Tính thiêng trong phong tục rước y trang
Lễ hội Katê là một trong những lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn. Lễ hội được tổ chức vào ngày 1 tháng 7 theo lịch Chăm, thường rơi vào khoảng cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 Dương lịch tùy năm.
Theo lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, trong lễ hội Katê, rước y trang là một nghi thức mở đầu có ý nghĩa rất đặc biệt. Y trang không đơn thuần là những bộ trang phục được sử dụng trong nghi lễ mà còn được cộng đồng nhìn nhận như vật thiêng gắn với các vị thần được thờ phụng vào ký ức văn hóa của cộng đồng.
Ngay trưa 9/10 (ngày đầu diễn ra lễ hội Katê), đồng bào Chăm và các chức sắc, chức việc ở xã Phước Hữu đã tươm tất lễ vật đưa lên xã Phước Hà để cùng cộng đồng Raglai nơi đây (nơi đang lưu giữ y trang) làm lễ cúng kính, rước y trang Pô Inư Nưgar (Mẹ xứ sở) về Đền trong ở thôn Hữu Đức. Sáng hôm sau, y trang tiếp tục được rước từ Đền trong ra Đền ngoài Pô Inư Nưgar. Cùng thời gian này, y trang vua Pô Rômê được rước từ Đền trong lên Tháp Pô Rômê tại thôn Hậu Sanh (xã Phước Hữu) và y trang ở đền Pô Klong Garai cũng được rước từ thôn Phước Đồng (xã Phước Hậu) lên tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh) để thực hiện các nghi thức truyền thống.
Trong đoàn rước, các chức sắc Chăm Bàlamôn giữ vai trò chủ trì nghi lễ. Người dân trong trang phục truyền thống cùng tham gia, tạo nên không gian trang nghiêm, đẹp sắc. Hòa quyện vào nghi lễ là âm vang của tiếng trống Ginăng, Paranưng, tiếng kèn Saranai cùng những điệu múa truyền thống của thiếu nữ Chăm và Raglai, làm cho lễ rước y trang lên tháp trở nên sống động.
Sau khi y trang được đưa về nơi thờ tự, các nghi thức tiếp theo được thực hiện như mở cửa đền, tháp, tắm tượng thờ, mặc trang phục và tiến hành dâng lễ vật. Đây là chuỗi nghi lễ có tính liên tục, thể hiện sự thành kính của cộng đồng đối với các vị thần.
Ông Bá Minh Truyền (chuyên gia nghiên cứu văn hóa Chăm - Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa) cho biết, lễ rước y trang trong lễ hội Katê là sự thể hiện của các giá trị di sản văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Trong quan niệm truyền thống của người Chăm, các vị thần và nhân vật lịch sử được tôn kính không tách rời đời sống cộng đồng. Theo truyền thuyết, nữ thần Pô Inư Nưgar, còn được gọi là Mẹ xứ sở, giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm. Bà dạy con người trồng lúa, trồng bông, dệt vải và xây dựng cuộc sống. Vì vậy, nghi lễ rước y trang nữ thần trong mùa Katê không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn thể hiện lòng biết ơn và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
Các thiếu nữ Chăm thực hiện các tiết mục múa tập thể. Ảnh: Đặng Tuấn/TTXVN
Tương tự, các nghi lễ gắn với vua Pô Klong Garai và Pô Rômê thể hiện sự tưởng nhớ những nhân vật được cộng đồng Chăm tôn kính vì những đóng góp cho đời sống xã hội và sản xuất. Mỗi bước chân trong đoàn rước y trang vì thế không đơn thuần là sự di chuyển giữa các địa điểm, mà còn góp phần lưu giữ và trao truyền ký ức văn hóa, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về nguồn cội và mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc trên vùng đất giàu di sản văn hóa ở Nam Khánh Hòa và vùng đất Nam Trung bộ.
Kết nối văn hóa cộng đồng
Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa, nét đặc sắc của nghi lễ rước y trang trong lễ hội Katê là sự gắn bó giữa hai cộng đồng Chăm và Raglai. Nhiều tài liệu về lễ hội Katê ghi nhận đồng bào Raglai gìn giữ y trang của nữ thần Pô Inư Nưgar, vua Pô Klong Garai và Pô Rômê, sau đó trao lại cho cộng đồng Chăm vào dịp Katê để thực hiện các nghi lễ. Nghi thức này được lưu truyền qua nhiều thế hệ, trở thành một phần quan trọng trong thực hành văn hóa của hai cộng đồng.
Mối quan hệ ấy cho thấy sự gắn kết giữa hai cộng đồng trong việc gìn giữ di sản. Người Raglai bảo quản, trao y trang; người Chăm đón nhận và thực hiện nghi lễ thờ phụng. Mỗi cộng đồng đảm nhận một vai trò riêng nhưng cùng góp phần duy trì một thực hành văn hóa thiêng liêng.
Bà Nguyễn Hải Hà, du khách đến từ tỉnh An Giang, cho biết đây là lần đầu tiên bà đến với lễ hội Katê của đồng bào Chăm sau khi tìm hiểu thông tin qua truyền thông. Bà ấn tượng trước những nét văn hóa Chăm còn được gìn giữ, đặc biệt là hình ảnh đoàn người rước y trang trên đường, trong tiếng trống, tiếng kèn và những điệu múa truyền thống. Theo bà, nghi lễ thể hiện sự gắn bó, tương trợ giữa hai cộng đồng, đồng thời góp phần giới thiệu những giá trị văn hóa truyền thống đến bạn bè quốc tế.
Theo các chuyên gia nghiên cứu văn hóa đến từ Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, Katê ngày nay không chỉ là một lễ hội đơn thuần mang bản sắc tôn giáo, mà đã trở thành sự kiện văn hóa mang giá trị đặc sắc. Tất cả các nghi lễ cùng hội tụ và đồng điệu trong không gian Katê tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc màu, giàu bản sắc, ngày càng lan tỏa rộng rãi, thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu và du khách.
Đặc biệt, sự tham gia của cộng đồng người Raglai trong nghi lễ rước y trang góp phần tạo nên chiều sâu văn hóa cho lễ hội. Đây không chỉ là câu chuyện bảo tồn một nghi thức cổ truyền mà còn là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối cá nhân với cộng đồng và kết nối người Chăm với người Raglai và cả dân tộc Việt Nam.
Sự tham gia của cộng đồng Raglai trong nghi lễ rước y trang góp phần làm sâu sắc thêm giá trị văn hóa của lễ hội, đồng thời thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa hai cộng đồng Chăm và Raglai. Qua việc cùng gìn giữ và thực hành nghi lễ, các giá trị truyền thống được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Ông Nguyễn Văn Trung, du khách đến từ Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết ông bất ngờ khi lần đầu tìm hiểu về nghi lễ rước y trang và đã theo đoàn rước từ đầu đến cuối. Qua trải nghiệm, ông hiểu thêm về những giá trị lịch sử, văn hóa gắn kết cộng đồng Chăm và Raglai.
Theo ông Trung, nghi lễ rước y trang là một nét đặc sắc của du lịch văn hóa, mang đến cho du khách cơ hội trực tiếp trải nghiệm không gian văn hóa của đồng bào Chăm. Ông cũng ấn tượng khi nhiều du khách hào hứng tham gia các hoạt động văn nghệ dân gian, hòa mình vào không khí lễ hội.
Trong bối cảnh Khánh Hòa đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa và du lịch tâm linh, việc bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội Katê cần gắn với vai trò chủ thể của cộng đồng. Các nghi lễ truyền thống cần được gìn giữ trên cơ sở tôn trọng chủ thể, bảo đảm tính thiêng, phong tục và cần sự tham gia tích cực của cộng đồng các dân tộc.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn
Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...
Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.
Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.
Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.
Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.
Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.
Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.
Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.
Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.
Ở: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.
Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.
Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.
Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.
Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.
Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.
Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.
Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.
Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.
Theo cema.gov.vn