Người có uy tín gương mẫu làm kinh tế giỏi
Tận dụng lợi thế rừng tự nhiên và nguồn hoa phong phú, nuôi ong lấy mật đang trở thành hướng phát triển kinh tế của nhiều hộ dân tại đặc khu Vân Đồn (TP Quảng Ninh). Với chi phí đầu tư ban đầu không quá lớn, mô hình phù hợp với điều kiện sản xuất của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số, mở ra cơ hội tăng thu nhập từ chính lợi thế tự nhiên của địa phương.
Vân Đồn có hệ sinh thái đa dạng, với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và nguồn hoa tự nhiên phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi ong. Các giống ong nội địa có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, nguồn hoa tại chỗ, giúp người dân từng bước mở rộng quy mô từ số đàn nhỏ, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Tại Khu phố Hạ Long 2, đặc khu Vân Đồn, ông Lưu Thành Phúc là một trong những người tiên phong phát triển mô hình nuôi ong. Hiện nay, gia đình ông duy trì khoảng 100 đàn ong. Không chỉ mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho gia đình, mô hình còn là minh chứng thực tế để ông vận động, hướng dẫn các hộ dân trong cộng đồng tìm hiểu và phát triển nghề nuôi ong.
Với vai trò người có uy tín trong cộng đồng dân tộc Sán Dìu, ông Phúc luôn xác định muốn giúp bà con phát triển kinh tế thì trước hết bản thân phải gương mẫu, chủ động tìm tòi cách làm hiệu quả. Từ quá trình trực tiếp nuôi ong, ông tích lũy kinh nghiệm về kỹ thuật chăm sóc, khai thác mật, bảo quản sản phẩm, đồng thời tìm hiểu cách làm tại các địa phương khác để hoàn thiện quy trình sản xuất.
Theo ông Phúc, nuôi ong không đòi hỏi diện tích sản xuất lớn nhưng yêu cầu người nuôi phải cẩn thận, tỉ mỉ và nắm vững đặc tính của đàn ong. Người nuôi cần hiểu chu kỳ sinh trưởng, cách xây tổ, chia đàn, thời điểm ong đi lấy mật cũng như đặc điểm của các loài hoa theo mùa.
“Chăm con ong, việc đầu tiên và rất quan trọng là phải biết kỹ thuật, hiểu về con ong, chăm sóc có khoa học, bài bản, đúng cách thì mới lấy được mật già. Khi thùng ong đã vít nắp, tức mật đạt độ chín, mới tiến hành thu hoạch. Người nuôi cũng phải biết thời điểm đưa cầu vào, lấy cầu ra và chăm sóc làm sao để đàn ong phát triển tốt”, ông Phúc chia sẻ.
Theo kinh nghiệm của ông, tháng 3 thường là thời điểm thuận lợi để khai thác mật, khi đàn ong hoạt động mạnh. Người nuôi phải theo dõi quá trình tạo mật, chỉ thu hoạch khi ong đã vít nắp để bảo đảm chất lượng. Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định giá trị sản phẩm.
Ngoài kỹ thuật thu hoạch, người nuôi còn phải chủ động chăm sóc đàn ong trong điều kiện thời tiết bất lợi. Từ tháng 10 đến tháng 12, thời tiết lạnh, nguồn phấn hoa khan hiếm có thể khiến đàn ong suy yếu hoặc bỏ tổ. Vì vậy, người nuôi cần theo dõi sát tình trạng đàn, bổ sung dinh dưỡng khi cần thiết và điều chỉnh cách chăm sóc phù hợp.
Nhờ tích lũy kinh nghiệm và duy trì quy trình chăm sóc phù hợp, mỗi đàn ong của gia đình ông Phúc có thể cho khoảng 6 - 6,5 lít mật mỗi đợt thu hoạch. Trong mùa khai thác từ khoảng tháng 2 đến tháng 7, gia đình thu mật định kỳ, với sản lượng mỗi vụ khoảng 1000 lít. Theo mức giá bán từ 300.000 - 400.000 đồng/lít, doanh thu hằng năm ước đạt khoảng 300 triệu đồng.
Để duy trì chất lượng sản phẩm, ông Phúc chú trọng từ khâu thu hoạch đến bảo quản, đóng gói. Trước mỗi mùa vụ, gia đình chuẩn bị khoảng 1.000 chai thủy tinh, cất giữ cẩn thận để sử dụng khi thu hoạch mật. Nhờ chú trọng chất lượng, sản phẩm mật ong của gia đình ông dần được khách hàng ở nhiều tỉnh, thành phố biết đến. Nhiều người sau khi sử dụng tiếp tục quay lại đặt mua với số lượng lớn hơn.
Từ hiệu quả kinh tế của gia đình, ông Phúc có thêm cơ sở thực tế để vận động bà con tìm hiểu và tham gia mô hình. Theo ông, khi người dân tận mắt thấy hiệu quả, được hướng dẫn kỹ thuật và biết cách chăm sóc đàn ong, họ sẽ tự tin hơn khi bắt đầu sản xuất, từng bước tạo nguồn thu nhập phù hợp với điều kiện của gia đình.
Lan tỏa cách làm hay, chia sẻ vận động bà con cùng làm
Không giữ kinh nghiệm cho riêng mình, ông Lưu Thành Phúc thường xuyên chia sẻ kiến thức, hướng dẫn kỹ thuật cho các thành viên tổ hợp tác, họ hàng và những hộ dân có nhu cầu nuôi ong. Với ông, phát triển kinh tế không chỉ là nỗ lực của từng gia đình mà còn cần sự hỗ trợ, liên kết để nhiều hộ cùng nâng cao thu nhập.
Trong quá trình phát triển nghề nuôi ong, ông Phúc nhận được sự hỗ trợ của Sở Dân tộc và Tôn giáo TP Quảng Ninh thông qua các lớp tập huấn và hoạt động đi thực tế tại các tỉnh để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. Những hoạt động này tạo điều kiện để ông tiếp cận kiến thức, tìm hiểu các cách làm mới, từ đó vận dụng vào điều kiện sản xuất tại địa phương.
Ông Phúc chia sẻ: “Tôi là người có uy tín, được tham gia học tập, trao đổi kinh nghiệm thì khi trở về, tôi muốn giúp đỡ bà con nuôi ong lấy mật hằng năm. Sở Dân tộc và Tôn giáo đã hỗ trợ tổ chức các lớp tập huấn, cho đi thực tế tại các tỉnh để học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm. Những gì tiếp thu được, tôi lại trao đổi với bà con để mọi người cùng làm, cùng phát triển kinh tế”.
Từ kiến thức được tiếp thu qua tập huấn và thực tế sản xuất, ông Phúc tiếp tục hướng dẫn bà con cách chăm sóc, chia đàn, lựa chọn thời điểm thu hoạch, bảo quản mật và xử lý những khó khăn thường gặp theo mùa. Việc trao đổi không chỉ diễn ra trong tổ hợp tác mà còn được mở rộng tới họ hàng, những hộ dân xung quanh có nhu cầu phát triển sinh kế.
Nhờ đó, kiến thức từ các lớp tập huấn, chuyến đi thực tế không chỉ dừng lại ở người trực tiếp tham gia mà còn được truyền đạt đến những hộ dân khác thông qua vai trò kết nối của người có uy tín. Kinh nghiệm sản xuất của ông Phúc giúp bà con có thêm cơ sở thực hành, hạn chế những sai sót ban đầu và từng bước nâng cao hiệu quả nuôi ong.
Theo ông Phúc, tại đặc khu Vân Đồn hiện có hàng trăm hộ nuôi ong. Việc kết nối, chia sẻ kinh nghiệm giữa các hộ có ý nghĩa quan trọng, giúp người nuôi hỗ trợ nhau trong quá trình chăm sóc đàn, khai thác mật và tìm kiếm thị trường. Với vai trò chủ nhiệm tổ hợp tác, ông mong muốn thu hút thêm thành viên, mở rộng sự liên kết để nghề nuôi ong phát triển ổn định hơn.
Qua mô hình này, vai trò của người có uy tín được thể hiện bằng những việc làm cụ thể, từ trực tiếp phát triển kinh tế, chủ động học hỏi, vận động bà con thay đổi cách làm và chia sẻ kinh nghiệm để cùng tiến bộ. Sự hỗ trợ của Sở Dân tộc và Tôn giáo thông qua tập huấn, trao đổi thực tế cũng góp phần tạo điều kiện để ông Phúc nâng cao kiến thức, phát huy vai trò nòng cốt trong cộng đồng.
Tuy nhiên, theo ông Phúc, khó khăn hiện nay của nghề nuôi ong vẫn là đầu ra tiêu thụ. Sản phẩm chủ yếu được bán qua khách hàng quen và các mối liên hệ trực tiếp. Nếu muốn mở rộng quy mô, người nuôi cần tăng cường liên kết, nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và tìm kiếm các kênh phân phối ổn định.
Ông mong muốn thời gian tới tiếp tục nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn và tổ hợp tác trong việc hỗ trợ các hộ nuôi ong mở rộng quy mô, thu hút thêm thành viên, kết nối với doanh nghiệp trong và ngoài địa phương. Đồng thời, việc hoàn thiện quy trình sản xuất, xây dựng thương hiệu và hướng tới phát triển mật ong thành sản phẩm OCOP sẽ góp phần nâng cao giá trị, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Nuôi ong lấy mật không chỉ mang lại nguồn thu nhập cho các hộ dân mà còn góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng, gìn giữ môi trường sống và duy trì nguồn hoa tự nhiên. Phát triển sinh kế gắn với bảo vệ hệ sinh thái giúp người dân khai thác lợi thế địa phương theo hướng lâu dài.
Nghị định số 307/2026/NĐ-CP ngày 4/8/2026 của Chính phủ quy định về lựa chọn, công nhận, chính sách đối với người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó nhấn mạnh vai trò nêu gương, tuyên truyền, vận động người dân chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Tên tự gọi: San Déo Nhín (Sơn Dao Nhân).
Tên gọi khác: Trại, Trại Ðất, Mán Quần cộc, Mán Váy xẻ...
Ngôn ngữ: Người Sán Dìu nói thổ ngữ Hán Quảng Ðông (ngữ hệ Hán - Tạng).
Dân số: 146.821 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Lịch sử: Người Sán Dìu di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm nay.
Hoạt động sản xuất: Người Sán Dìu có làm ruộng nước nhưng không nhiều, canh tác ruộng khô là chính. Ngoài các loại cây trồng thường thấy ở nhiều vùng như lúa, ngô, khoai, sắn... họ còn trồng nhiều cây có củ.
Từ rất lâu họ biết dùng phân bón ruộng. Nhờ đắp thêm mũi phụ, lưỡi cày của họ trở nên bền, sắc và thích hợp hơn với việc cày ở nơi đất cứng, nhiều sỏi đá.
Ăn: Người Sán Dìu ăn cơm tẻ là chính, có độn thêm khoai sắn. Sau bữa ăn, họ thường húp thêm bát cháo loãng như người Nùng.
Mặc: Bộ Y phục truyền thống của phụ nữ gồm khăn đen, áo dài (đơn hoặc kép), nếu là áo kép thì bao giờ chiếc bên trong cũng màu trắng còn chiếc bên ngoài màu chàm dài hơn một chút; yếm màu đỏ; thắt lưng màu trắng, hồng hay xanh lơ; váy là hai mảnh rời cùng chung một cạp, chỉ dài quá gối có màu chàm; xà cạp màu chàm; xà cạp màu trắng. Ðồ trang trí gồm vòng cổ, vòng tay, hoa tai và dây xà tích bằng bạc.
Nam giới ăn mặc như người Việt: búi tóc vấn khăn hoặc đội khăn xếp, áo dài thâm, quần trắng.
Ở: Họ sống tập trung ở trung du Bắc bộ, trong vùng từ tả ngạn sông Hồng đổ về phía Ðông. Làng xóm của họ tựa như làng người Việt, có luỹ tre bao bọc và giữa các nhà thường có tường hay hàng rào. Ở nhà đất trình tường hay thưng ván.
Phương tiện vận chuyển: Ngoài gánh còn sử dụng xe quệt như là một phương tiện vận chuyển chính. Xe làm bằng tre, gỗ do trâu kéo, dùng để vận chuyển chính. Xe làm bằng tre, gỗ do trâu kéo, dùng để vận chuyển tất cả mọi thứ, từ thóc lúa, củi đuốc cho đến phân bón. Do không có bánh bên xe quệt có thể sử dụng ở nhiều loại địa hình khác nhau.
Quan hệ xã hội: Trước Cách mạng tháng Tám, ruộng đất đã tư hữu hoá và xã hội đã có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Ðịa chủ và phú nông nắm giữ nhiều ruộng đất và bóc lột các tầng lớp nông dân lao động dưới hình thức phát canh thu tô, thuê mướn nhân công và cho vay nặng lãi.
Bên cạnh bộ máy chính quyền, ở các làng còn có người đứng đầy làng do dân bầu ra để quản lý công việc chung.
Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương nhưng có thành vợ thành chồng hay không họ lại tuỳ thuộc vào "số mệnh" và sự quyết định của bố mẹ.
Ðám cưới gồm nhiều nghi lễ. Ðáng chú ý nhất có lễ khai hoa tửu diễn ra tại nhà gái, trước hôm cô dâu về nhà chồng. Người ra lấy một bình rượu và một cái đĩa, trên đĩa lót hai miếng giấy cắt hoa, miếng trắng để dưới, miếng đỏ để trên, đặt lên trên đĩa hai quả trứng luộc có xâu chỉ đỏ và buộc ở mỗi bên trứng hai đồng xu. Sau khi cúng thì bóc trứng lấy lòng đỏ hoà với rượu để mọi người uống mừng hạnh phúc của cô dâu, chú rể.
Ma chay: Khi hạ huyệt, con cái phải từ phía chân quan tài bò một vòng quanh miệng huyệt. Con trai bò từ trái sang phải còn con gái bò từ phải sang trái, vừa bò vừa xô đất lấp huyệt. Lúc đứng dậy, mỗi người vốc một nắm đất và chạy thật nhanh về nhà bỏ vào chuồng trâu, chuồng lợn... với ý nghĩa cho gia súc sinh sôi, nảy nở. Tiếp đó chạy vào nhà và ngồi xuống thúng thóc với quan niệm ai dính nhiều thóc là may mắn. Cuối cùng, mỗi người tự xé lấy một miếng thịt gà luộc để ăn, ai đến trước nhất được mào gà, tiếp theo được đầu, cổ, cánh... Nhà mồ có mái bằng, lợp lá rừng. Khi cải táng, xương được xếp vào tiểu hoặc chum theo tư thế ngồi và nếu chưa chọn được ngày tốt thì chôn tạm ở chân đồi hay bờ ruộng.
Nhà mới: Mỗi khi có ai làm nhà thì mọi người trong họ, trong làng tự đến giúp đỡ, chủ nhân không cần phải mời giúp. Trong lễ lên nhà mới chủ nhà mời người cao tuổi trong họ đem lửa, bình vôi, ít hạt giống vào nhà.
Thờ cúng: Trên bàn thờ thường đặt ba bát hương thờ tổ tiên, pháp sư và táo quân. Nếu chủ nhà chưa được cấp sắc thì chỉ có hai bát hương. Những người mới chết chưa kịp làm ma cũng đặt bát hương lên bàn thờ nhưng để thấp hơn. Ngoài ra, người Sán Dìu còn thờ thổ thần ở miếu thờ thành hoàng ở đình.
Lễ tết: Có những ngày tết như nhiều dân tộc ở trong vùng. Riêng tết Ðông chí còn mang thêm ý nghĩa cầu mong có con đàn, cháu đống. Những người đã lấy nhau lâu mà vẫn chưa có con thì sau khi ăn tết xong người vợ về nhà bố mẹ đẻ ở. Người chồng cho ông mối đến hỏi và sau đó tổ chức cưới lại như là cưới vợ mới.
Lịch: Người Sán Dìu theo âm lịch.
Học: Trước kia, thanh niên thường học chữ Hán để làm thầy cúng nhưng hiện nay còn rất ít người biết chữ Hán.
Văn nghệ: Giống như ở nhiều dân tộc khác, người Sán Dìu cũng có hát giao duyên nam nữ mà họ gọi là soọng cô, thường được hát về đêm. Có những cuộc hát kéo dài suốt nhiều đêm.
Theo cema.gov.vn