Năm 2017, lễ hội Katê được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là niềm vinh dự, tự hào của đồng bào Chăm, đồng thời cho thấy đây là di sản văn hóa cần được gìn giữ, phát huy trong đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Không gian văn hóa đặc sắc
Theo Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Khánh Hòa Chamaléa Thị Thủy, đồng bào Chăm ở Khánh Hòa hiện có khoảng 106.222 người, chiếm 4,75% dân số toàn tỉnh. Trong đó, đồng bào Chăm theo đạo Bàlamôn có khoảng 57.000 người, tập trung chủ yếu tại các địa phương khu vực phía Nam tỉnh (Ninh Thuận cũ).
Cộng đồng Chăm ở Khánh Hòa sở hữu kho tàng văn hóa truyền thống phong phú, với nhiều lễ hội, nghệ thuật trình diễn và nghề thủ công đặc sắc như Katê, Rija Nagar, gốm Chăm, dệt thổ cẩm; trong đó, Katê là lễ hội dân gian lớn và đặc sắc, được tổ chức hằng năm vào tháng 7 Chăm lịch (đầu tháng 10 Dương lịch).
Lễ hội Katê diễn ra trong không gian đền, tháp, làng xóm và từng gia đình, tạo nên một chuỗi hoạt động văn hóa mang tính cộng đồng sâu sắc. Mỗi nghi thức, mỗi hoạt động trong lễ hội đều phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của người Chăm về con người, cộng đồng và thế giới.
Điểm nổi bật của Katê là sự kết hợp giữa phần lễ và phần hội. Phần lễ diễn ra trang nghiêm với các nghi thức truyền thống như rước y trang thần linh, mở cửa tháp, tắm tượng thần, mặc y phục cho thần và dâng lễ vật. Đây là những nghi thức thiêng liêng được cộng đồng Chăm gìn giữ qua nhiều thế hệ, thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần, các bậc tiền nhân và tổ tiên.
Phần hội diễn ra sôi nổi với các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian như múa Chăm, hát dân ca, trình diễn nhạc cụ truyền thống gồm trống Ginăng, trống Paranưng, kèn Saranai, đàn Kanyi và các trò chơi dân gian hấp dẫn được lưu truyền. Những giai điệu rộn ràng, những điệu múa uyển chuyển cùng sắc màu rực rỡ của trang phục truyền thống đã tạo nên sức hấp dẫn riêng có của lễ hội Katê.
Năm 2026, lễ hội diễn ra trong hai ngày 9 và 10/10. Ngày đầu tiên, đồng bào Chăm thực hiện nghi lễ rước y trang Pô Inư Nưgar (Mẹ xứ sở) từ xã Phước Hà về đền thờ tại thôn Hữu Đức, xã Phước Hữu. Tại đây, du khách có dịp tìm hiểu nghi lễ truyền thống, thưởng thức các điệu múa cùng tiếng kèn, tiếng trống trong không khí lễ hội.
Ngày chính lễ (10/10), đồng bào Chăm rước y trang Pô Klong Garai từ thôn Phước Đồng, xã Phước Hậu, lên tháp Pô Klong Garai, phường Đô Vinh để thực hiện các nghi thức truyền thống. Tại tháp, các nghi thức cúng kính tượng thần, dâng lễ vật, múa hát mừng lễ hội được thực hiện, tạo không gian để du khách tìm hiểu văn hóa Chăm...
Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa, ông Trượng Tính cho biết, Katê có giá trị tâm linh và tín ngưỡng sâu sắc, thể hiện rõ nét đời sống tôn giáo, tín ngưỡng lâu đời của người Chăm Bàlamôn, đồng thời lưu giữ các nghi lễ truyền thống gắn liền với hệ thống đền tháp Pô Klong Garai, Pô Rômê cổ kính. Lễ hội Katê là "bảo tàng sống" trưng bày toàn diện các loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo; là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đóng vai trò then chốt trong việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Chăm trong đời sống hiện đại.
Ông Kiều Văn Thoan (trí thức người Chăm ở xã Ninh Phước) cho biết, Katê là lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm của đồng bào Chăm đạo Bàlamôn. Đây là dịp để đồng bào tưởng nhớ các vị thần linh, tri ân tổ tiên và cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu. Bên cạnh đó, lễ hội còn tạo ra không gian sinh hoạt văn hóa để cộng đồng cùng gặp gỡ, giao lưu, thắt chặt thêm tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em.
Vào dịp Katê, cộng đồng Chăm chuẩn bị hoa quả, trầu cau, bánh trái, sản vật địa phương và các món ăn truyền thống để dâng lễ tại đền, tháp. Sau các nghi thức tại đền, tháp và làng xóm, lễ hội tiếp tục được tổ chức trong từng gia đình, dòng họ với nghi lễ cúng gia tiên.
Những hoạt động này góp phần duy trì sự gắn kết giữa các thế hệ, giáo dục thế hệ trẻ về lòng biết ơn, ý thức gìn giữ văn hóa và hướng về nguồn cội. Qua đó, lễ hội Katê không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là ngày hội đoàn kết của toàn thể cộng đồng các dân tộc.
Biến "bảo tàng sống" thành nguồn lực phát triển
Xác định tầm quan trọng của văn hóa trong bối cảnh phát triển mới, Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị đã định vị văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn là "nguồn lực nội sinh, động lực to lớn và trụ cột" cho sự phát triển bền vững của đất nước. Sự thay đổi này là bước chuyển căn bản trong tư duy hoạch định chính sách, đặt văn hóa ngang tầm với kinh tế, chính trị, xã hội; văn hóa phải thấm sâu vào mọi quyết sách phát triển.
Với giá trị văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc, lễ hội Katê có tiềm năng trở thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng của Khánh Hòa.
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, trong xu hướng du lịch trải nghiệm, khám phá văn hóa bản địa ngày càng được quan tâm, lễ hội Katê có nhiều điều kiện để phát triển thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng. Du khách có thể trải nghiệm không gian văn hóa của cộng đồng Chăm, tham gia các hoạt động văn nghệ dân gian, tìm hiểu nghề thủ công, thưởng thức ẩm thực và khám phá đời sống bản địa.
Lễ hội Katê diễn ra vào thời điểm giao mùa của ngành du lịch, góp phần bổ sung sản phẩm văn hóa cho Khánh Hòa, đồng thời tạo thêm điểm kết nối với hệ thống di tích lịch sử, văn hóa, làng nghề truyền thống, khu du lịch sinh thái, biển đảo và danh lam thắng cảnh trên địa bàn. Điều đó tạo nên chuỗi sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của du khách.
Ông Bá Minh Truyền, chuyên gia nghiên cứu văn hóa Chăm - Bảo tàng tỉnh Khánh Hòa cho biết, những năm qua, UBND tỉnh quan tâm triển khai các chương trình bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Chăm thông qua nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hỗ trợ nghệ nhân và phục dựng các loại hình nghệ thuật truyền thống.
Cùng với đó, lễ hội Katê được quảng bá thông qua các phương tiện truyền thông, sự kiện xúc tiến du lịch và hoạt động giao lưu văn hóa. Một số doanh nghiệp lữ hành đã đưa lễ hội vào chương trình tham quan, trải nghiệm dành cho du khách trong và ngoài nước.
Ông Nguyễn Long Biên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết, Nghị quyết 80-NQ-TW của Bộ Chính trị đã tạo bước ngoặt lớn về tư duy phát triển văn hóa, mở ra vận hội lớn để các địa phương nói chung và Khánh Hòa nói riêng có cơ hội thu hút các nguồn lực đầu tư, khai thác nguồn lực văn hóa thành các sản phẩm văn hóa có giá trị nghệ thuật và quy mô thương mại, nâng tầm thương hiệu văn hóa, trong đó có văn hóa Chăm.
Để khai thác và phát huy hiệu quả, sớm khẳng định thương hiệu giá trị di sản lễ hội Katê, UBND tỉnh Khánh Hòa luôn chỉ đạo các ngành, địa phương tập trung xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa gắn với Mô hình Bộ sưu tập di sản Hoàng tộc Chăm kết nối du lịch, làng nghề truyền thống, hệ thống di tích, hiện vật khảo cổ và các giá trị văn hóa; đồng thời tăng cường các hoạt động trải nghiệm, trưng bày chuyên đề và truyền thông để nâng cao sức hấp dẫn của các điểm đến.
UBND tỉnh Khánh Hòa xác định việc khai thác nguồn lực văn hóa luôn đặt trên nền tảng bảo tồn nguyên vẹn các giá trị truyền thống, tránh thương mại hóa hoặc làm biến dạng nghi lễ; trong đó cộng đồng người Chăm cần được xác định là chủ thể trung tâm trong quá trình bảo tồn và phát huy di sản.
Cùng với đó, tỉnh tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng các sản phẩm du lịch chuyên đề gắn với văn hóa Chăm như tour trải nghiệm Katê, tour khám phá kiến trúc tháp Chăm, làng nghề truyền thống và ẩm thực dân tộc; đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quảng bá hình ảnh lễ hội, xây dựng các sản phẩm truyền thông đa phương tiện và phát triển đội ngũ hướng dẫn viên am hiểu văn hóa Chăm…, để nâng cao sức hấp dẫn của lễ hội đối với du khách.
Khi được bảo tồn đúng hướng và khai thác hiệu quả, giá trị di sản lễ hội Katê không chỉ là ngày hội của đồng bào Chăm, mà còn trở thành điểm hẹn văn hóa hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước, góp phần xây dựng Khánh Hòa trở thành điểm đến giàu bản sắc, thân thiện và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn