Tại các điểm đến thăm, đoàn công tác đã thăm hỏi, động viên và trao tặng những phần quà ý nghĩa cho tập thể nhà trường và nhà chùa. Thay mặt Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố, Phó Bí thư Thường trực Đồng Văn Thanh gửi lời chúc mừng đến các vị sư sãi, đồng bào Khmer cùng toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú.
Lãnh đạo Thành ủy Cần Thơ nhấn mạnh và nêu cao ý nghĩa truyền thống tốt đẹp của lễ Sene Dolta trong đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer; đồng thời, ân cần thăm hỏi tình hình đời sống, công tác dạy và học, chúc tập thể giáo viên, học sinh, các vị sư sãi và đồng bào Khmer đón một mùa Sene Dolta đầm ấm và hạnh phúc.
Lãnh đạo thành phố Cần Thơ thăm và chúc mừng Sene Dolta 2026 tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thạnh Phú (xã Nhu Gia).
Ghi nhận những thành tích của Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Thạnh Phú, ông Đồng Văn Thanh kỳ vọng trường tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, gắn công tác đào tạo nghề với phát triển phong trào văn thể mỹ và bảo tồn bản sắc văn hóa Khmer cho thế hệ trẻ.
Đến thăm chùa Prek On Đớk, Phó Bí thư Thường trực đánh giá cao những đóng góp của các sư sãi và đồng bào Khmer vào sự phát triển chung của địa phương. Dịp này, lãnh đạo thành phố cũng thông tin đến đồng bào Khmer tại địa phương về các điểm sáng kinh tế - xã hội của thành phố và nêu cao quyết tâm của địa phương trong việc hiện thực hóa quy hoạch đến năm 2030, tầm nhìn 2050, đưa Cần Thơ trở thành trung tâm y tế, giáo dục, khoa học công nghệ và tài chính của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Cần Thơ Đồng Văn Thanh trao quà tặng Chùa Prek On Đớk nhân dịp lễ Sene Dolta 2026.
Đại diện chùa Prek On Đớk Tăng Trưởng Lâm Chanh Sầm Nang bày tỏ lòng biết ơn trước sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Khmer. Cơ sở đang tích cực duy trì các lớp dạy tiếng Pali và tiếng Khmer; đóng mới ghe Ngo để tiếp nối và giữ gìn truyền thống văn hóa; đồng thời xây dựng tăng xá và nâng cấp đường giao thông phục vụ bà con đến viếng chùa, thực hành tín ngưỡng trong dịp lễ Sene Dolta.
Sáng cùng ngày (2/10), đoàn công tác do Bí thư Thành ủy Cần Thơ Đỗ Thanh Bình làm trưởng đoàn đã đến thăm, tặng quà tại chùa Muniransay (phường Ninh Kiều). Tại đây, Bí thư Thành ủy Cần Thơ đã thăm hỏi, chúc các vị chức sắc, sư sãi và đồng bào Khmer đón lễ Sene Dolta vui tươi, an lành và hạnh phúc.
Bí thư Thành ủy Cần Thơ đánh giá cao việc đồng bào Khmer thời gian qua đã thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và các chính sách dân tộc của Nhà nước; mong muốn các vị chức sắc, sư sãi và bà con tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, thi đua lao động sản xuất, giữ gìn an ninh trật tự và chung tay cùng chính quyền nâng cao đời sống.
Đoàn công tác Thành ủy Cần Thơ thăm, chúc mừng Ban Quản trị Chùa Prek On Đớk (Cần Đước) nhân dịp lễ Sene Dolta 2026.
Hòa thượng Trần Sol, trụ trì chùa Muniransay cho biết, nhờ các chính sách hỗ trợ thiết thực về nhà ở, sinh kế và giáo dục, đời sống của bà con đã được cải thiện. Khẳng định sự quan tâm của lãnh đạo thành phố là nguồn động viên to lớn, hòa thượng Trần Sol cam kết tiếp tục vận động đồng bào chấp hành tốt pháp luật và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Lễ Sene Dolta của đồng bào Khmer năm nay diễn ra trong 3 ngày (từ ngày 10 - 12/10). Các chuyến thăm nhân dịp lễ Sene Dolta 2026 khẳng định sự quan tâm của lãnh đạo thành phố đối với đời sống vật chất, tinh thần của hơn 543.000 đồng bào Khmer đang sinh sống tại Cần Thơ; qua đó, khích lệ các cơ sở tôn giáo và bà con tiếp tục giữ gìn bản sắc văn hóa, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn