Lạng Sơn: Người dân đối mặt với hiểm nguy khi vượt qua sông Bắc Giang bằng bè mảng

Do không có cầu, cầu tràn, nhiều năm nay, toàn bộ 20 hộ dân người Dao ở xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) phải đối mặt với hiểm nguy khi phải liều mình vượt qua sông Bắc Giang bằng bè mảng ghép tạm từ những cây luồng để đi chợ bán hàng hóa nông sản và mua sắm đồ dùng thiết yếu phục vụ sinh hoạt. Đặc biệt, xóm có 17 học sinh học tại trường Tiểu học và THCS Vĩnh Yên ngày ngày phải liều mình qua sông đến trường, vào mùa mưa lũ, tiềm ẩn những mối nguy hiểm khó lường.

be-mang-31072026-01.jpg
Bè mảng là phương tiện duy nhất để người Dao ở xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) vượt sông giao thương với bên ngoài.
Lãnh đạo xã Quý Hòa (Lạng Sơn) vượt sông bằng bè mảng để sang xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông.

Lãnh đạo xã Quý Hòa (Lạng Sơn) vượt sông bằng bè mảng để sang xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông.

be-mang-31072026-02.jpg
Học sinh xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) vượt sông đến trường.
be-mang-31072026-03.jpg
Chiếc bằng bè mảng chỉ với 8 cây luồng ghép tạm tròng trành trên dòng sông Bắc Giang (Lạng Sơn).
be-mang-31072026-04.jpg
Vượt sông hiện là con đường duy nhất để người dân xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) giao thương với bên ngoài và về nhà.
be-mang-31072026-07.jpg
Mặc dù đã có một số trường hợp gặp nạn nhưng người dân xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) vẫn phải liều mình vượt sông vì đây là con đường duy nhất để đi chợ bán hàng hóa nông sản và mua sắm đồ sùng thiết yếu phục vụ sinh hoạt.
Nhiều năm nay, các hộ dân người Dao ở xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) phải đối mặt với hiểm nguy khi phải liều mình vượt qua sông Bắc Giang bằng bè mảng ghép tạm từ những cây luồng bởi đây là cách duy nhất để họ đi chợ bán nông sản, mua hàng hóa.

Nhiều năm nay, các hộ dân người Dao ở xóm Song Phụ, thôn Khuổi Luông, xã Quý Hòa (Lạng Sơn) phải đối mặt với hiểm nguy khi phải liều mình vượt qua sông Bắc Giang bằng bè mảng ghép tạm từ những cây luồng bởi đây là cách duy nhất để họ đi chợ bán nông sản, mua hàng hóa.

Văn Đạt/TTXVN
Dân tộc Dao

Tên tự gọi: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).

Tên gọi khác: Mán.

Nhóm địa phương: Dao Ðỏ (Dao Cóc Ngáng, Dao sừng, Dao Dụ lạy, Dao Ðại bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn đầu, Dao Tam đảo, Dao Nga hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô gang (Dao Thanh phán, Dao Cóc Mùn), Dao Tiền (Dao Ðeo tiền, Dao Tiểu bản), Dao Quần trắng (Dao Họ), Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn (Dao Tuyển, Dao áo dài).

Dân số: 751.067 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao.

Lịch sử: Người Dao có nguồn gốc từ Trung Quốc, việc chuyển cư sang Việt Nam kéo dài suốt từ thế kỷ XII, XIII cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn vương), một nhân vật huyền thoại rất phổ biến và thiêng liêng ở người Dao.

Hoạt động sản xuất: Nương, thổ canh hốc đá, ruộng là những hình thức canh tác phổ biến ở người Dao. Tuỳ từng nhóm, từng vùng mà hình thức canh tác này hay khác nổi trội lên như: Người Dao Quần Trắng, Dao áo Dài, Dao Thanh Y chuyên làm ruộng nước. Người Dao Ðỏ - thổ canh hốc đá. Phần lớn các nhóm Dao khác làm nương du canh hay định canh. Cây lương thực chính là lúa, ngô, các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai... Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê.

Nghề trồng bông, dệt vải phổ biến ở các nhóm Dao. Họ ưa dùng vải nhuộm chàm.

Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang. Nghề thợ bạc là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cổ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu...

Nhóm Dao Ðỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản. Giấy bản dùng để chép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma. Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật.

Ăn: Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối. Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng. Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hơn ăn cơm hoặc ăn cháo. Cối xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre. Cối giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước. Họ thích ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua. Khi ăn xong, người ra kiêng để đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết.

Phổ biến là rượu cất, ở một vài nơi lại uống hoãng, thứ rượu không qua trưng cất, có vị chua và ít cay.

Người Dao thường hút thuốc lá và thuốc lào bằng điếu cầy hay tẩu.

Mặc: Trước đây đàn ông để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn. Các nhóm Dao thường có cách đội khăn khác nhau. áo có hai loại, áo dài và áo ngắn.

Phụ nữ Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài yếm, váy hoặc quần. Y phục theo rất sặc sỡ. Họ không theo theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chẩy rồi in lên vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn mầu xanh lơ do phủ lớp sáp ong không bị thấm chàm.

: Người Dao thường sống ở vùng lưng chừng núi hầu khắp các tỉnh miền núi miền Bắc. Tuy nhiên một số nhóm như Dao Quần trắng ở thung lũng, còn Dao Ðỏ lại ở trên núi cao. Thôn xóm phần nhiều phân tán, rải rác, năm bẩy nóc nhà. Nhà của người Dao rất khác nhau, tuỳ nơi họ ở nhà trệt, nhà sàn hay nhà nửa sàn, nửa đất.

Phương tiện vận chuyển: Người Dao ở vùng cao quen dùng địu có hai quai đeo vai, vùng thấp gánh bằng đôi dậu. Túi vải hay túi lưới đeo vai rất được họ ưa dùng.

Quan hệ xã hội: Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ.

Người Dao có nhiều họ, phổ biến nhất là các họ Bàn, Ðặng, Triệu. Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm để phân biệt giữa những người thuộc các thế hệ khác nhau.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ ngồi, đẻ ngay trong buồng ngủ. Trẻ sơ sinh được tắm bằng nước nóng. Nhà có người ở cữ người ta treo cành lá xanh hay cài hoa chuối trước cửa để làm dấu không cho người lạ vào nhà vì sợ vía độc ảnh hưởng tới sức khoẻ đứa trẻ. Trẻ sơ sinh được ba ngày thì làm lễ cúng mụ.

Cưới xin: Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đón dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làm phép mới được vào nhà trai.

Ma chay: Thày tào có vị trí quan trọng trong việc ma và làm chay. Nhà có người chết con cái đến nhà thầy mời về chủ trì các nghi lễ, tìm đất đào huyệt. Người ta kiêng khâm liệm người chết vào giờ sinh của những người trong gia đình. Người chết được liệm vào quan tài để trong nhà hay chỉ bó chiếu ra đến huyệt rồi mới cho vào quan tài. Mộ được đắp đất, xếp đá ở chân mộ. ở một số nơi có tục hoả táng cho những người chết từ 12 tuổi trở lên.

Lễ làm chay cho người chết diễn ra sau nhiều năm, thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó đang sống trong gia đình. Lễ tổ chức ba ngày, ngày đầu gọi là lễ phá ngục, giải thoát hồn cho người chết, ngày thứ hai gọi là lễ tắm hương hoa cho người chết trước khi đưa hồn về bàn thờ tổ tiên trong nhà, ngày thứ ba lễ cấp sắc. Người chết được cúng đưa hồn về quê cũ ở Dương Châu.


Nhà mới: Muốn làm nhà phải xem tuổi những người trong gia đình, nhất là tuổi chủ gia đình. Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng. Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên. Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt. Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí là có thể làm nhà được.

Thờ cúng: Người Dao vừa tin theo các tín ngưỡng nguyên thuỷ, các nghi lễ nông nghiệp vừa chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo, Phật giáo và nhất là Ðạo giáo. Bàn vương được coi là thuỷ tổ của người Dao nên được cúng chung với tổ tiên từng gia đình. Theo truyền thống tất cả đàn ông đã đến tuổi trưởng thành đều phải qua lễ cấp sắc. một nghi lễ vừa mang tính chất của Ðạo giáo, vừa mang những vết của lễ thành đinh xa xưa.

Lịch: Người Dao quen dùng âm lịch để tính thời gian sản xuất và sinh hoạt.

Học: Hầu hết các xóm thôn người Dao đều có người biết chữ Hán, nôm Dao. Người ta học chữ để đọc sách cúng, sách truyện, thơ.

Văn nghệ: Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Ðặc biệt truyện Quả bầu với nạn hồng thuỷ, Sự tích Bàn Vương rất phổ biến trong người Dao. Múa, nhạc được họ sử dụng chủ yếu trong các nghi lễ tôn giáo.

Chơi: Người Dao thích chơi đu, chơi quay, đi cà kheo.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Dao

Có thể bạn quan tâm

Khám bệnh, cấp thuốc cho đồng bào biên giới Bù Gia Mập

Khám bệnh, cấp thuốc cho đồng bào biên giới Bù Gia Mập

Ngày 20/9, tại Trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Đắk Mai (xã Bù Gia Mập, thành phố Đồng Nai), đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi và những gia đình có hoàn cảnh khó khăn đã được khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí. 

Giá trị từ những phiên chợ nông sản vùng cao

Giá trị từ những phiên chợ nông sản vùng cao

Đối với nông dân, câu chuyện tìm đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp luôn đóng vai trò then chốt trong việc phát triển kinh tế gia đình. Ở những vùng cao, vùng sâu, vùng xa, việc tìm đầu ra lại càng khó khăn hơn.

Chủ động ứng phó các tình huống thiên tai

Chủ động ứng phó các tình huống thiên tai

Tỉnh Lào Cai hiện có hơn 23.000 hộ dân sinh sống tại các khu vực xung yếu về thiên tai. Để sẵn sàng ứng phó với diễn biến cực đoan của thời tiết, 99 xã, phường trên địa bàn tỉnh xóa bỏ tư duy chuẩn bị chung chung, chuyển mạnh từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa.

Ấm áp Trung thu nơi biên cương

Ấm áp Trung thu nơi biên cương

Những ngày giáp Tết Trung thu, từ Bạch Đích, Bản Máy đến Khâu Vai, ánh đèn ông sao, tiếng trống lân và những phần quà nghĩa tình mang niềm vui đến với trẻ em vùng cao biên giới tỉnh Tuyên Quang.

Người có uy tín phải nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin

Người có uy tín phải nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin

Ở những địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số, công tác dân vận cần gần dân, hiểu hoàn cảnh từng gia đình và chăm lo đúng nhu cầu. Khi ý kiến được lắng nghe, khó khăn được giải quyết kịp thời và chính sách được truyền đạt rõ ràng, niềm tin với chính quyền sẽ bền chặt.

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Chiến sĩ quân hàm xanh mang ‘Ánh sáng số’ đến bản Vàng Ma Chải

Đến Vàng Ma Chải, nơi cuối trời Tây Bắc của tỉnh Lai Châu, hỏi về Thiếu tá Nguyễn Duy Khánh, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Vàng Ma Chải, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Lai Châu, ai cũng biết, bởi anh là người mang “Ánh sáng số” đến với đồng bào các dân tộc khu vực biên giới.

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Lung linh Lễ hội Ánh sáng biên cương

Tối 19/9, Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn tổ chức Lễ hội Ánh sáng biên cương lần thứ nhất năm 2026 với chủ đề “Sắc màu xứ Lạng”.

'Đêm hội trăng rằm' ấm áp đến với thiếu nhi vùng biên

'Đêm hội trăng rằm' ấm áp đến với thiếu nhi vùng biên

Ngày 19/9, Thành đoàn thành phố Đồng Nai phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, Hội Hữu nghị Việt Nam - Campuchia TP Hồ Chí Minh, Ủy ban nhân dân xã Bù Gia Mập (thành phố Đồng Nai) cùng các đơn vị đồng hành tổ chức chương trình “Đêm hội trăng rằm” năm 2026.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cần Thơ

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ có 28 dân tộc thiểu số với 668.812 người, chiếm 17,37% dân số toàn thành phố. Trước bối cảnh phát triển mới, chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng để địa phương khơi thông tiềm năng, thu hẹp khoảng cách phát triển và nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thêm yêu quê hương qua 'Tiết học biên cương' tại Thanh Hóa

Thêm yêu quê hương qua 'Tiết học biên cương' tại Thanh Hóa

Ngày 19/9, tại khu vực mốc Quốc giới 281 (xã Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa), Đồn Biên phòng Cửa khẩu Tén Tằn - Bộ đội Biên phòng tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức Chương trình “Tiết học biên cương” số 68 với chủ đề “Biên cương trong trái tim em”. Đây là một hoạt động trong chuỗi Chương trình “Biên cương - Đêm hội trăng rằm năm 2026” do Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa tổ chức.

Chuyển đổi số - động lực đổi mới giáo dục Tây Ninh

Chuyển đổi số - động lực đổi mới giáo dục Tây Ninh

Từ vùng biên giới đến các đô thị, chuyển đổi số đang từng bước tạo động lực đổi mới giáo dục Tây Ninh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các thiết bị dạy học hiện đại giúp giáo viên đổi mới phương pháp, tăng tính trực quan, nâng cao hiệu quả dạy và học.