '30 ngày đêm' chuẩn hóa dữ liệu sầu riêng

Ngày 7/8, UBND tỉnh Đắk Lắk tổ chức Hội nghị công bố ra mắt “Bản đồ số nông sản, sản phẩm OCOP, du lịch thôn buôn trên nền tảng số” và phát động chiến dịch cao điểm “30 ngày đêm” số hóa, chuẩn hóa, cập nhật và kết nối dữ liệu mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói sầu riêng trên địa bàn tỉnh. Đây được xem là bước đi chiến lược nhằm tích hợp đồng bộ công nghệ số vào chuỗi giá trị nông nghiệp và phát triển nông thôn địa phương.

Đa dạng hóa mô hình sinh kế giúp đồng bào Khmer giảm nghèo bền vững

Đa dạng hóa mô hình sinh kế giúp đồng bào Khmer giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia đang phát huy vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo đảm an sinh xã hội, trở thành đòn bẩy thiết thực giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên. Tại Cần Thơ, thông qua việc triển khai đồng bộ các nguồn lực, mô hình hỗ trợ chăn nuôi bò sinh sản đang mang lại hiệu quả rõ nét, giúp nhiều hộ đồng bào Khmer ổn định sinh kế, thoát nghèo bền vững và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ học sinh vùng xa, vùng biên giới

Hiệu quả từ chính sách hỗ trợ học sinh vùng xa, vùng biên giới

Đối với nhiều học sinh vùng xa, vùng biên giới Tây Ninh, những bữa cơm bán trú không chỉ giúp các em có thêm dinh dưỡng mà còn tiếp thêm động lực để duy trì việc đến trường mỗi ngày. Chính sách hỗ trợ gạo của Nhà nước đang được địa phương triển khai hiệu quả, góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình, bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng tổ chức bán trú tại các cơ sở giáo dục.

Bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh vùng biên

Bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh vùng biên

Đắk Lắk đang khẩn trương hoàn thiện điều kiện để đưa các trường phổ thông nội trú liên cấp tại khu vực biên giới vào hoạt động từ năm học 2026 - 2027, góp phần bảo đảm điều kiện học tập, sinh hoạt cho học sinh vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Bất cập việc ngừng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng ở Nam Cát Tiên

Bất cập việc ngừng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng ở Nam Cát Tiên

Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng đang ngừng hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng với gần 200 hộ dân là hộ đồng bào dân tộc thiểu số và hộ người Kinh thuộc diện nghèo. Việc làm này khiến hầu hết các hộ dân không đồng tình, trong khi chính quyền địa phương đánh giá việc giao khoán là một mô hình hiệu quả, hài hòa giữa giữ rừng và an sinh xã hội cho người dân.

Khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên

Khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên

Thành phố Đà Nẵng đặt mục tiêu xây dựng và phát triển ngành y tế đến năm 2030 đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe của người dân để trở thành hạt nhân của trung tâm y tế chuyên sâu, khám chữa bệnh chất lượng cao của khu vực và hội nhập quốc tế. Với sự đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và ứng dụng công nghệ hiện đại, Đà Nẵng đang từng bước khẳng định vị thế tiên phong về y tế của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.

Quản lý và cấp mã số vùng trồng tạo 'luồng xanh' cho xuất khẩu

Quản lý và cấp mã số vùng trồng tạo 'luồng xanh' cho xuất khẩu

Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng siết chặt yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng đang trở thành một trong những điều kiện quan trọng để nông sản Lâm Đồng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ mở rộng diện tích được cấp mã số, tỉnh đang tăng cường hậu kiểm, quản lý dữ liệu và kiểm soát chặt nguồn gốc nông sản để tạo “luồng xanh” cho xuất khẩu chính ngạch.

Gia cố thế trận chống buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Ninh

Gia cố thế trận chống buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Ninh

Hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại và vận chuyển trái phép hàng hóa luôn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác quản lý, kiểm soát biên giới. Trước phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, Tây Ninh đang tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, chủ động nhận diện nguy cơ, triển khai đồng bộ các giải pháp, từng bước gia cố thế trận chống buôn lậu từ tuyến biên giới đến nội địa.