Về các xã vùng cao Phú Long và Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình những ngày sau Tết Nguyên đán, du khách không chỉ được đắm mình trong không gian xanh mát của đại ngàn mà còn được chứng kiến không khí nhộn nhịp của mùa thu hoạch nhung hươu - loại sản vật đang giúp đồng bào dân tộc Mường nơi đây phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu.
Mùa "lộc" về sau Tết
Khi những cơn mưa xuân bắt đầu thấm đẫm đại ngàn Cúc Phương cũng là lúc các hộ nuôi hươu sao bước vào vụ thu hoạch chính trong năm. Thông thường, mùa lấy lộc hươu kéo dài từ tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch - thời điểm sừng hươu ra lộc non, giàu dưỡng chất nhất. Không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mùa “hái lộc” còn là dịp để người dân giới thiệu sản vật địa phương tới du khách.
Chị Bùi Thị Ánh Tuyết, bản Ao Lươn, xã Phú Long, tỉnh Ninh Bình đã có thâm niên nuôi hươu lấy nhung nhiều năm chia sẻ, thu hoạch nhung hươu (lấy lộc) là nét đẹp văn hóa lao động đặc trưng, mang ý nghĩa may mắn, tài lộc đầu năm tại các vùng nuôi hươu. Cặp nhung non mơn mởn, hồng hào được cắt khéo léo mang lại giá trị kinh tế cao và khởi đầu tốt lành cho gia chủ.
Theo chị Tuyết, việc lấy nhung được thực hiện bởi những đội thợ chuyên nghiệp để đảm bảo an toàn cho vật nuôi và giữ được chất lượng tốt nhất cho sản phẩm. Những thợ cắt nhung lành nghề phải có bàn tay khéo léo để nhung hươu giữ nguyên được hình dáng "yên ngựa" hoặc "nhánh gạc" đẹp mắt. Ngay sau khi cắt, gốc nhung được xử lý bằng thuốc nam gia truyền để cầm máu và giúp hươu nhanh hồi phục. Một nét đặc trưng không thể thiếu trong mùa lấy lộc là tục lệ thưởng thức rượu huyết nhung. Những giọt huyết tinh túy nhất từ gốc nhung vừa cắt được pha trực tiếp vào rượu trắng. Đây được xem là nghi thức chúc phúc, bồi bổ sức khỏe cho các bậc cao niên và khách quý. Trong không gian núi rừng bảng lảng sương, sắc đỏ hồng của chén rượu tạo nên hình ảnh vừa ấm cúng, vừa ấn tượng.
Nghề nuôi hươu không chỉ là sinh kế mà còn trở thành nét văn hóa đặc sắc mỗi độ xuân về. Những cặp "lộc" đỏ hồng, mập mạp chính là thành quả của sự cần cù, chịu khó của người dân nơi đây, góp phần phát triển sản vật địa phương.
Làm giàu từ nghề nuôi hươu
Nghề nuôi hươu không chỉ là nghề truyền thống mà đã trở thành "chìa khóa" giúp nhiều hộ gia đình thay đổi cuộc đời. Việc thành lập các tổ hợp tác và chuỗi liên kết tiêu thụ đã giúp sản phẩm nhung hươu Ninh Bình vươn xa ra thị trường ngoài tỉnh.
Gia đình anh Bùi Ngọc Thành, bản Ao Lươn, xã Phú Long mỗi năm duy trì nuôi từ 10 - 15 con hươu để lấy nhung. Anh cho biết, nuôi hươu không khó, thậm chí so với nhiều loại gia súc khác, hươu còn dễ chăm sóc hơn rất nhiều. Lợi nhuận từ nghề nuôi hươu cao hơn. Hươu cho lộc 1 - 2 lần/năm với số lượng khoảng 7 lạng nhung/con, đặc biệt có những con hươu cho hơn 1kg nhung/năm. Hiện tại nhung hươu được bán tại Ninh Bình có giá từ 1,8 - 2 triệu đồng/lạng. Với đàn hươu của mình, gia đình anh Thành có thể thu về khoảng 150 triệu đồng trong vụ lộc hươu năm nay.
Anh Thành chia sẻ, hươu là loài động vật không đòi hỏi kỹ thuật chăm sóc phức tạp. Thức ăn chủ yếu là lá cây rừng, trong vườn hoặc cỏ voi; vào mùa ra nhung, người nuôi bổ sung thêm tinh bột như ngô, khoai, lạc để nâng cao chất lượng. Mặc dù chi phí con giống ban đầu cao hơn một số vật nuôi khác, nhưng hươu cho thu hoạch lâu dài, ít công chăm sóc, nguồn thức ăn sẵn tại địa phương, mỗi lần thu hoạch có thể mang lại hàng chục triệu đồng. So với nuôi lợn, gà hay trâu, bò, nuôi hươu nhàn hơn và ít rủi ro dịch bệnh. Nhờ đó, nhiều hộ đồng bào dân tộc Mường đã lựa chọn nuôi hươu để phát triển kinh tế, từng bước vươn lên làm giàu.
Theo anh Lương Văn Thụy, Trưởng phòng Kinh tế UBND xã Phú Long, điều kiện đồi rừng của địa phương rất phù hợp phát triển chăn nuôi đặc sản, trong đó có hươu lấy nhung. Thời gian tới, xã tiếp tục khuyến khích người dân mở rộng quy mô, phát triển cả hươu giống và hươu thương phẩm; đồng thời thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao kỹ thuật để nhân rộng mô hình.
Hiện hai xã Cúc Phương và Phú Long có hàng trăm hộ nuôi hươu. Để nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững, địa phương đẩy mạnh xây dựng thương hiệu sản phẩm, hỗ trợ vay vốn cho hộ khó khăn, phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã. Khi đời sống được cải thiện, niềm tin của người dân vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố, góp phần giữ vững ổn định vùng đồng bào dân tộc thiểu số./.