Người giữ nghề làm gốm của đồng bào Chu Ru

Để tạo hình tròn, nữ nghệ nhân này phải đi vòng quanh khối đất nặn, chứ không dùng bàn xoay như những nơi khác. Ảnh: Chu Quốc Hùng –TTXVN
Để tạo hình tròn, nữ nghệ nhân này phải đi vòng quanh khối đất nặn, chứ không dùng bàn xoay như những nơi khác. Ảnh: Chu Quốc Hùng –TTXVN

Tưởng như đã thất truyền nhưng ở thôn Krăng Gọ 1, xã P’Ró, huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn còn một nghệ nhân gần 70 tuổi làm gốm theo cách riêng của đồng bào Chu Ru. Làm gốm mà không dùng bàn xoay, không dùng lò nung mà chất củi đốt lộ thiên, để hình thành nên những chum, vại, ché, nồi, hay bộ ấm chén đất. Đó là nữ nghệ nhân dân gian Ma Ly.

Người giữ nghề làm gốm của đồng bào Chu Ru ảnh 1

Để tạo hình tròn, nữ nghệ nhân này phải đi vòng quanh khối đất nặn, chứ không dùng bàn xoay như những nơi khác. Ảnh: Chu Quốc Hùng –TTXVN

Đôi bàn tay tài hoa, khéo léo

Chứng kiến công đoạn làm gốm theo cách của người Chu Ru mới thấy sự khéo léo, bền bỉ nhưng vất vả của nghề. Đồ nghề của nghệ nhân dân gian Ma Ly chỉ là một miếng xốp phẳng bọc vải đặt trên chiếc ghế nhựa cao hơn 50cm. Do không sử dụng bàn xoay nên bà Ma Ly vừa ép 2 tay lên khối đất đang nặn, vừa di chuyển liên tục nhiều vòng xung quanh cái bàn đơn giản đó để tạo độ tròn cho sản phẩm. Trong sự kết hợp uyển chuyển điêu luyện, đôi bàn tay tài hoa của bà tạo ra hình dáng, hoa văn trên sản phẩm.

Người giữ nghề làm gốm của đồng bào Chu Ru ảnh 2Nữ Nghệ nhân dân gian Ma Ly giới thiệu các sản phẩm gốm đã làm của bà. Ảnh: Chu Quốc Hùng –TTXVN

Trước đó, để có nguyên liệu, bà Ma Ly phải lấy đất đào từ trên núi về giã ra, dùng sàng tre lọc nhiều lần cho ra một loại bột mịn. Từ đó mới trộn với nước để tạo thành một thứ đất sét màu sữa, không được quá dẻo quánh như đất đóng gạch mà phải đủ độ vừa phải. Điều đặc biệt nhất là sản phẩm sau khi phơi khô sẽ đưa vào nung theo phương pháp chưa từng thấy. Bà Ma Ly xếp các sản phẩm ra giữa sân, sau đó chất củi xung quanh rồi châm lửa đốt. Cách nung này đòi hỏi sự cẩn trọng rất nhiều so với dùng lò nung. Đó là sản phẩm phải từ loại đất đặc biệt ít giãn nở vì nhiệt. Loại củi dùng để nung gốm phải được lấy trên núi cao, than có sức nóng bền bỉ, quan trọng là không có khói ám vào làm biến màu đồ gốm. Nhưng trước khi nung gốm, các sản phẩm phải được đảm bảo phơi khô ít nhất 2 tuần. Hậu quả của sự nôn nóng nhằm sớm cho ra lò các sản phẩm gốm là những đồ vật bị lỗi.

Khi được hỏi vì sao bà không sử dụng bàn xoay cho đỡ vất vả; sao không đắp lò nung để sản phẩm không bị vỡ nứt hay nhiễm bẩn? Nghệ nhân Ma Ly lắc đầu cười: Mấy cái đó không phải của dân tộc mình, mình không quen dùng! Cái lý của bà Ma Ly thoạt nghe có vẻ hơi bảo thủ. Nhưng chính “cái lý” đó mà hàng trăm năm qua, nghề gốm cổ vẫn tự hào tồn tại ở Krăng Gọ, trở thành sản phẩm đặc hữu của đồng bào Chu Ru mà rất khó nhầm lẫn với sản phẩm khác được sản xuất theo hình thức thương mại. Nhìn vào chất liệu, hoa văn, hình thức của sản phẩm gốm và cách sản xuất thì có thể nhận ra sự phát triển của văn hóa, nền văn minh được tiến triển qua các thời kỳ của tộc người Chu Ru trên miền đất Tây Nguyên.

Người giữ nghề làm gốm của đồng bào Chu Ru ảnh 3Đất được đào trên đỉnh núi Toom Uh cách buôn Krăng Gọ nửa ngày đi bộ, sau đó giã ra và sàng kỹ thành bột trộn nước nặn đồ gốm. Ảnh: Chu Quốc Hùng –TTXVN

Nghệ nhân Ma Ly kể lại, nghề làm gốm của đồng bào Chu Ru ở miền này có từ bao giờ không ai biết. Chỉ biết từ khi 12 tuổi, bà đã được người cô trong gia đình dạy cho nghề làm gốm. Trong nghề này, quan trọng nhất là tìm được loại đất để khi nung mà không bị nứt vỡ và loại đất này chỉ có ở trên đỉnh núi Toom Uh xa thẳm. Thời bấy giờ, để lấy được loại đất đặc biệt trên đỉnh núi Toom Uh, những người phụ nữ Chu Ru lành nghề phải thức dậy từ rất sớm. Họ cẩn thận chuẩn bị các linh vật cần thiết đem tới địa điểm xin đất, thực hiện những nghi thức thần bí bắt buộc để Yàng (ông trời) chấp nhận cho lấy đất về.

Những phụ nữ cao tuổi bậc tổ của nghề dẫn đầu đoàn người đi xin đất lặng lẽ rời buôn từ nửa đêm hôm trước. Họ đi trật tự thành hàng, không được cười nói suốt cả quãng đường từ buôn Krăng Gọ tới đỉnh núi Toom Uh theo một nghi thức trang trọng. Tới nơi trời vẫn chưa sáng, sau Lễ gọi Yàng (ông trời), thần Đất, thần Núi về chứng kiến nghi thức xin đất truyền thống, những người phụ nữ nhiều kinh nghiệm bắt đầu cầm thuổng, xà beng, cẩn thận cạy đào từng mảng đất trên núi thiêng, bóc ra chọn lấy loại đất tốt nhất cho vào gùi.

Trong khi nữ giới thực hiện những đặc quyền trên, đàn ông chỉ được phép đứng ngoài quan sát. Họ được giao nhiệm vụ bảo vệ các nghi thức đang diễn ra và gùi đất thiêng về buôn khi mọi việc đã hoàn tất. Đây cũng chính là điều thể hiện quyền uy tối thượng, khẳng định vai trò trọng yếu của nữ giới trong chế độ mẫu hệ của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Để nghề làm gốm không bị thất truyền

Xưa kia, Krăng Gọ là vùng sản xuất đồ gốm nổi tiếng bậc nhất khu vực Nam Tây Nguyên với hàng chục gia đình giữ nghề. Sản phẩm của bà con làm ra được đem đi nhiều nơi đổi lấy lúa gạo, trâu bò, dê, heo….Đồ gốm của người Chu Ru cư ngụ bên dòng sông Đa Nhim đã ra đời và mang trong mình sức sống bền bỉ suốt nhiều thế kỷ. Bởi vậy nên người Chu Ru ở miền Đơn Dương đã lấy nghề đặt tên cho buôn của mình là Krăng Gọ, nghĩa là buôn làm gốm. Sản phẩm gốm cổ Krăng Gọ phổ biến nhất là các loại dụng cụ cần thiết trong nhà như nồi để nấu, tô ăn cơm, ấm nấu nước… với độ bền và hình thức, mẫu mã ngày càng được cải tiến. Về sau, khi cuộc sống vùng khấm khá hơn, bà con nơi đây sản xuất thêm nhiều đồ vật dùng để trang trí trong nhà như bình cắm hoa, các loại tượng gốm…

Người giữ nghề làm gốm của đồng bào Chu Ru ảnh 4Một sản phẩm được bà Ma Ly chau chuốt. Ảnh: Chu Quốc Hùng –TTXVN

Thế rồi, khi các làng nghề sản xuất gốm ở miền xuôi được hiện đại hóa, sản xuất với quy mô lớn, nhiều sản phẩm đa dạng, tinh xảo thì buôn gốm cổ Krăng Gọ của đồng bào Chu Ru vùng P'Ró mai một. Những bàn tay truyền đời cần mẫn không còn đủ kiên nhẫn để sống chết với nghề. Rồi nghi thức cúng vái xin đất thiêng trên đỉnh Toom Uh lúc rạng sáng mùa khô cũng thưa dần. Buôn Krăng Gọ giờ chẳng còn mấy nóc nhà nổi lửa nung gốm bằng phương pháp lộ thiên truyền thống.

Nghệ nhân dân gian Ma Ly nhớ lại, ngày trước, nghề làm gốm có giá lắm. Mỗi cái nồi to làm ra đổi được 1 con heo. Bà cô là người truyền nghề cho bà Ma Ly khi mới 12 tuổi dặn rằng: con không bao giờ được bỏ nghề này. Làm ruộng, làm rẫy có khi mất mùa chứ làm gốm, chỉ một cái tô cũng đổi được 5 trái bắp để ăn. Vậy mà khi lấy chồng, bà cũng bỏ nhiều năm không làm. Sau khi làm nghề trở lại, vào những năm 2000-2010 có doanh nghiệp nước ngoài dưới Bình Dương thuê bà xuống làm cho họ với điều kiện phải giữ đúng cách làm truyền thống. Làm một thời gian nhớ nhà quá, lại đã cao tuổi nên bà đã xin nghỉ việc, về làm gốm tại nhà. Giờ làm nghề này cũng đỡ vất vả hơn làm rẫy, mà thu nhập cao hơn. Có vị Cha xứ nhà thờ gần buôn Krăng Gọ đã nhận hết sản phẩm bà làm ra để giới thiệu cho khách, mục đích để bà không được bỏ nghề này. Chính quyền địa phương cũng mở lớp dạy nghề làm gốm cho thanh niên thanh nữ trong vùng, nhờ bà Ma Ly đến dạy để nghề làm gốm của người Chu Ru không bị thất truyền.

Người giữ nghề làm gốm của đồng bào Chu Ru ảnh 5Cách nặn đồ gốm vô cùng thô sơ của nghề làm gốm cổ Chu Ru. Ảnh: Chu Quốc Hùng –TTXVN

Theo Quyết định số 1776/QĐ-UBND ngày 30/9/2022, UBND tỉnh Lâm Đồng đã phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2022- 2030. Trong đó nghề truyền thống làm gốm của người đồng bào dân tộc Chu Ru ở buôn Krăng Gọ 1, xã P’Ró (huyện Đơn Dương) được đưa vào mục nghề truyền thống có nguy cơ mai một thất truyền, cần được giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc Tây Nguyên. Điều đó có nghĩa là thời gian tới đây, nghề làm gốm của người Chu Ru sẽ được chính quyền địa phương chú ý tạo điều kiện để lưu truyền và phát triển.

Chu Quốc Hùng

(TTXVN)
Dân tộc Chu Ru

Tên gọi khác: Chơ Ru, Kru, Thượng.

Dân số: 19.314 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynêxia, (ngữ hệ Nam Ðảo), gần với tiếng Chăm. Có một bộ phận người Chu Ru sống gần với người Cơ Ho nên nói tiếng Cơ Ho (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me).

Lịch sử: Có lẽ xa xưa, tổ tiên người Chu Ru là một bộ phận trong khối cộng đồng Chăm; về sau, họ chuyển lên miền núi sống biệt lập với cộng đồng gốc nên thành người Chu Ru.

Hoạt động sản xuất: Người Chu Ru sống định cư, định canh trên cơ sở một truyền thống nông nghiệp từ lâu đời. Ruộng ở đây có hai loại: ruộng sình và ruộng khô. Việc làm thuỷ lợi bằng mương, phai, đê, đập được chú trọng. Vườn có trên rẫy và vườn ở gần nhà. Chăn nuôi có gia súc và gia cầm. Săn bắn, hái lượm và đánh cá là hoạt động thường xuyên. Nghề thủ công gia đình được phổ biến có đan lát, gốm thô

Ăn: Lương thực chính là gạo tẻ được nấu trong những nồi đất nung tự tạo. Lương thực phụ có ngô, khoai, sắn. Thức ăn có măng rừng, rau đậu, cá suối, chim thú săn bắn được. Thức uống có rượu cần và rượu cất. Nam nữ đều thích hút thuốc lá sợi bằng tẩu.

Mặc: Nghề dệt không phát triển nên những sản phẩm của y phục như: váy, áo, khố, mền, địu... có được đều do trao đổi với các tộc láng giềng như: Chăm, Cơ Ho, Raglai, Mạ...

: Hiện tại, họ sống ở hai xã Ðơn và Loan thuộc huyện Ðơn Dương, một số khác ở huyện Ðức Trọng và Di Linh tỉnh Lâm Ðồng. Tại hai huyện An Sơn và Ðức Linh thuộc tỉnh Ninh Thuận cũng có vài ngàn người Chu Ru sinh sống. Người Chu Ru ở nhà sàn làm bằng tre, gỗ, bương, mai, lợp bằng cỏ tranh. Họ cư trú theo đơn vị làng (plei) và những gia đình thân thuộc thường xây cất nhà cửa gần gũi nhau.

Phương tiện vận chuyển: Chiếc gùi nan cõng trên lưng vẫn là phương tiện vận chuyển được sử dụng thường xuyên cho mọi người.

Quan hệ xã hội: Quan hệ chủ đạo trong cơ cấu xã hội Chu Ru là gia đình mẫu hệ với vai trò được tôn vinh là người phụ nữ, người thừa kế của gia đình, dòng họ mẹ. Nếu nhìn vào bộ máy tự quản ở các làng thì ta thấy người đàn ông đang đứng mũi chịu sào trong mọi lĩnh vực để cho xã hội được vận hành theo định hướng của ông bà xưa. Thực ra, họ đã hành động theo ý chí của người vợ, người chủ nhân ngôi nhà mà họ đang cư ngụ theo tục cưới chồng. Xã hội đã có sự phân hoá giàu, nghèo nhưng không có sự xung đột giữa hai tầng lớp ấy trong làng.

Cưới xin: Người phụ nữ chủ động trong quan hệ lứa đôi. Việc "hỏi chồng" và "Cưới chồng" được thực hiện qua những thông tin ở việc trao tặng chàng trai chiếc nhẫn và chuỗi hạt cườm. Sau lễ cưới, người con gái phải ở dâu nửa tháng tại gia đình chồng để chờ lễ đón rể về nhà. Họ cư trú phía nhà gái.

Ma chay: Người Chu Ru theo tục thổ táng tại nghĩa địa chung của làng. Xưa kia, việc ma chay thường được tổ chức linh đình với lễ hiến sinh trâu bò.

Nhà mới: Việc dựng nhà mới được coi trọng với sự tập trung tâm lực của gia đình chủ và sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng làng. Khi khánh thành nhà mới và dọn về ở nhà mới, họ hàng và cả làng quây quần giúp đỡ. Họ tổ chức tiệc mặn để cầu cúng thần linh, thụ lộc và chia vui cùng gia chủ.

Lễ tết: Một năm với chu kỳ canh tác ruộng nước, người Chu Ru có nhiều nghi lễ như: cúng thần đập nước, thần mương nước, thần lúa khi gieo hạt, ăn mừng lúa mới, cúng sau mùa thu hoạch. Ðáng lưu ý là lễ cúng thần bơnung vào tháng hai âm lịch, dân làng thường hiến sinh dê. Và lễ cúng Yang Wer, một cây đại thụ ở gần làng, được coi là nơi ngự trị của các thần linh. Người ta thường làm những hình nộm dã thú bằng gỗ hay củ chuối để đặt dưới gốc cây.

Lịch: Người Chu Ru theo lịch âm, tính tháng chu kỳ canh tác nông nghiệp của tổ tiên xưa.

Học: Trước kia, người Chu Ru không có chữ viết, mọi sự truyền đạt, thông tin đều qua truyền khẩu.

Văn nghệ: Vốn ca dao, tục ngữ rất phong phú, phản ánh việc đề cao vai trò phụ nữ, ca ngợi chế độ gia đình mẫu hệ. Về nhạc cụ, đáng lưu ý là trống, kèn và chiêng. Ngoài ra còn một số nhạc cụ khác như: r’tông, kwao, terlia là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu Ru. Trong hội hè, nhạc cổ truyền Chu Ru thường được cất lên cùng với vũ điệu tamga nổi tiếng.

Chơi: Sở thích của trẻ em là đánh cù, chơi thả diều (diều bướm và diều sáo). Chúng cũng hay chơi trò kéo co, đi cà kheo, đuổi bắt nhau...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Chu Ru

Có thể bạn quan tâm

Tạo lập nguồn dữ liệu đất đai sạch

Tạo lập nguồn dữ liệu đất đai sạch

Với mục tiêu tạo lập nguồn dữ liệu sạch, phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; đồng thời, hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn toàn tỉnh, ngày 3/4, Thái Nguyên đã phát động Chiến dịch 100 ngày số hóa, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu và 180 ngày hoàn thiện việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, hoàn thành cơ sở dữ liệu đất.

Chủ động phòng, chống dịch bệnh thủy đậu tại trường học

Chủ động phòng, chống dịch bệnh thủy đậu tại trường học

Chiều 3/4, Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk cho biết, các đơn vị nghiệp vụ của Sở đang khẩn trương xử lý ổ dịch thủy đậu tại một điểm trường của Trường Tiểu học Lê Văn Tám (xã Ea Riêng). Đây là ổ dịch trong trường học nên có nguy cơ lây lan nhanh nếu không được xử lý kịp thời.

Giải bài toán thiếu điện mùa nắng nóng

Giải bài toán thiếu điện mùa nắng nóng

Trong bối cảnh dự báo diễn biến thời tiết năm 2026 có nhiều cực đoan, bất lợi; tình hình cung ứng điện còn nhiều thách thức, Công ty Điện lực Lào Cai đang triển khai nhiều giải pháp, sẵn sàng các điều kiện để ứng phó khi xảy ra sự cố thiên tai và trong chế độ cực kỳ khẩn cấp trên địa bàn tỉnh đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng điện của khách hàng.

Điện Biên ra quân trồng mới 12.000 ha cây trồng chủ lực

Điện Biên ra quân trồng mới 12.000 ha cây trồng chủ lực

Ngày 3/4, từ điểm phát động tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đồng loạt ra quân trồng mới cà phê, mắc ca trên phạm vi toàn tỉnh, cụ thể hóa định hướng phát triển cây trồng chủ lực, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Đây là hoạt động nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 11 của Tỉnh ủy về cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026–2030, hướng tới phát triển các cây trồng chủ lực, nâng cao giá trị sản xuất.

Lan tỏa tiếng dân tộc Tày nơi tuyến đầu biên giới Xứ Lạng

Lan tỏa tiếng dân tộc Tày nơi tuyến đầu biên giới Xứ Lạng

Ngày 2/4, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội thi tiếng dân tộc Tày năm 2026. Đây là hoạt động thiết thực nhằm đánh giá kết quả học tập, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số nói chung và tiếng dân tộc Tày nói riêng tại các cơ quan, đơn vị Bộ đội Biên phòng trên địa bàn.

Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Chủ đầu tư dự án Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới tại xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng đang tập trung nhân lực, vật lực đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành 60 căn nhà và bàn giao cho người dân trước dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Giữ màu xanh cho những cánh rừng Thái Nguyên

Giữ màu xanh cho những cánh rừng Thái Nguyên

Những cánh rừng xanh đang hồi sinh mạnh mẽ nhờ sự chung tay của lực lượng kiểm lâm và người dân Thái Nguyên. Không chỉ bảo vệ tài nguyên, rừng còn mở ra sinh kế bền vững, giúp đồng bào từng bước đổi thay cuộc sống.

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Xã Phiêng Khoài (Sơn La), hiện có hơn 2.600 ha trồng cây mận, trong đó, diện tích mận trái vụ chiếm trên 20%. Việc áp dụng kỹ thật canh tác trái vụ, rải vụ, chín sớm, đã và đang mở ra hướng đi hiệu quả, giúp nông dân nâng cao giá trị sản phẩm, giảm áp lực tiêu thụ tập trung cùng một thời điểm, dẫn đến giá thành giảm, cạnh tranh cao. Niên vụ 2026, mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận rất phấn khởi. 

Tiếp thêm động lực cho học sinh vùng biên Tuyên Quang

Tiếp thêm động lực cho học sinh vùng biên Tuyên Quang

Sau hơn 3 tháng triển khai Nghị định 339/2025/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền, nhiều trường học vùng cao của tỉnh Tuyên Quang đã ghi nhận những chuyển biến tích cực. Chính sách không chỉ góp phần cải thiện điều kiện học tập cho học sinh mà còn tạo động lực nâng cao chất lượng giáo dục ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Thanh Hóa còn 760 hộ dân miền núi chưa có điện lưới quốc gia

Thanh Hóa còn 760 hộ dân miền núi chưa có điện lưới quốc gia

Theo thống kê của Sở Công Thương và Công ty Điện lực Thanh Hóa, trên địa bàn tỉnh vẫn còn 761 hộ dân sống tại 23 bản, thuộc 9 xã miền núi chưa được sử dụng điện lưới quốc gia, chủ yếu thuộc các xã biên giới như Yên Nhân, Trung Lý, Tam Chung, Tam Lư và xã Mường Lý...

Nhiều hộ dân miền núi Thanh Hóa chưa được sử dụng điện lưới quốc gia

Nhiều hộ dân miền núi Thanh Hóa chưa được sử dụng điện lưới quốc gia

Tại khu vực các xã miền núi của tỉnh Thanh Hóa vẫn còn 761 hộ dân sống tại các cụm dân cư, thuộc 23 thôn, bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia. Những hộ gia đình này chủ yếu sống tại vùng đặc biệt khó khăn có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt nên việc kéo điện đang còn gặp khó khăn. Họ mong một ngày nào đó có điện lưới để thắp sáng, sử dụng những tiện nghi của đời sống giữa đại ngàn vùng cao.

Nhanh chóng hỗ trợ nhân dân Pắc Ngà (Sơn La) khắc phục hậu quả dông lốc

Nhanh chóng hỗ trợ nhân dân Pắc Ngà (Sơn La) khắc phục hậu quả dông lốc

Trận dông lốc với cường độ mạnh xảy ra ngày 29/3 đã gây thiệt hại về nhà ở của người dân xã Pắc Ngà, tỉnh Sơn La. Thống kê ban đầu, dông lốc xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng cường độ mạnh đã làm sập đổ, nghiêng và tốc mái 12 căn nhà của các hộ dân tại 3 bản: Lừm Thượng A, Lừm Thượng B và Suối Tải.

Lan tỏa yêu thương từ 'Tủ đồ sơ sinh 0 đồng'

Lan tỏa yêu thương từ 'Tủ đồ sơ sinh 0 đồng'

Chương trình “Tủ đồ sơ sinh 0 đồng - Chia sẻ yêu thương” được Trung tâm Y tế Tu Mơ Rông (tỉnh Quảng Ngãi) triển khai và duy trì 5 tháng nay đã thực sự phát huy hiệu quả, giúp nhiều sản phụ thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo an tâm hơn khi đến sinh con tại đây.

Nghệ An: Dông lốc kèm mưa đá tại xã miền núi Quỳ Châu

Nghệ An: Dông lốc kèm mưa đá tại xã miền núi Quỳ Châu

Chiều 29/3, trên địa bàn miền núi xã Quỳ Châu (tỉnh Nghệ An) bất ngờ xảy ra một trận dông kèm theo mưa đá. Mưa đá diễn ra trong thời gian gần 10 phút, khiến người dân khá bất ngờ bởi hiện tượng thời tiết cực đoan này xảy ra quá nhanh, bầu trời nhanh chóng chuyển tối, gió mạnh nổi lên liên tục và trước đó thời tiết ở các khu vực đã trải qua nhiều giờ nắng gắt.

Dông lốc gây nhiều thiệt hại ở Lào Cai

Dông lốc gây nhiều thiệt hại ở Lào Cai

Vào khoảng 16 giờ 40 phút chiều 29/3, tại các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia và xã Liên Sơn của tỉnh Lào Cai (khu vực thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái cũ), cơn dông lốc mạnh xảy ra làm một công nhân vệ sinh môi trường bị thương, nhiều cây xanh bị gãy, đổ và hàng trăm ngôi nhà dân bị tốc mái.

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Đến hẹn lại lên, cứ vào chủ nhật hàng tuần, khi sương núi còn bảng lảng trên những triền đá, chợ phiên Phương Độ (Hà Giang 1, Tuyên Quang) đã bừng thức trong nhịp bước rộn ràng của đồng bào người Tày, Dao… ở các bản làng xa gần về họp chợ. 

Cách giữ xanh rừng Sêrêpôk khi lực lượng mỏng

Cách giữ xanh rừng Sêrêpôk khi lực lượng mỏng

Nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Lâm Đồng, rừng Sêrêpôk bao bọc lưu vực của con sông cùng tên Sêrêpôk bí ẩn, bởi hướng chảy ngược về thượng nguồn trước khi vượt qua biên giới Campuchia để đổ ra biển.

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài cuối: Xóa trường tạm, dựng tương lai ​

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài cuối: Xóa trường tạm, dựng tương lai ​

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Nghị quyết số 298/NQ-CP về kế hoạch hành động của Chính phủ, tỉnh Thanh Hóa đã khẩn trương triển khai khảo sát, lập danh mục đề xuất, trình Chính phủ và được phê duyệt đầu tư xây dựng 16 trường nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho 16 xã biên giới. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân, đến nay nhiều công trình khởi công năm 2025 đã đạt tiến độ gần 30%, cố gắng bàn giao trước năm học tới.

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 2: Dệt ước mơ nơi phên giậu Tổ quốc

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 2: Dệt ước mơ nơi phên giậu Tổ quốc

Giải bài toán từ những lớp học chông chênh và hành trình đến trường đầy trắc trở của học sinh vùng cao biên giới, chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông liên cấp nội trú cho các xã biên giới theo Thông báo Kết luận số 81-TB/TW ngày 18/7/2025 của Bộ Chính trị đã biến giấc mơ của thầy, cô giáo và học sinh trở thành hiện thực. Tại các xã biên giới của tỉnh Thanh Hóa, địa bàn rộng, nhiều điểm trường lẻ, dân cư phân tán, đây là giải pháp khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, là bước tái cấu trúc không gian giáo dục theo hướng tập trung, hiệu quả.

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 1: Vượt khó giữ nhịp học không bị đứt quãng

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài 1: Vượt khó giữ nhịp học không bị đứt quãng

Thực tế tại các điểm trường vùng cao biên giới có địa hình chia cắt, thường xuyên gánh chịu mưa lũ, các em học sinh phải vượt quãng đường xa đến lớp, điều kiện học tập thiếu thốn, giáo viên chưa có nơi ở ổn định… Thông báo Kết luận số 81-TB/TW của Bộ Chính trị thống nhất chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tại 248 xã biên giới đất liền cho thấy hướng đi đúng và trúng với nhu cầu thực tiễn.

Hiện thực hóa khát vọng 'con chữ' nơi biên viễn

Hiện thực hóa khát vọng 'con chữ' nơi biên viễn

Thực hiện chủ trương đầu tư xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền tren cả nước, tỉnh Thanh Hóa đã trình Chính phủ đầu tư 16 Trường nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho 16 xã biên giới. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Đến nay, nhiều công trình đã đạt tiến độ gần 30%, cố gắng bàn giao trước năm học tới.