Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới

Kon Plông là huyện vùng III của tỉnh Kon Tum. Toàn huyện có trên 27.000 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới hơn 94% và cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn. Thời gian qua, chính quyền và người dân nơi đây đã nỗ lực khắc phục khó khăn, cùng nhau chung tay xây dựng nông thôn mới. Đến nay, huyện Kon Plông đã có 3 xã vùng dân tộc thiểu số đạt chuẩn nông thôn mới.

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới ảnh 1Người dân thôn Đăk Nê, xã Măng Cành, huyện Kon Plông (Kon Tum) phát triển mạnh cây đương quy. Ảnh: baokontum.com.vn 

* Nông thôn mới có đặc thù

Xã Măng Cành có 9/9 thôn là người dân tộc thiểu số Xê Đăng. Trước khi xây dựng nông thôn mới, xã xác định Măng Cành không thể như các vùng thuận lợi khác. Nhìn lại sau một năm được công nhận nông thôn mới, ông Mai Xuân Mậu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Măng Cành cho biết: Đối với Măng Cành, nông thôn mới thực hiện theo tiêu chí đặc thù, không bằng các xã vùng thuận lợi, đồng bằng, vùng phát triển. Cụ thể, Măng Cành là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người dân có phong tục tập quán riêng. Nhà ở 3 cứng (nền, mái và vách cứng) nhưng với Măng Cành nhà sàn lợp tôn, mái ngói là đặc trưng của người dân. Cùng đó, chính quyền tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng để giúp thuận lợi trong sản xuất, tạo sinh kế cho dân. Là vùng có khí hậu lạnh, chính quyền xây dựng một số mô hình đặc thù phù hợp với thực tiễn và con người nơi đây.

Xác định giao thông là một trong những khâu đột phá, những năm qua, người dân Măng Cành đã tích cực tham gia làm đường giao thông nông thôn, đem lại nhiều khởi sắc cho buôn, làng ở vùng sâu, vùng xa nơi đây. Hàng loạt tuyến đường bê tông vào các làng, khu sản xuất được làm mới với sự hỗ trợ của chính quyền và người dân góp sức, hiến đất, cây trồng. Theo ông A Nghị, Trưởng thôn Đăk Ne, xã Măng Cành: Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, nhà nước hỗ trợ vật tư, vật liệu, dân góp công tham gia làm đường giao thông. Nhờ vậy, thôn Đăk Ne có 3 con đường bê tông mới vào 2 khu sản xuất và khu dân cư. Có đường bê tông, người dân đi lại thuận lợi, sản xuất, lưu thông và bán nông sản được giá hơn.

Trong sản xuất, chính quyền đang thay đổi dần diện tích lúa 1 vụ, mỳ (sắn) bằng mô hình cà phê xứ lạnh, cây dược liệu. Đây là cách để thay đổi cơ cấu cây trồng, đem thu nhập cho người dân. Cùng đó, chính quyền hỗ trợ các loại con giống như lợn, gà, vịt, trâu… vừa tạo thu nhập, vừa cải thiện dinh dưỡng bữa ăn cho người dân. Việc đưa nhiều mô hình, cây, con mới, phù hợp thực tiễn đã tạo được sức bật, giúp người dân tin tưởng vào con đường mà chính quyền và người dân đang chung tay xây dựng.

Khẳng định sự thay đổi tích cực khi xây dựng nông thôn mới, ông A Lễ, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh làng Kon Chênh cho biết: Nhà nào cũng thi đua lao động sản xuất. Trước đây, khi thời tiết vào mùa mưa, lạnh, nhà nhà đóng cửa, sưởi lửa, uống rượu rồi ngủ. Giờ nhà nhà có cà phê xứ lạnh, nhiều nhà trồng cây dược liệu mang lại thu nhập cao. Cà phê, dược liệu có công ty thu mua, giá ổn định, đảm bảo thu nhập.

Sau một năm được công nhận nông thôn mới, một số chính sách hỗ trợ bị cắt như tiền bán trú, bảo hiểm y tế… Trước thực tế trên, xã Măng Cành đã phối hợp Bảo hiểm xã hội huyện tuyên truyền, vận động để dân hiểu chính sách sau khi được công nhận nông thôn mới. Nhờ vậy, 1/3 người dân trong xã đã tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế. Đối với các chính sách với học sinh bán trú, chính quyền huyện đã vận động doanh nghiệp, người dân (góp gạo, rau, củ) cùng chung tay hỗ trợ các em để duy trì các lớp bán trú…

“Về lâu dài, xã kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh cần ban hành Nghị quyết đặc thù với xã nông thôn mới ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số", ông Mai Xuân Mậu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Măng Cành cho biết.

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới ảnh 2Điểm dân cư 57 hộ đồng bào dân tộc thuộc thôn Đăk Lanh, xã Măng Bút, huyện Kon Plông (Kon Tum) chính thức được đóng điện, hòa điện lưới Quốc gia. Ảnh: Dư Toán - TTXVN

* Dân vẫn là chủ thể

Có thể nói, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, cấp ủy, chính quyền xã Măng Cành đã khơi dậy, phát huy được vai trò của người dân. Với Măng Cành, trong điều kiện cuộc sống của gần 2.500 người dân trong xã, với chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Xê Đăng còn nhiều khó khăn, chính quyền xã xác định khâu đột phát là phải phát huy được nội lực của người dân và trước tiên tập trung vào việc phát triển kinh tế hộ gia đình.

Theo ông Mai Xuân Mậu: “Nhà nước hỗ trợ bằng các chính sách, người dân phải nỗ lực vươn lên để phát huy hiệu quả các chính sách mà Nhà nước mang lại. Việc dân phải thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tự lực vươn lên là quan trọng nhất”. Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng sự chung sức, đồng lòng của người dân, giờ đây xã Măng Cành có sự phát triển vượt bậc. Hạ tầng cải thiện, giao thông thuận lợi. “Đường vào khu sản xuất, dân cư, nhà rông thôn được làm mới. Tất cả công trình trên, dân là người hưởng thụ trực tiếp. Nhà nước hỗ trợ, dân làng ai cũng tình nguyện, hưởng ứng”, ông A Nghị, Trưởng thôn Đăk Ne chia sẻ.

Đến nay, nhiều mô hình sản xuất, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và người dân được hình thành, hoạt động có hiệu quả. Các cây, con giống đem lại hiệu quả thiết thực cho dân. Nhờ vậy, đến cuối năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo của xã Măng Cành giảm xuống chỉ còn 3,5% theo chuẩn nghèo đa chiều.

Ông Đào Duy Khánh, Bí thư Huyện ủy Kon Plông khẳng định: “Xây dựng nông thôn mới đối với vùng khó khăn, nhất là vùng dân tộc thiểu số là nỗ lực rất lớn của hệ thống chính trị và sự ủng hộ của người dân. Đạt chuẩn nông thôn mới đã khó rồi, giữ các tiêu chí càng khó hơn. Lên nông thôn mới, thuận lợi là ý thức của người dân tốt hơn, sự trông chờ, ỷ lại giảm đi. Người dân cố gắng phấn đấu thoát nghèo và làm giàu chính đáng”.

Với quyết tâm xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc thiểu số, đến nay bộ mặt nông thôn của Kon Plông, một trong những huyện khó khăn nhất tỉnh Kon Tum đã có những thay đổi vượt bậc. Hiện 9 xã, thị trấn của huyện đều có đường ô tô đi được 2 mùa mưa nắng. Trên 95% đường liên thôn, nội thôn, đường đi khu sản xuất được cứng hóa. Tất cả các thôn, làng trong huyện đều có điện lưới quốc gia. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 15%. Thu nhập, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó, tư duy trong lao động sản xuất của bà con ngày càng tiến bộ.

Cao Nguyên

(TTXVN)
Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Đôn đốc tiến độ các dự án cấp bách phòng, chống thiên tai

Đôn đốc tiến độ các dự án cấp bách phòng, chống thiên tai

Ngày 15/6, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Đinh Công Sứ cùng đoàn công tác của tỉnh đã kiểm tra thực địa, làm việc với các địa phương và đơn vị liên quan về tiến độ thực hiện Dự án khắc phục cấp bách sạt lở khu vực tổ 15, phường Hòa Bình và Dự án cấp bách đê ngăn lũ chống ngập úng Pheo - Chẹ hạ du sông Đà. Đây là hai công trình trọng điểm có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống thiên tai, bảo vệ tính mạng, tài sản của người dân và hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực hạ du sông Đà.

Cảnh báo đá lở từ vách núi gây nguy hiểm ở Cao Bằng

Cảnh báo đá lở từ vách núi gây nguy hiểm ở Cao Bằng

Cao Bằng là tỉnh miền núi có nhiều vách đá dựng đứng, tiềm ẩn nguy cơ đá lăn, đá rơi trong mùa mưa bão. Những ngày qua, nhiều địa phương có mưa, mưa to, nền đất đá bị phong hóa, sụt trượt khiến những tảng đá to lăn từ trên đỉnh núi xuống gây nguy hiểm cho người dân, phương tiện đi lại trên các tuyến giao thông.

Khuyến cáo người dân cẩn trọng, tránh xa khu vực xuất hiện voi hoang dã

Khuyến cáo người dân cẩn trọng, tránh xa khu vực xuất hiện voi hoang dã

Ngày 15/6, ông Hoàng Văn Tám, Chủ tịch UBND xã Đắk Wil, tỉnh Lâm Đồng cho biết, UBND xã đã phối hợp với đơn vị chủ rừng và các ngành chức năng liên quan tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, khuyến cáo người dân cẩn trọng, hạn chế tiếp xúc với voi hoang dã trên địa bàn.

Trao cơ hội khám sức khỏe, sàng lọc bệnh miễn phí cho người dân

Trao cơ hội khám sức khỏe, sàng lọc bệnh miễn phí cho người dân

Tỉnh Thái Nguyên đang hướng tới mục tiêu tất cả người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí nhằm chủ động phát hiện, dự phòng và điều trị sớm cho người dân, giảm gánh nặng bệnh tật và chi phí y tế, đảm bảo mỗi người dân đều được bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện.

Tăng tốc xây dựng 13 trường nội trú ở vùng biên giới Sơn La

Tăng tốc xây dựng 13 trường nội trú ở vùng biên giới Sơn La

Ngày 12/6, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Sơn La Hà Trung Chiến chủ trì cuộc họp đánh giá tiến độ triển khai đầu tư xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học - trung học cơ sở tại các xã biên giới, đồng thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thi công để các công trình sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng phục vụ năm học mới. Các dự án trường nội trú liên cấp tại khu vực biên giới đang được triển khai đồng loạt ở Sơn La với khí thế khẩn trương.

Những người giữ lửa niềm tin và lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng

Những người giữ lửa niềm tin và lan tỏa những giá trị tích cực trong cộng đồng

Bằng những việc làm cụ thể, đội ngũ người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang phát huy vai trò nòng cốt trong tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn bản sắc văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phát hiện sớm bệnh tật, quản lý sức khỏe toàn diện cho nhân dân

Phát hiện sớm bệnh tật, quản lý sức khỏe toàn diện cho nhân dân

Tỉnh Đắk Lắk có dân số hơn 3,3 triệu người, trong đó, nhiều người cao tuổi, hộ nghèo, người khuyết tật và đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa. Để tiến tới mục tiêu khám sức khỏe toàn dân, ngành Y tế tỉnh Đắk Lắk đã huy động toàn bộ hệ thống y tế từ tuyến cơ sở đến tuyến tỉnh, tranh thủ nguồn lực từ các bệnh viện và cơ sở y tế ngoài công lập. Đây là bước đi quan trọng để mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng và quản lý sức khỏe xuyên suốt.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026: Hỗ trợ suất ăn cho thí sinh người đồng bào dân tộc thiểu số

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026: Hỗ trợ suất ăn cho thí sinh người đồng bào dân tộc thiểu số

Trong ngày thi đầu tiên của Kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2026 (11/6), tại các điểm thi vùng miền núi tỉnh Quảng Trị, nhiều hoạt động tiếp sức mùa thi đã được triển khai kịp thời nhằm hỗ trợ thí sinh, đặc biệt là học sinh đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn.

Xây trận địa hậu cần vững chắc nơi biên cương

Xây trận địa hậu cần vững chắc nơi biên cương

Thực hiện phong trào thi đua “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác”, các đồn biên phòng trên tuyến biên giới của tỉnh Gia Lai đã chủ động khắc phục điều kiện khí hậu khắc nghiệt xây dựng thành công mô hình tự chủ 100% nguồn thực phẩm sạch tại chỗ. Điều này đã giúp các đơn vị nâng cao chất lượng bữa ăn cho bộ đội và giúp duy trì xuất sắc tỷ lệ quân số khỏe mạnh trên 98%, giúp đảm bảo năng lực sẵn sàng chiến đấu.

Kiên quyết không để vùng biên 'lỡ nhịp' hạ tầng giáo dục

Kiên quyết không để vùng biên 'lỡ nhịp' hạ tầng giáo dục

Chính quyền các xã biên giới tỉnh Lâm Đồng và ngành chức năng liên quan đang đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng phục vụ thi công ba trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở. Đây đều là các trường được khởi công vào tháng 3/2026 và dự kiến hoàn thành vào tháng 8/2027.

Tháo gỡ khó khăn về vốn đối ứng giúp nhiều gia đình thoát nghèo bền vững

Tháo gỡ khó khăn về vốn đối ứng giúp nhiều gia đình thoát nghèo bền vững

Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, tỉnh Phú Thọ đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ người dân vùng khó khăn phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống. Từ hỗ trợ nhà ở, đầu tư hạ tầng đến tạo sinh kế phù hợp, các chính sách đang từng bước phát huy hiệu quả; góp phần thay đổi diện mạo nông thôn và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.

Nồi cháo nghĩa tình tiếp sức thí sinh dân tộc thiểu số xứ Lạng

Nồi cháo nghĩa tình tiếp sức thí sinh dân tộc thiểu số xứ Lạng

Nhằm tiếp sức, động viên tinh thần học sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, từ đêm 10/6 đến hết kỳ thi, thầy, các thầy, cô giáo Trường THPT Dân tộc Nội trú tỉnh Lạng Sơn cùng các đơn vị đồng hành, nhà tài trợ đã duy trì những nồi cháo nghĩa tình phục vụ bữa ăn bữa đêm cho học sinh. Những suất cháo nóng hổi không chỉ giúp đảm bảo sức khỏe, mà còn thể hiện sự quan tâm, tình yêu thương dành cho các em.

Tiếp sức thí sinh vùng khó, đồng bào dân tộc thiểu số

Tiếp sức thí sinh vùng khó, đồng bào dân tộc thiểu số

Nhằm tiếp sức, động viên tinh thần học sinh tham dự Kỳ thi tốt nghiệp Trung học Phổ thông năm 2026, từ đêm 10/6 đến hết kỳ thi, thầy, cô giáo Trường Trung học Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Lạng Sơn cùng các đơn vị đồng hành, nhà tài trợ đã tổ chức nấu những nồi cháo nghĩa tình vào ban đêm giúp học sinh đảm bảo sức khỏe. Nhiều trường học trong tỉnh cũng tổ chức hoạt động tiếp sức mùa thi thiết thực, giúp thí sinh vượt “vũ môn” thuận lợi...

Quan tâm đời sống tín ngưỡng của đồng bào Công giáo vùng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ​

Quan tâm đời sống tín ngưỡng của đồng bào Công giáo vùng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình ​

Ngày 10/6, Đoàn công tác do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh làm Trưởng đoàn đã đến thăm, làm việc với Tòa Giám mục Bắc Ninh nhằm kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng Dự án Cảng hàng không quốc tế Gia Bình và các dự án liên quan.

Tạo sinh kế bền vững giúp đồng bào vùng cao thoát nghèo

Tạo sinh kế bền vững giúp đồng bào vùng cao thoát nghèo

Những năm qua, cùng với việc triển khai đồng bộ các Chương trình mục tiêu quốc gia, công tác giảm nghèo ở Tuyên Quang đã chuyển biến tích cực. Thay vì hỗ trợ mang tính ngắn hạn, các địa phương đang tập trung tạo sinh kế bền vững, giúp người dân có điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và từng bước vươn lên thoát nghèo bằng chính nội lực của mình.

Hỗ trợ 100% thẻ bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

Hỗ trợ 100% thẻ bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 10/6, ông Danh Phúc, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn Giáo tỉnh An Giang cho bết, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 08/2026/NQ-HĐND, ngày 21/5/2026 quy định mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số không thuộc đối tượng đã được ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế trên địa bàn.

Đặc sản OCOP 'mở đường' cho kinh tế nông thôn

Đặc sản OCOP 'mở đường' cho kinh tế nông thôn

Những trái dâu tằm chín mọng trong vườn hữu cơ, những quả dưa lưới ngọt lành dưới chân núi Bà Đen hay đặc sản mãng cầu nổi tiếng của Tây Ninh giờ không chỉ là nông sản đơn thuần. Thông qua Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), nhiều sản vật địa phương đang được nâng tầm thành thương hiệu, kết hợp với du lịch trải nghiệm để mở thêm cơ hội phát triển kinh tế bền vững cho vùng nông thôn.

Tuổi trẻ chung tay xây dựng biên cương

Tuổi trẻ chung tay xây dựng biên cương

Giữa màu xanh của núi đá và những thửa ruộng vùng cao đang vào vụ, khu vực mốc biên giới 291/2 thuộc xã Tùng Vài, tỉnh Tuyên Quang những ngày đầu tháng 6 trở nên rộn ràng hơn bởi bước chân của hàng trăm đoàn viên, thanh niên. 

Mở rộng liên kết chuỗi, gia tăng giá trị ngành hàng chủ lực ở Cà Mau

Mở rộng liên kết chuỗi, gia tăng giá trị ngành hàng chủ lực ở Cà Mau

Cà Mau là tỉnh có thế mạnh trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp với các ngành hàng chủ lực đem lại nguồn thu lớn cho nhà nông như tôm, cua, lúa, cá. Xác định trong nhiều năm tới nông nghiệp vẫn là lĩnh vực chủ lực của nền kinh tế, tỉnh Cà Mau đã có định hướng cũng như chiến lược dài hạn để tập trung phát triển mạnh kinh tế tập thể, gắn với liên kết, tiêu thụ sản phẩm nông sản, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

Giáo dục vùng biên chuyển mình nhờ đầu tư đồng bộ

Giáo dục vùng biên chuyển mình nhờ đầu tư đồng bộ

Dù còn nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, khoảng cách địa lý và đời sống giáo viên, nhưng những năm gần đây, giáo dục vùng biên giới Tây Ninh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, chính quyền địa phương cùng tâm huyết của đội ngũ nhà giáo đang góp phần nâng cao chất lượng dạy và học, mở ra nhiều cơ hội phát triển cho học sinh nơi biên cương.