Mở hướng phát triển kinh tế cho đồng bào Thái từ sản phẩm cốm truyền thống

Từ món ăn truyền thống gắn bó với đời sống đồng bào Thái, cốm Co Giàng ở xã Pắc Ta (tỉnh Lai Châu) đang dần trở thành hàng hóa có giá trị, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân.

Địa phương định hướng phát triển vùng nguyên liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước xây dựng làng nghề truyền thống, gắn bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế và du lịch.

Người dân bản Pắc Ta làm cốm Co Giàng.
Người dân bản Pắc Ta làm cốm Co Giàng.

Gìn giữ nghề truyền thống

Được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, xã Pắc Ta có giống lúa nếp Co Giàng với hương thơm đặc trưng, thích hợp để chế biến cốm. Từ lâu, người Thái nơi đây đã gìn giữ nghề làm cốm như một nét văn hóa truyền thống, gắn với tập quán sản xuất và đời sống sinh hoạt của cộng đồng.

Trước đây, cốm chủ yếu được các gia đình chế biến để sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày. Những năm gần đây, nhận thấy nhu cầu thị trường và giá trị kinh tế của sản phẩm, người dân từng bước mở rộng quy mô sản xuất, đưa cốm Co Giàng trở thành mặt hàng được nhiều khách hàng tìm mua.

Chị Lường Thị Tơm ở bản Pắc Ta (xã Pắc Ta) chia sẻ, chị biết làm cốm từ nhỏ. Từ kinh nghiệm được truyền lại qua nhiều thế hệ, gia đình chị duy trì nghề làm cốm, từng bước mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hiện mỗi năm, gia đình chị sản xuất hơn 2 tấn cốm Co Giàng thành phẩm.

Công đoạn rang cốm trên lửa phải đều tay.
Công đoạn rang cốm trên lửa phải đều tay.

Theo chị Tơm, nghề làm cốm không chỉ giúp gia đình có thêm nguồn thu nhập mà còn tạo sinh kế ổn định cho người dân địa phương. Việc đưa sản phẩm truyền thống ra thị trường là cách để đồng bào phát huy giá trị văn hóa của dân tộc, đồng thời khai thác lợi thế từ giống lúa bản địa.

Chị Tơm mong muốn địa phương quan tâm xây dựng thương hiệu cốm Co Giàng, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ. Khi sản phẩm được nhiều người biết đến, nghề làm cốm có thể trở thành điểm nhấn thu hút du khách đến trải nghiệm quy trình chế biến, tìm hiểu văn hóa người Thái và mua sản phẩm đặc trưng của địa phương.

Bí thư Chi bộ bản Pắc Ta Đào Hồng Vân cho biết, trước đây người dân chủ yếu làm cốm phục vụ nhu cầu của gia đình. Nhờ giống lúa nếp Co Giàng có hương vị thơm ngon, phù hợp với việc chế biến cốm, một số hộ đã thử đưa sản phẩm ra bán và nhận thấy hiệu quả kinh tế tích cực.

Công đoạn làm sạch những hạt cốm lép.
Công đoạn làm sạch những hạt cốm lép.

Từ đó, nghề làm cốm ở địa phương dần phát triển, thu hút ngày càng nhiều hộ tham gia. Chi bộ cùng người dân đang định hướng xây dựng bản trở thành nơi phát triển nghề làm cốm Co Giàng truyền thống. Đây không chỉ là cách nâng cao thu nhập mà còn góp phần gìn giữ kinh nghiệm sản xuất, bảo tồn nét đẹp văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Hiện bản Pắc Ta có 45 hộ làm cốm, có một số gia đình làm nhiều từ 500 kg đến 3 tấn mỗi năm. Cốm Co Giàng có giá khoảng 150 ngàn đồng/kg. Nghề truyền thống đang mở ra hướng phát triển kinh tế dựa trên lợi thế nông nghiệp và bản sắc văn hóa của cộng đồng.

Phát triển vùng nguyên liệu

Cốm Co Giàng được làm thủ công, tỉ mỉ để cho chất lượng thơm ngon.
Cốm Co Giàng được làm thủ công, tỉ mỉ để cho chất lượng thơm ngon.

Để nghề làm cốm phát triển ổn định, xã Pắc Ta xác định vùng nguyên liệu là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng và khả năng duy trì sản xuất lâu dài. Hiện, toàn xã có khoảng 120 ha trồng lúa nếp Co Giàng trồng tập trung ở bản Liên Hợp, bản Pắc Ta. Dự kiến trong năm 2027, địa phương phát triển thêm 50 ha, từng bước đáp ứng nhu cầu nguyên liệu khi sản xuất cốm được mở rộng.

Hiện, cốm Co Giàng đã được công nhận sản phẩm OCOP đạt chuẩn 3 sao của tỉnh Lai Châu. Phó Chủ tịch UBND xã Pắc Ta Mai Văn Sáng chia sẻ, địa phương đang định hướng xây dựng làng nghề truyền thống cốm Co Giàng. Đồng thời, ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng và giá trị sản phẩm.

Cốm Co Giàng được làm thủ công, tỉ mỉ để cho chất lượng thơm ngon.
Cốm Co Giàng được làm thủ công, tỉ mỉ để cho chất lượng thơm ngon.

Việc phát triển nghề làm cốm cần gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu, cải tiến quy trình chế biến và từng bước xây dựng thương hiệu. Đây là những yếu tố quan trọng để sản phẩm truyền thống đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, tạo thêm cơ hội phát triển kinh tế cho người dân.

Cùng với mở rộng sản xuất, việc bảo tồn phương thức chế biến truyền thống, giữ gìn hương vị đặc trưng của cốm Co Giàng cần được chú trọng. Sản phẩm muốn phát triển bền vững phải bảo đảm chất lượng ổn định, vệ sinh an toàn thực phẩm, có bao bì phù hợp và thông tin nguồn gốc rõ ràng. Đây cũng là cơ sở để từng bước mở rộng kênh phân phối, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Cốm Co Giàng hiện nay mang lại thu nhập ổn định cho người dân.
Cốm Co Giàng hiện nay mang lại thu nhập ổn định cho người dân.

Bên cạnh giá trị hàng hóa, cốm Co Giàng còn có tiềm năng trở thành sản phẩm phục vụ du lịch trải nghiệm. Thông qua việc tổ chức cho du khách tìm hiểu vùng trồng nếp, quan sát các công đoạn làm cốm và thưởng thức sản phẩm tại địa phương, xã Pắc Ta có thể giới thiệu nét đặc sắc trong văn hóa ẩm thực của đồng bào Thái; đồng thời, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Cốm Co Giàng của xã Pắc Ta nổi tiếng thơm ngon.
Cốm Co Giàng của xã Pắc Ta nổi tiếng thơm ngon.

Từ nghề làm cốm phục vụ nhu cầu gia đình, người dân bản Pắc Ta đang từng bước tạo dựng sinh kế từ giống lúa truyền thống và tri thức văn hóa của dân tộc mình. Với lợi thế về nguyên liệu, kinh nghiệm chế biến và sự tham gia ngày càng tích cực của các hộ dân, cốm Co Giàng có cơ hội trở thành sản phẩm đặc trưng của xã Pắc Ta.

Phát triển cốm Co Giàng theo hướng hàng hóa không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa người Thái. Khi nghề truyền thống được bảo tồn, sản phẩm có đầu ra ổn định và người dân trực tiếp hưởng lợi, văn hóa sẽ trở thành nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, góp phần nâng cao đời sống đồng bào vùng cao Lai Châu.

Bài và ảnh: Nguyễn Oanh/TTXVN
Dân tộc Thái

Tên tự gọi: Tay hoặc Thay

Tên gọi khác: Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ.

Nhóm địa phương: Ngành Ðen (Tay Ðăm), Ngành trắng (Tay Ðón hoặc Khao).

Dân số: 1.550.423 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên xa xưa của người Thái có mặt ở Việt Nam từ rất sớm.

Hoạt động sản xuất: Người Thái sớm đi vào nghề trồng lúa nước trong hệ thống thuỷ lợi thích hợp được đúc kế như một thành ngữ - "mương, phai, lái, lịn" (khơi mương, đắp đập, dẫn nước qua vật chướng ngại, đặt máng) trên các cánh đồng thung lũng. Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang 2 vụ lúa tẻ. Họ còn làm nương để trồng thêm lúa, ngô, hoa màu, cây thực phẩm và đặc biệt bông, cây thuốc nhuộm, dâu tằm để dệt vải.

Cót xát rất phổ biến ở vùng người Thái, dùng để trải trên sàn trước khi xếp chiếu phục tay và các tấm đệm ngủ lên trên. Cót được đan bằng cây mạy loi, một loại cây thuộc loài tre, nứa mọc trên núi đá vôi cao.

Ăn: Ngày nay gạo tẻ đã trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi là lương ăn truyền thống. Gạo nếp ngâm, bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi. Trên mâm ăn không thể thiếu được món ớt giã hoà muối, tỏi, có rau thơm, mùi, lá hành... có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng... gọi chung là chéo. Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loài nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ lòng non (nặm pịa). Thịt cá ăn tươi thì làm món nộm, nhúng (lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chín, thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau đó mới đến canh, xào, rang, luộc...

Họ ưa thức ăn có các vị: cay, chua, đắng, chát, bùi, ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng... hay uống rượu cần, cất rượu. Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và chạm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô nỏ. Người Thái Trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi ăn.

Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn, đủ màu sắc, đính khuy bạc hình bướm, nhện, ve sầu... chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng dải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ có thể vận thêm áo dài đen, xẻ nách, hoặc kiểu chui đầu, hở ngực có hàng khuy bướm của áo cánh, chiết eo, vai phồng, đính vải trang trí ở nách, và đối vai ở phía trước như của Thái Trắng. Nữ Thái Ðen đội khăn piêu nổi tiếng trong các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ. Nam người Thái mặc quần cắt để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên gấu vạt, áo người Thái Trắng có thêm một túi ở ngực trái; cài khuy tết bằng dây vải. Màu quần áo phổ biến là đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng. Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót. Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu. Khi vào lễ cuốn dải khăn dài một sải tay.

Ở: Ở nhà sàn, dáng vẻ khác nhau: nhà mái tròn khum hình mai rùa, hai đầu mai rùa, hai đầu mái hồi có khau cút; nhà 4 mái mặt bằng sàn hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp lòng, gần giống nhà người Mường.

Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra gùi theo kiểu chằng dây đeo vắt qua trán, dùng ngựa cưỡi, thồ nay. ở dọc các con sông lớn họ rất nổi tiếng trong việc xuôi ngược bằng thuyền đuôi én.

Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền được gọi là bản mường hay theo chế độ phìa tạo Tông tộc Thái gọi là Ðằm. Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải Noong (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể). (tất cả các thành viên nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời). Lung Ta (tất cả các thành viên nam thuộc họ vợ của các thế hệ). Nhinh Xao (tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể).

Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó có 2 bước cơ bản:

Cưới lên (đong khửn) - đưa rể đến cư trú nhà vợ - là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể. Người Thái Ðen có tục búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này. Tục ở rể từ 8 đến 12 năm.

Cưới xuống (đong lông) đưa gia đình trở về với họ cha.

Sinh đẻ: Phụ nữ đẻ theo tư thế ngồi, nhau bỏ vào ống tre đem treo trên cành cây ở rừng. Sản phụ được sưởi lửa, ăn cơm lam và kiêng khem một tháng; ống lam bó đem treo trên cành cây. Có nghi thức dạy trẻ lao động theo giới và mời Lung Ta đến đặt tên chi cháu.

Ma chay: Lễ tang có 2 bước cơ bản:

Pông: Phúng viếng tiễn đưa hồn người chết lên cõi hư vô, đưa thi thể ra rừng chôn (Thái Trắng), thiếu (Thái Ðen).

Xống: gọi ma trở về ngụ ở gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà.

Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm lửa đốt củi ở bếp mới. Người ta thực hiện tại nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác thu điều lành, cúng tổ tiên, vui chơi.

Lễ tết: Cúng tổ tiên ở người Thái Ðen vào tháng 7, 8 âm lịch. Người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch. Bản Mường có cúng thần đất, núi, nước và linh hồn người làm trụ cột.

Lịch: Theo hệ can chi như âm lịch. Lịch của người Thái Ðen chênh với âm lịch 6 tháng.

Học: Người Thái có mẫu tự theo hệ Sanscrit. Họ học theo lệ truyền khẩu. Người Thái có nhiều tác phẩm cổ viết về lịch sử, phong tục, luật tục và văn học.

Văn nghệ: Người Thái có các điệu xoè, các loại sáo lam và tiêu, có hát thơ, đối đáp giao duyên phong phú.

Chơi: Trò chơi của người Thái phổ biến là ném còn, kéo co, đua ngựa, dạo thuyền, bắn nỏ, múa xoè, chơi quay và quả mák lẹ. Nhiều trò chơi cho trẻ em.

Mỗi nhà người Thái thường có hai bếp, một bếp để tiếp khách, sưởi ấm, một bếp khác để nấu cơm. Chõ xôi (ninh đồng, chõ gỗ) được đặt trên 3 ông đầu rau bằng đá. Phía trên bếp có giàn để các thức cần sấy khô. Người Thái thường dùng ghế mây tròn để ngồi quanh bếp.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Thái

Có thể bạn quan tâm

Phát triển thạch đen thành ngành hàng chủ lực

Phát triển thạch đen thành ngành hàng chủ lực

Thời gian này, trên những đồi cao ở các xã Canh Tân, Kim Đồng, Thạch An, Đông Khê (tỉnh Cao Bằng), hàng trăm hộ nông dân đang bước vào thu hoạch cây thạch đen. Đây là loài cây đang mở ra sinh kế mới, góp phần thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn trên địa bàn tỉnh.

Khai mạc Liên hoan ẩm thực Điện Biên năm 2026

Khai mạc Liên hoan ẩm thực Điện Biên năm 2026

Tối 25/9, tại phố đi bộ Mường Thanh (phường Điện Biên Phủ), UBND tỉnh Điện Biên tổ chức khai mạc Liên hoan ẩm thực năm 2026 với chủ đề “Điện Biên - Hương sắc vùng cao - Tinh hoa ẩm thực”.

Kết nối nông sản, OCOP, làng nghề với phát triển du lịch

Kết nối nông sản, OCOP, làng nghề với phát triển du lịch

Tối 18/9, Sở Công Thương tỉnh Tuyên Quang tổ chức khai mạc Festival nông sản, OCOP, làng nghề gắn kết du lịch - Tuyên Quang năm 2026, mở không gian kết nối sản xuất, thương mại, quảng bá sản phẩm đặc trưng với phát triển du lịch.

Đưa đặc sản Điện Biên đến người tiêu dùng Thủ đô qua 'Sức sống hàng Việt'

Đưa đặc sản Điện Biên đến người tiêu dùng Thủ đô qua 'Sức sống hàng Việt'

Sáng 16/7, tại Không gian trưng bày, livestream “Sức sống hàng Việt” tại 62 Tràng Tiền, phường Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước phối hợp với Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh Điện Biên tổ chức khai mạc Chương trình “Sức sống hàng Việt” số 9 với chủ đề “Điện Biên phố”.