Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới

Kon Plông là huyện vùng III của tỉnh Kon Tum. Toàn huyện có trên 27.000 người, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới hơn 94% và cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn. Thời gian qua, chính quyền và người dân nơi đây đã nỗ lực khắc phục khó khăn, cùng nhau chung tay xây dựng nông thôn mới. Đến nay, huyện Kon Plông đã có 3 xã vùng dân tộc thiểu số đạt chuẩn nông thôn mới.

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới ảnh 1Người dân thôn Đăk Nê, xã Măng Cành, huyện Kon Plông (Kon Tum) phát triển mạnh cây đương quy. Ảnh: baokontum.com.vn 

* Nông thôn mới có đặc thù

Xã Măng Cành có 9/9 thôn là người dân tộc thiểu số Xê Đăng. Trước khi xây dựng nông thôn mới, xã xác định Măng Cành không thể như các vùng thuận lợi khác. Nhìn lại sau một năm được công nhận nông thôn mới, ông Mai Xuân Mậu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Măng Cành cho biết: Đối với Măng Cành, nông thôn mới thực hiện theo tiêu chí đặc thù, không bằng các xã vùng thuận lợi, đồng bằng, vùng phát triển. Cụ thể, Măng Cành là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, người dân có phong tục tập quán riêng. Nhà ở 3 cứng (nền, mái và vách cứng) nhưng với Măng Cành nhà sàn lợp tôn, mái ngói là đặc trưng của người dân. Cùng đó, chính quyền tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng để giúp thuận lợi trong sản xuất, tạo sinh kế cho dân. Là vùng có khí hậu lạnh, chính quyền xây dựng một số mô hình đặc thù phù hợp với thực tiễn và con người nơi đây.

Xác định giao thông là một trong những khâu đột phá, những năm qua, người dân Măng Cành đã tích cực tham gia làm đường giao thông nông thôn, đem lại nhiều khởi sắc cho buôn, làng ở vùng sâu, vùng xa nơi đây. Hàng loạt tuyến đường bê tông vào các làng, khu sản xuất được làm mới với sự hỗ trợ của chính quyền và người dân góp sức, hiến đất, cây trồng. Theo ông A Nghị, Trưởng thôn Đăk Ne, xã Măng Cành: Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, nhà nước hỗ trợ vật tư, vật liệu, dân góp công tham gia làm đường giao thông. Nhờ vậy, thôn Đăk Ne có 3 con đường bê tông mới vào 2 khu sản xuất và khu dân cư. Có đường bê tông, người dân đi lại thuận lợi, sản xuất, lưu thông và bán nông sản được giá hơn.

Trong sản xuất, chính quyền đang thay đổi dần diện tích lúa 1 vụ, mỳ (sắn) bằng mô hình cà phê xứ lạnh, cây dược liệu. Đây là cách để thay đổi cơ cấu cây trồng, đem thu nhập cho người dân. Cùng đó, chính quyền hỗ trợ các loại con giống như lợn, gà, vịt, trâu… vừa tạo thu nhập, vừa cải thiện dinh dưỡng bữa ăn cho người dân. Việc đưa nhiều mô hình, cây, con mới, phù hợp thực tiễn đã tạo được sức bật, giúp người dân tin tưởng vào con đường mà chính quyền và người dân đang chung tay xây dựng.

Khẳng định sự thay đổi tích cực khi xây dựng nông thôn mới, ông A Lễ, Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh làng Kon Chênh cho biết: Nhà nào cũng thi đua lao động sản xuất. Trước đây, khi thời tiết vào mùa mưa, lạnh, nhà nhà đóng cửa, sưởi lửa, uống rượu rồi ngủ. Giờ nhà nhà có cà phê xứ lạnh, nhiều nhà trồng cây dược liệu mang lại thu nhập cao. Cà phê, dược liệu có công ty thu mua, giá ổn định, đảm bảo thu nhập.

Sau một năm được công nhận nông thôn mới, một số chính sách hỗ trợ bị cắt như tiền bán trú, bảo hiểm y tế… Trước thực tế trên, xã Măng Cành đã phối hợp Bảo hiểm xã hội huyện tuyên truyền, vận động để dân hiểu chính sách sau khi được công nhận nông thôn mới. Nhờ vậy, 1/3 người dân trong xã đã tự nguyện tham gia bảo hiểm y tế. Đối với các chính sách với học sinh bán trú, chính quyền huyện đã vận động doanh nghiệp, người dân (góp gạo, rau, củ) cùng chung tay hỗ trợ các em để duy trì các lớp bán trú…

“Về lâu dài, xã kiến nghị Hội đồng nhân dân tỉnh cần ban hành Nghị quyết đặc thù với xã nông thôn mới ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số", ông Mai Xuân Mậu, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Măng Cành cho biết.

Người Xê Đăng ở Kon Tum chung tay xây dựng nông thôn mới ảnh 2Điểm dân cư 57 hộ đồng bào dân tộc thuộc thôn Đăk Lanh, xã Măng Bút, huyện Kon Plông (Kon Tum) chính thức được đóng điện, hòa điện lưới Quốc gia. Ảnh: Dư Toán - TTXVN

* Dân vẫn là chủ thể

Có thể nói, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, cấp ủy, chính quyền xã Măng Cành đã khơi dậy, phát huy được vai trò của người dân. Với Măng Cành, trong điều kiện cuộc sống của gần 2.500 người dân trong xã, với chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số Xê Đăng còn nhiều khó khăn, chính quyền xã xác định khâu đột phát là phải phát huy được nội lực của người dân và trước tiên tập trung vào việc phát triển kinh tế hộ gia đình.

Theo ông Mai Xuân Mậu: “Nhà nước hỗ trợ bằng các chính sách, người dân phải nỗ lực vươn lên để phát huy hiệu quả các chính sách mà Nhà nước mang lại. Việc dân phải thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tự lực vươn lên là quan trọng nhất”. Với quyết tâm của cả hệ thống chính trị cùng sự chung sức, đồng lòng của người dân, giờ đây xã Măng Cành có sự phát triển vượt bậc. Hạ tầng cải thiện, giao thông thuận lợi. “Đường vào khu sản xuất, dân cư, nhà rông thôn được làm mới. Tất cả công trình trên, dân là người hưởng thụ trực tiếp. Nhà nước hỗ trợ, dân làng ai cũng tình nguyện, hưởng ứng”, ông A Nghị, Trưởng thôn Đăk Ne chia sẻ.

Đến nay, nhiều mô hình sản xuất, liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm giữa doanh nghiệp và người dân được hình thành, hoạt động có hiệu quả. Các cây, con giống đem lại hiệu quả thiết thực cho dân. Nhờ vậy, đến cuối năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo của xã Măng Cành giảm xuống chỉ còn 3,5% theo chuẩn nghèo đa chiều.

Ông Đào Duy Khánh, Bí thư Huyện ủy Kon Plông khẳng định: “Xây dựng nông thôn mới đối với vùng khó khăn, nhất là vùng dân tộc thiểu số là nỗ lực rất lớn của hệ thống chính trị và sự ủng hộ của người dân. Đạt chuẩn nông thôn mới đã khó rồi, giữ các tiêu chí càng khó hơn. Lên nông thôn mới, thuận lợi là ý thức của người dân tốt hơn, sự trông chờ, ỷ lại giảm đi. Người dân cố gắng phấn đấu thoát nghèo và làm giàu chính đáng”.

Với quyết tâm xây dựng nông thôn mới ở vùng dân tộc thiểu số, đến nay bộ mặt nông thôn của Kon Plông, một trong những huyện khó khăn nhất tỉnh Kon Tum đã có những thay đổi vượt bậc. Hiện 9 xã, thị trấn của huyện đều có đường ô tô đi được 2 mùa mưa nắng. Trên 95% đường liên thôn, nội thôn, đường đi khu sản xuất được cứng hóa. Tất cả các thôn, làng trong huyện đều có điện lưới quốc gia. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 15%. Thu nhập, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó, tư duy trong lao động sản xuất của bà con ngày càng tiến bộ.

Cao Nguyên

(TTXVN)
Dân tộc Xơ Đăng

Tên tự gọi: Xơ Teng (Hđang, Xđang, Xđeng), Tơ Ðrá (Xđrá, Hđrá), Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng (Xlang), Tà Trĩ (Tà Trê), Châu.

Tên gọi khác: Xê Đăng, Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila.

Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.

Dân số: 169.501 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng. Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau. Chữ viết dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy chục năm.

Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi của Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Hoạt động kinh tế: Một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm làm ruộng theo lối sơ khai: làm đất bằng cách lùa đàn trâu dẫm quần và dùng cuốc đẽo từ gỗ (nay đã có cuốc lưỡi sắt)... Còn lại, kinh tế rẫy đóng vai trò chủ đạo, với công cụ và cách thức canh tác tương tự như những tộc người khác trong khu vực. Chặt cây bằng rìu và dao quắm hay xà gạc, đốt bằng lửa; chọc lỗ để tra hạt giống thì dùng gậy đẽo nhọn hay gậy có lưỡi sắt; làm cỏ bằng loại cuốc con có cán lấy từ chạc cây và cái nạo có lưỡi bẻ cong về một bên; thu hoạch thì dùng tay tuốt lúa. Ngoài lúa, người Xơ Ðăng còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, thuốc lá, dưa, dứa, chuối, mía... Vùng người Ca Dong có trồng quế. Vật nuôi truyền thống là trâu, dê, lợn, chó, gà. Việc hái lượm, săn bắn, kiếm cá có ý nghĩa kinh tế không nhỏ.


Nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Ðrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số nơi người Xơ Ðăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Ðan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng. Họ ưa thích trao đổi vật trực tiếp, nay đã dùng tiền.

Ăn: Người Xơ Ðăng ăn cơm tẻ, cơm nếp với muối ớt và các thức kiếm được từ rừng; khi cúng bái mới có thịt gia súc, gia cầm. Phổ biến là món canh nấu rau hoặc măng lẫn thịt hay cá, ốc và các món nướng. Họ uống nước lã (nay nhiều người đã đun chín), rượu cần. Ðặc biệt rượu được chế từ loại kê chân vịt ngon hơn rượu làm từ gạo, sắn.

Một số nơi người Xơ Ðăng có tập quán ăn trầu cau. Nam nữ đều hút thuốc lá; có nơi, đồng bào đưa thuốc lá nghiền thành bột vào miệng thay vì hút trong tẩu.

Mặc: Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ Ðăng phải dùng y phục bằng vỏ cây. Nay đàn ông thường mặc quần áo như người Việt, áo nữ cũng là áo cánh, sơ mi, váy bằng vải dệt công nghiệp. Vải cổ truyền Xơ Ðăng có nền màu trắng mộc của sợi hoặc màu đen, hoa văn ít và chủ yếu thường dùng các màu đen, trắng, đỏ.

: Người Xơ Ðăng cư trú ở tỉnh Kon Tum và hai huyện Trà My, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam, huyện Tây Sơn, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung (nay phổ biến hình thức tách hộ riêng). Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà rông ở giữa, có nơi dựng lớp lớp ngang triền đất và không có nhà rông. Kỹ thuật làm nhà chủ yếu là sử dụng ngoàm và buộc dây, mỗi hàng cột chạy dọc nhà được liên kết thành một vì cột, mỗi ngôi nhà có một vì cột, mỗi ngôi nhà có hai vì cột.

Phương tiện vận chuyển: Gùi được dùng hàng ngày chuyên chở hầu như mọi thứ trên lưng, mỗi quai khoác vào một vai. Có các loại gùi khác nhau: đan thưa, đan dày, có nắp, không nắp, có hoa văn, không có hoa văn... Nam giới còn có riêng gùi 3 ngăn (gùi "cánh dơi") hoặc gùi gần giống hình con ốc sên. Gùi ở các nhóm Xơ Ðăng có sự khác biệt nhau nhất định về kiểu dáng, kỹ thuật đan.

Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là ông "già làng". Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn. Tuy đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị đối xử hà khắc. Quan hệ cộng đồng trong làng được đề cao.

Cưới xin: Phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song, phổ biến là cư trú luân chuyển mỗi bên mấy năm, thường khi cha mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Ðám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một mâm cơm... để tượng trưng sự kết gắn hai người. Không có tính chất mua bán trong hôn nhân.

Ma chay: Cả làng chia buồn với tang chủ và giúp việc đám ma. Quan tài gỗ đẽo độc mộc. Những người chết bình thường được chôn trong bãi mộ chung của làng. Lệ tục cụ thể không hoàn toàn thống nhất giữa các nhóm. Không có lễ bỏ mả như người Ba Na, Gia Rai... Tục "chia của" cho người chết (đồ mặc, tư trang, công cụ, đồ gia dụng...) phổ biến.

Thờ cúng: Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các "thần" hay "ma" được gọi là Kiak (Kia) hoặc "Ông", "Bà", chỉ một số nơi gọi là "Yàng". Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước... Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con "lươn" khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Lễ tết: Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành... Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ có đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày.

Lịch: Cách tính lịch một năm có 10 tháng, gắn với một chu kỳ làm rẫy, sau đó là thời gian nghỉ sản xuất kéo dài cho đến khi bước vào vụ rẫy mới. Mỗi tháng 30 ngày. Trong ngày được chia ra các thời điểm với tên gọi cụ thể. Phân biệt ngày tốt, ngày xấu, ví dụ: ngày cuối tháng nếu trồng ngô sẽ nhiều hạt, chặt tre nứa dùng sẽ không bị mọt...

Văn nghệ: Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ (đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ kloongbút, trống, chiêng, cồng, tù và, ống gõ, giàn ống hoạt động nhờ sức nước...). Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia. Truyện cổ Xơ Ðăng phong phú và đặc sắc.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Xơ Đăng

Có thể bạn quan tâm

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thủ tục hành chính ở vùng biên Đồng Nai

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong thủ tục hành chính ở vùng biên Đồng Nai

Ở xã biên giới Đăk Ơ (thành phố Đồng Nai) nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 40%, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã đang từng bước đổi mới để phục vụ người dân tốt hơn. Từ việc thành lập các tổ hỗ trợ tận thôn đến áp dụng nguyên tắc “6 rõ” rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ quy trình, rõ thời gian, rõ kết quả, chính quyền địa phương nỗ lực công khai, minh bạch quy trình thủ tục.

Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ bản lĩnh, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới

Xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ bản lĩnh, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu thời kỳ mới

Ngày 30/7, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang tổ chức Đại hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội đã bầu và ra mắt Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang khóa I, nhiệm kỳ 2026-2031 gồm 11 thành viên, bầu các chức danh theo quy định. Ông Tạ Bá Hương được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Tuyên Quang khóa I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Mưa lớn tại Lào Cai gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Mưa lớn tại Lào Cai gây thiệt hại hơn 8,6 tỷ đồng

Đợt mưa lớn từ chiều 27 đến sáng 30/7 đã gây thiệt hại tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Theo thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, đến sáng 30/7, mưa lũ đã ảnh hưởng đến 20 xã, phường gây thiệt hại lớn về nhà ở, sản xuất và hạ tầng giao thông, với tổng giá trị ước trên 8,64 tỷ đồng.

Đấu giá tại vườn giúp sầu riêng bán đúng giá trị

Đấu giá tại vườn giúp sầu riêng bán đúng giá trị

Lần đầu tiên tại tỉnh Đắk Lắk, các phiên đấu giá sầu riêng ngay tại vườn được tổ chức, nằm trong khuôn khổ Lễ hội Sầu riêng năm 2026. Phương thức tiêu thụ hoàn toàn mới này không chỉ mang về thêm hàng tỷ đồng cho người nông dân, mà còn cắt đứt khâu trung gian, tạo dựng niềm tin bền vững giữa doanh nghiệp xuất khẩu và người trồng.

Bồi đắp thế hệ nông dân - doanh nhân trẻ năng động, sáng tạo

Bồi đắp thế hệ nông dân - doanh nhân trẻ năng động, sáng tạo

Trong hai ngày 29 - 30/7, tại phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Tỉnh đoàn Lào Cai tổ chức Ngày hội “Thanh niên khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” năm 2026 và Vòng bán kết cuộc thi “Dự án khởi nghiệp thanh niên nông thôn năm 2026” khu vực miền Bắc.

Lâm Đồng quy trách nhiệm người đứng đầu cấp xã nếu để gián đoạn thu gom rác thải

Lâm Đồng quy trách nhiệm người đứng đầu cấp xã nếu để gián đoạn thu gom rác thải

Lãnh đạo UBND tỉnh Lâm Đồng vừa yêu cầu các xã, phường, đặc khu khẩn trương hoàn tất việc lựa chọn, ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Đồng thời quy rõ trách nhiệm của người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra tình trạng chậm trễ, ảnh hưởng đến công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn.

Nhiều diện tích lúa Hè Thu bị hư hại do chuột cắn phá

Nhiều diện tích lúa Hè Thu bị hư hại do chuột cắn phá

Dù nông dân tại một số khu vực thuộc xã, phường phía Đông của tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện nhiều biện pháp phòng trừ chuột cắn phá lúa nhưng đến nay vẫn chưa đạt hiệu quả. Nhiều diện tích lúa trong vụ Hè Thu vì vậy bị hư hại, nguy cơ cao thất thu trong vụ mùa này.

Kết nối nguồn lực trí thức với bài toán phát triển

Kết nối nguồn lực trí thức với bài toán phát triển

Tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi được kết nối với những vấn đề cụ thể của sản xuất, đời sống và quản lý. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với tăng trưởng, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Tuyên Quang phát huy vai trò cầu nối, đưa tiếng nói của chuyên gia, nhà khoa học đến gần hơn với cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân.

Cựu chiến binh miền núi giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi

Cựu chiến binh miền núi giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi

Các mô hình kinh tế hiệu quả của hội viên Hội Cựu chiến binh được duy trì, nhân rộng, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương... Đây là đánh giá được đưa ra tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua "Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi" lần thứ VI, giai đoạn 2021 - 2026”, do Hội Cựu chiến binh tỉnh Lạng Sơn tổ chức chiều 29/7.

Hỗ trợ thanh niên kiến tạo sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số

Hỗ trợ thanh niên kiến tạo sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số

Ngày 29/7, tại phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp với Tỉnh Đoàn Lào Cai tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Khởi nghiệp từ bản sắc địa phương: Cơ hội phát triển sản phẩm OCOP trong kỷ nguyên số”.

Chủ động từ cơ sở để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai

Chủ động từ cơ sở để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai

Tuyên Quang là địa phương có địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều sông, suối và khu vực dân cư nằm xen kẽ các sườn dốc. Mỗi mùa mưa bão, nguy cơ lũ quét, sạt lở đất và ngập úng luôn hiện hữu, tác động trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất.

Sau mưa lớn, Lâm Đồng tập trung khắc phục hạ tầng, ổn định đời sống người dân

Sau mưa lớn, Lâm Đồng tập trung khắc phục hạ tầng, ổn định đời sống người dân

Từ các ngày từ 27- 29/7, mưa lớn đã xảy ra liên tiếp tại Lâm Đồng, chủ yếu vào chiều tối và đêm, gây ngập úng cục bộ, khiến nhiều diện tích nông nghiệp bị hư hại, đời sống người dân ở các địa phương bị ảnh hưởng. Hiện các địa phương đang khẩn trương huy động lực lượng, phương tiện khắc phục hậu quả mưa lũ, hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống và sản xuất.

Sức sống mới trên khu dân cư biên giới

Sức sống mới trên khu dân cư biên giới

Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các lực lượng chức năng, khu dân cư biên giới tổ 10, thôn Đoàn Kết (xã Thiện Hưng, thành phố Đồng Nai) đang từng ngày “thay da đổi thịt”.

Tây Ninh: Tái cơ cấu hệ thống cấp nước nông thôn

Tây Ninh: Tái cơ cấu hệ thống cấp nước nông thôn

Mặc dù tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã đạt 75,74%, song tính bền vững của hệ thống cấp nước vẫn là vấn đề đặt ra khi tỷ lệ hộ sử dụng nước từ các công trình cấp nước tập trung mới đạt 51,53%; nhiều công trình quy mô nhỏ hoạt động chưa hiệu quả, hạ tầng xuống cấp, năng lực quản lý vận hành còn hạn chế. Trước yêu cầu bảo đảm nguồn nước phục vụ đời sống người dân, thích ứng với biến đổi khí hậu và đáp ứng nhu cầu phát triển, tỉnh đang tập trung cơ cấu lại hệ thống cấp nước nông thôn theo hướng tập trung, hiện đại, an toàn và bền vững.

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Giúp học dân sinh vùng dân tộc tự tin bước vào năm học mới

Tại các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Khánh Hòa, thời gian này có rất đông trẻ đến trường để làm quen và học sớm tiếng phổ thông (tiếng Việt) đầu cấp tiểu học. Đây là hoạt động thiết thực, giúp các em khỏi bỡ ngỡ, mạnh dạn giao tiếp, sớm thành thạo kỹ năng nghe, nói tiếng phổ thông trước khi bước vào năm học mới.

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Lào Cai tập trung khắc phục thiệt hại do mưa lớn

Do ảnh hưởng của mưa lớn kéo dài từ chiều tối 27 đến ngày 28/7, tỉnh Lào Cai xuất hiện nhiều điểm sạt lở và cuốn trôi hoa màu của nhân dân. Các địa phương tập trung huy động lực lượng khắc phục hậu quả thiên tai gây ra.

Từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến những đổi thay ở vùng biên

Từ mô hình chính quyền địa phương hai cấp đến những đổi thay ở vùng biên

Một năm sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các xã biên giới của tỉnh Tuyên Quang đang ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Từ những địa bàn xa xôi, giao thông cách trở, địa giới hành chính mở rộng sau sáp nhập, nhiều địa phương đã từng bước vượt qua những khó khăn ban đầu để xây dựng bộ máy hoạt động thông suốt, gần dân hơn. Không chỉ nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, mô hình mới còn tạo động lực khai thác tiềm năng, phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững quốc phòng, an ninh vùng biên.

Gỡ bài toán nhân lực y tế cơ sở sau sắp xếp

Gỡ bài toán nhân lực y tế cơ sở sau sắp xếp

Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, số trạm y tế của tỉnh Gia Lai giảm từ 373 xuống còn 135, trong khi quy mô dân số phục vụ của mỗi trạm tăng gần gấp ba lần. Địa bàn quản lý rộng hơn, khối lượng công việc lớn hơn nhưng toàn tỉnh vẫn thiếu gần 500 nhân lực y tế, tạo áp lực lớn đối với hoạt động của hệ thống y tế cơ sở, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Con đường mới nối lại nhịp sống vùng sạt lở

Con đường mới nối lại nhịp sống vùng sạt lở

Cuối tháng 10/2025, do ảnh hưởng của mưa lũ kéo dài, một vụ sạt lở đất nghiêm trọng cuốn theo con đường độc đạo, khiến hàng trăm hộ dân thuộc 4 thôn là Ngọc Nang, Xa Úa, Ngọc Lâng, Tu Răng, xã Ngọc Linh, tỉnh Quảng Ngãi bị cô lập. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp tại hiện trường của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, xã Ngọc Linh được hỗ trợ hơn 20 tỷ đồng; trong đó có hơn 6 tỷ đồng để khắc phục, làm mới con đường dẫn vào các thôn bị cô lập. Đến nay, tuyến đường đã được hoàn thành, giúp bà con yên tâm đi lại trước mùa mưa bão năm 2026.