Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới

Kon Plông là huyện vùng III của tỉnh Kon Tum. Toàn huyện có trên 27.000 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới hơn 94% và cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn. Thời gian qua, chính quyền và người dân nơi đây đã nỗ lực khắc phục khó khăn, cùng nhau chung tay xây dựng nông thôn mới. Đến nay, huyện Kon Plông đã có 3 xã vùng dân tộc thiểu số đạt chuẩn nông thôn mới.

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới ảnh 1Người dân thôn Đăk Nê, xã Măng Cành, huyện Kon Plông (Kon Tum) phát triển mạnh cây đương quy. Ảnh: baokontum.com.vn 

* Nông thôn mới có đặc thù

Xã Măng Cành có 9/9 thôn là người dân tộc thiểu số Xê Đăng. Trước khi xây dựng nông thôn mới, xã xác định Măng Cành không thể như các vùng thuận lợi khác. Nhìn lại sau một năm được công nhận nông thôn mới, ông Mai Xuân Mậu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Măng Cành cho biết: Đối với Măng Cành, nông thôn mới thực hiện theo tiêu chí đặc thù, không bằng các xã vùng thuận lợi, đồng bằng, vùng phát triển. Cụ thể, Măng Cành là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người dân có phong tục tập quán riêng. Nhà ở 3 cứng (nền, mái và vách cứng) nhưng với Măng Cành nhà sàn lợp tôn, mái ngói là đặc trưng của người dân. Cùng đó, chính quyền tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng để giúp thuận lợi trong sản xuất, tạo sinh kế cho dân. Là vùng có khí hậu lạnh, chính quyền xây dựng một số mô hình đặc thù phù hợp với thực tiễn và con người nơi đây.

Xác định giao thông là một trong những khâu đột phá, những năm qua, người dân Măng Cành đã tích cực tham gia làm đường giao thông nông thôn, đem lại nhiều khởi sắc cho buôn, làng ở vùng sâu, vùng xa nơi đây. Hàng loạt tuyến đường bê tông vào các làng, khu sản xuất được làm mới với sự hỗ trợ của chính quyền và người dân góp sức, hiến đất, cây trồng. Theo ông A Nghị, Trưởng thôn Đăk Ne, xã Măng Cành: Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, nhà nước hỗ trợ vật tư, vật liệu, dân góp công tham gia làm đường giao thông. Nhờ vậy, thôn Đăk Ne có 3 con đường bê tông mới vào 2 khu sản xuất và khu dân cư. Có đường bê tông, người dân đi lại thuận lợi, sản xuất, lưu thông và bán nông sản được giá hơn.

Trong sản xuất, chính quyền đang thay đổi dần diện tích lúa 1 vụ, mỳ (sắn) bằng mô hình cà phê xứ lạnh, cây dược liệu. Đây là cách để thay đổi cơ cấu cây trồng, đem thu nhập cho người dân. Cùng đó, chính quyền hỗ trợ các loại con giống như lợn, gà, vịt, trâu… vừa tạo thu nhập, vừa cải thiện dinh dưỡng bữa ăn cho người dân. Việc đưa nhiều mô hình, cây, con mới, phù hợp thực tiễn đã tạo được sức bật, giúp người dân tin tưởng vào con đường mà chính quyền và người dân đang chung tay xây dựng.

Khẳng định sự thay đổi tích cực khi xây dựng nông thôn mới, ông A Lễ, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh làng Kon Chênh cho biết: Nhà nào cũng thi đua lao động sản xuất. Trước đây, khi thời tiết vào mùa mưa, lạnh, nhà nhà đóng cửa, sưởi lửa, uống rượu rồi ngủ. Giờ nhà nhà có cà phê xứ lạnh, nhiều nhà trồng cây dược liệu mang lại thu nhập cao. Cà phê, dược liệu có công ty thu mua, giá ổn định, đảm bảo thu nhập.

Sau một năm được công nhận nông thôn mới, một số chính sách hỗ trợ bị cắt như tiền bán trú, bảo hiểm y tế… Trước thực tế trên, xã Măng Cành đã phối hợp Bảo hiểm xã hội huyện tuyên truyền, vận động để dân hiểu chính sách sau khi được công nhận nông thôn mới. Nhờ vậy, 1/3 người dân trong xã đã tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế. Đối với các chính sách với học sinh bán trú, chính quyền huyện đã vận động doanh nghiệp, người dân (góp gạo, rau, củ) cùng chung tay hỗ trợ các em để duy trì các lớp bán trú…

“Về lâu dài, xã kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh cần ban hành Nghị quyết đặc thù với xã nông thôn mới ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số", ông Mai Xuân Mậu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Măng Cành cho biết.

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới ảnh 2Điểm dân cư 57 hộ đồng bào dân tộc thuộc thôn Đăk Lanh, xã Măng Bút, huyện Kon Plông (Kon Tum) chính thức được đóng điện, hòa điện lưới Quốc gia. Ảnh: Dư Toán - TTXVN

* Dân vẫn là chủ thể

Có thể nói, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, cấp ủy, chính quyền xã Măng Cành đã khơi dậy, phát huy được vai trò của người dân. Với Măng Cành, trong điều kiện cuộc sống của gần 2.500 người dân trong xã, với chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Xê Đăng còn nhiều khó khăn, chính quyền xã xác định khâu đột phát là phải phát huy được nội lực của người dân và trước tiên tập trung vào việc phát triển kinh tế hộ gia đình.

Theo ông Mai Xuân Mậu: “Nhà nước hỗ trợ bằng các chính sách, người dân phải nỗ lực vươn lên để phát huy hiệu quả các chính sách mà Nhà nước mang lại. Việc dân phải thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tự lực vươn lên là quan trọng nhất”. Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng sự chung sức, đồng lòng của người dân, giờ đây xã Măng Cành có sự phát triển vượt bậc. Hạ tầng cải thiện, giao thông thuận lợi. “Đường vào khu sản xuất, dân cư, nhà rông thôn được làm mới. Tất cả công trình trên, dân là người hưởng thụ trực tiếp. Nhà nước hỗ trợ, dân làng ai cũng tình nguyện, hưởng ứng”, ông A Nghị, Trưởng thôn Đăk Ne chia sẻ.

Đến nay, nhiều mô hình sản xuất, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và người dân được hình thành, hoạt động có hiệu quả. Các cây, con giống đem lại hiệu quả thiết thực cho dân. Nhờ vậy, đến cuối năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo của xã Măng Cành giảm xuống chỉ còn 3,5% theo chuẩn nghèo đa chiều.

Ông Đào Duy Khánh, Bí thư Huyện ủy Kon Plông khẳng định: “Xây dựng nông thôn mới đối với vùng khó khăn, nhất là vùng dân tộc thiểu số là nỗ lực rất lớn của hệ thống chính trị và sự ủng hộ của người dân. Đạt chuẩn nông thôn mới đã khó rồi, giữ các tiêu chí càng khó hơn. Lên nông thôn mới, thuận lợi là ý thức của người dân tốt hơn, sự trông chờ, ỷ lại giảm đi. Người dân cố gắng phấn đấu thoát nghèo và làm giàu chính đáng”.

Với quyết tâm xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc thiểu số, đến nay bộ mặt nông thôn của Kon Plông, một trong những huyện khó khăn nhất tỉnh Kon Tum đã có những thay đổi vượt bậc. Hiện 9 xã, thị trấn của huyện đều có đường ô tô đi được 2 mùa mưa nắng. Trên 95% đường liên thôn, nội thôn, đường đi khu sản xuất được cứng hóa. Tất cả các thôn, làng trong huyện đều có điện lưới quốc gia. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 15%. Thu nhập, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó, tư duy trong lao động sản xuất của bà con ngày càng tiến bộ.

Cao Nguyên

(TTXVN)
Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Sắc màu nhộn nhịp nơi chợ vùng cao Tuyên Quang

Giữa núi non trùng điệp của Tuyên Quang, những phiên chợ vùng cao hiện lên như bức tranh sống động, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc.

Không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, chợ còn là không gian gặp gỡ, giao lưu, nơi lưu giữ những phong tục, tập quán và nét sinh hoạt mộc mạc, chân tình của đồng bào, tạo nên sức hút riêng cho du lịch vùng cao.

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Khơi thông nguồn lực kinh tế biên mậu vùng Tây Nam của Tổ quốc

Nằm ở cửa ngõ Tây Nam đất nước, An Giang không chỉ gánh vác sứ mệnh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng mà còn là “cầu nối” chiến lược trong dòng chảy hội nhập quốc tế. Với đường biên giới dài gần 150km, tỉnh vừa giữ vững từng tấc đất biên cương, vừa phát triển kinh tế biên mậu, nâng cao đời sống người dân vùng biên, xây dựng vùng biên giới thành “phên giậu” vững chắc của Tổ quốc.

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Bàn giao 5 công trình dân sinh, sẻ chia khó khăn với người dân biên giới

Nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026), ngày 30/4, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Bộ đội Biên phòng Quảng Trị) đã tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và phối hợp với nhóm thiện nguyện “Vì nụ cười trẻ thơ” thành phố Hải Phòng bàn giao 5 công trình giếng khoan phục vụ dân sinh cho người dân trên địa bàn xã Hướng Phùng.

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Hiệu quả trong ứng dụng công nghệ trong cảnh báo cháy rừng

Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết trong mùa khô, việc ứng dụng công nghệ vào quản lý, bảo vệ rừng đang trở thành giải pháp quan trọng. Tại Hạt kiểm lâm Sìn Hồ, Chi cục Kiểm lâm Lai Châu, hệ thống quan trắc, cảnh báo cháy rừng sớm đã phát huy hiệu quả, giúp lực lượng kiểm lâm chủ động hơn trong phát hiện và xử lý các điểm cháy.

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Đổi thay trên vùng đất Ô Lâm anh hùng

Nằm giữa lòng vùng Bảy Núi huyền thoại, xã Ô Lâm (tỉnh An Giang) hôm nay không chỉ là bản hùng ca bất tử về tinh thần “kiên cường bám trụ, giữ vững núi Tô”, mà còn là minh chứng sống động cho sự hồi sinh kỳ diệu từ tro tàn chiến tranh. Tựa lưng vào những địa danh lịch sử lừng lẫy, vùng đất căn cứ cách mạng năm xưa đang chuyển mình mạnh mẽ trong vận hội mới, viết tiếp chương sử ấm no trên hành trình xây dựng nông thôn mới trù phú, an lành.

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Phát huy hiệu quả mô hình lúa gạo sạch theo chuỗi liên kết

Mô hình liên kết sản xuất lúa gạo sạch tại xã Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã chứng minh một điều, khi nông dân, doanh nghiệp và địa phương cùng tham gia, hạt lúa có thêm cơ hội nâng cao giá trị. Quy trình canh tác an toàn, đầu ra ổn định, lợi nhuận tăng là những yếu tố triển vọng để nhân rộng trong thời gian tới.

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

‘Bảo mẫu’ cho đàn voi giữa đại ngàn Buôn Đôn

Mùa khô ở Tây Nguyên, giữa nắng như thiêu như đốt trong rừng khộp Buôn Đôn, nài voi của của Trung tâm Bảo tồn voi, cứu hộ động vật và quản lý bảo vệ rừng tỉnh Đắk Lắk vẫn rong ruổi cùng những chú voi đi tìm kiếm nguồn nước, thức ăn và chăm sóc sức khỏe cho voi.

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

'Bạch mã' giúp người dân miền núi xứ Lạng làm giàu

Chăn nuôi ngựa, nhất là ngựa bạch những năm gần đây đang phát triển mạnh ở các địa phương tại tỉnh Lạng Sơn. Vật nuôi này mang lại hiệu quả kinh tế cao, giúp đồng bào các dân tộc xứ Lạng ổn định cuộc sống, nhiều hộ vươn lên làm giàu...

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Nơi chắp cánh ước mơ cho học sinh vùng cao biên giới Lai Châu

Không còn bó hẹp trong những chiếc bảng đen, phấn trắng truyền thống, những tiết học tại Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Trung Chải (xã Pa Tần, tỉnh Lai Châu) giờ đây trở lên sinh động từ những màn hình tương tác thông minh.

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Sớm di dời người dân vùng nguy cơ sạt lở đến nơi an toàn

Thực hiện Đề án “Sắp xếp ổn định dân cư khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất tại các huyện miền núi giai đoạn 2021-2025,” đến nay tỉnh Thanh Hóa đã sắp xếp, vận động được 574 hộ xây nhà và di chuyển đến nơi ở mới. Tuy nhiên, tới nay vẫn đang còn nhiều hộ dân sống trong vùng nguy cơ sạt lở, các hộ dân sống tại những khu vực này không có đủ kinh phí để di chuyển đến nơi ở mới và luôn phải sống trong tâm trạng bất an khi mùa mưa bão về.

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Người dân vùng cao Thanh Hóa rất cần nước sạch sinh hoạt

Nhiều năm qua, tiêu chí nước sạch luôn giữ vai trò then chốt trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thanh Hóa, tiêu chí này trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh cho người dân. Tuy nhiên, tại khu vực các xã miền núi của tỉnh đang thiếu nhiều công trình cấp nước sạch, nhiều xã đang thiếu nguồn lực đầu tư, gặp khó khăn trong quản lý, vận hành, làm người dân nhiều xã miền núi luôn sống trong cảnh thiếu nước sạch.

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Vùng cao Quảng Trị tập trung chống hạn cứu lúa

Nắng nóng kéo dài khiến nhiều diện tích lúa vụ Đông Xuân ở xã Tuyên Lâm nói riêng, nhiều địa phương miền núi tỉnh Quảng Trị nói chung đối mặt nguy cơ thiếu nước, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cuối vụ.

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Khánh thành điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã tại Lâm Đồng

Ngày 28/4, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 (Bộ Quốc phòng) phối hợp với tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ khánh thành, bàn giao công trình Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới xã Quảng Trực. Đây là hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Xóa bỏ rào cản, 'gõ cửa' nhà dân để hoàn tất thủ tục hành chính

Bằng những cách làm sáng tạo như Chiến dịch “Ngày thứ 7 hành chính lưu động” hay tổ chức các tổ công tác về tận thôn, xóm, chính quyền các địa phương tại tỉnh Quảng Ngãi đang từng bước xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý, thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ, gần dân và sát dân.

 Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Nghị quyết được cụ thể hóa để đánh thức tiềm năng cơ sở

Giữa những dãy núi đá tai mèo trùng điệp, nơi gió hun hút thổi qua từng triền đá xám, Mèo Vạc hôm nay đang chuyển mình bằng một nhịp điệu mới - nhịp điệu của hành động, của đổi thay, bắt đầu từ những nghị quyết được cụ thể hóa ngay từ cơ sở. 

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Đồng hành cùng học sinh vùng khó bước vào kỳ thi lớp 10

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La đang triển khai nhiều giải pháp, từ xây dựng kế hoạch ôn tập thống nhất toàn tỉnh, tổ chức thi thử, hỗ trợ học sinh bán trú đến tăng cường phụ đạo miễn phí, tạo mọi điều kiện để các em tự tin bước vào kỳ thi lớp10 - kỳ thi quan trọng đầu tiên trên hành trình học tập.

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

'Vàng xanh' tạo động lực phát triển kinh tế vùng Tây Côn Lĩnh

Vụ chè xuân Shan tuyết đang vào chính vụ tại các xã vùng cao, vùng biên dưới chân dãy Tây Côn Lĩnh như: Thanh Thủy, Cao Bồ, Lao Chải (Tuyên Quang). Những năm gần đây, cây chè không chỉ mang lại nguồn thu ổn định mà còn trở thành hướng phát triển kinh tế chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững, từng bước nâng cao đời sống cho người dân địa phương.

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Chăm lo cho đoàn viên, người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáng 28/4, tỉnh Lạng Sơn tổ chức phát động Tháng công nhân và Tháng hành động về An toàn vệ sinh lao động năm 2026 với chủ đề: “Công nhân Việt Nam: Đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động”, “Đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả công tác an toàn, vệ sinh lao động trong kỷ nguyên số”.

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Hiện thực hóa mục tiêu 'đi làm thuê - về làm chủ'

Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tỉnh Đồng Tháp đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm đưa lao động đi làm việc hợp pháp ở nước ngoài hiệu quả hơn, qua đó góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân.

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Khai thác tối đa dư địa, bảo đảm nguồn thu thuế xuất nhập khẩu

Hoạt động thương mại biên giới tại tỉnh Lạng Sơn đang có sự gia tăng đáng kể về lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu. Trước yêu cầu tạo thuận lợi thương mại và đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, lực lượng hải quan đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng thu thuế xuất nhập khẩu bền vững và hiệu quả.

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Cần Thơ đưa nông thôn mới đi vào chiều sâu

Theo ông Trần Chí Hùng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2026, thành phố Cần Thơ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận xã hội, sự năng động, sáng tạo, chủ động tham gia trực tiếp của người dân đi vào chiều sâu, hiệu quả, bền vững.