Phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến

Phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến

Sáng 21/7, tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Trần Tuấn Anh đã trình bày chuyên đề giới thiệu về Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến ảnh 1Đồng chí Trần Tuấn Anh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương trình bày chuyên đề: "Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045". Ảnh: Phương Hoa - TTXVN

Đồng chí Trần Tuấn Anh cho biết: Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương, Ban Bí thư đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án tổng kết Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Việc tổng kết được triển khai bài bản, công phu, kỹ lưỡng, khoa học. Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 26-NQ/TW đã trình Bộ Chính trị xem xét, cho ý kiến để trình Ban Chấp hành Trung ương thảo luận, ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. 

Nghị quyết gồm 05 phần: Tình hình; Quan điểm; Mục tiêu, tầm nhìn; Nhiệm vụ, giải pháp; và Tổ chức thực hiện.

Nông nghiệp tiếp tục phát triển cả về quy mô và trình độ sản xuất

Nghị quyết số 19-NQ/TW đã nêu bật những thành tựu to lớn của toàn Đảng, toàn dân ta sau gần 15 năm thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW. Nông nghiệp tiếp tục phát triển cả về quy mô và trình độ sản xuất, duy trì tăng trưởng ở mức khá cao, khẳng định vị thế quan trọng, là trụ đỡ của nền kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia.

Nông nghiệp chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa với quy mô, năng suất và chất lượng ngày càng cao; bảo đảm lương thực, thực phẩm cho gần 100 triệu dân và tăng mạnh xuất khẩu. Giai đoạn từ 2008 đến 2020, tốc độ tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đạt 3,01%/năm, quy mô GDP (theo quy mô điều chỉnh, tính giá so sánh) toàn ngành tăng gấp 1,4 lần. Năng suất lao động nông nghiệp đạt 55,9 triệu đồng/người, gấp hơn 4 lần so với năm 2008. Quy mô xuất khẩu nông sản tăng bình quân 8,01%/năm; năm 2020 đạt 42,34 tỷ đô la Mỹ; năm 2021 đạt 48,6 tỷ USD. Nông sản của Việt Nam có mặt ở 196 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trong hơn 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, đã huy động được nguồn lực lớn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn với tổng vốn đầu tư giai đoạn 2008 - 2020 là 1.567 nghìn tỷ đồng (cho sản xuất nông nghiệp 611 nghìn tỷ đồng, nông thôn 956 nghìn tỷ đồng); trong 5 năm 2016 - 2020 khoảng 942 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 1,9 lần so với 5 năm 2011 - 2015.

Nghị quyết 19 đã đề ra 5 quan điểm phát triển theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh và nhấn mạnh mục tiêu tổng quát là: Nông dân và cư dân nông thôn có trình độ, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng cao, làm chủ quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia, quy mô sản xuất hàng hóa nông sản ngày càng lớn, bảo đảm môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nông thôn phát triển toàn diện, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, môi trường sống an toàn, lành mạnh, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh.

Phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến ảnh 2Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Phương Hoa - TTXVN

Nhấn mạnh vai trò chủ thể của nông dân

Đồng chí Trần Tuấn Anh cho biết, Nghị quyết 19 đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về nâng cao vai trò, vị thế, năng lực làm chủ, cải thiện toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của nông dân và cư dân nông thôn. Đây là điểm mới của Nghị quyết, nhấn mạnh vai trò chủ thể của nông dân và là nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu, có tính quyết định đến sự thành công trong tổ chức thực hiện Nghị quyết. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số, Nghị quyết đề ra các yêu cầu cao hơn trong việc nâng cao trình độ, nhận thức và bảo đảm quyền làm chủ của nông dân; phát huy vai trò của các tổ chức liên quan.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ hai, về phát triển nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững theo hướng sinh thái, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng. Nghị quyết đặt ra yêu cầu phải đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; phát triển mạnh công nghiệp sản xuất giống, vật tư nông nghiệp và cũng đưa ra một số nhiệm vụ cụ thể cho các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp.

Nhóm thứ ba, phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn, Nghị quyết đặt ra 3 nhiệm vụ, giải pháp lớn, đó là: Xây dựng và tổ chức triển khai hiệu quả các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, gắn phát triển nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ. Phát triển toàn diện, đồng bộ kinh tế nông thôn với cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ hợp lý, dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Phát triển mạnh công nghiệp ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc, vật tư phục vụ nông nghiệp. Đầu tư phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề phù hợp với quy hoạch và điều kiện cụ thể tại địa phương.

Bảo tồn, phát triển các ngành nghề, làng nghề, dịch vụ nông thôn, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái. Xây dựng hạ tầng thương mại nông thôn đa dạng, đồng bộ, kết hợp hài hoà giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại, phù hợp với từng địa bàn; nâng cấp hệ thống chợ truyền thống đáp ứng nhu cầu của người dân.

Nhóm thứ tư, về xây dựng nông thôn theo hướng hiện đại gắn với đô thị hóa, Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ, giải pháp xây dựng nông thôn mới với các yêu cầu cao hơn: Xây dựng nông thôn mới phát triển toàn diện, bền vững gắn với đô thị hoá, bảo đảm thực chất, đi vào chiều sâu, hiệu quả, vì lợi ích của người dân. Tiếp tục hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; thực hiện xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu và xây dựng nông thôn mới cấp thôn, bản. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững kinh tế - xã hội khu vực biên giới, biển, đảo, vùng khó khăn...

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn đồng bộ, hiện đại, kết nối với đô thị, nhất là các khu vực ven đô thị lớn, thị trấn, thị tứ, từng bước tiệm cận về điều kiện hạ tầng, dịch vụ của đô thị; đẩy nhanh quá trình hiện đại hoá kết cấu hạ tầng giao thông, chuyển đổi số, văn hoá, giáo dục, y tế; cung cấp nước sạch theo quy chuẩn. Khẩn trương, quyết liệt xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.

Tăng đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước, ưu tiên các vùng khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, phấn đấu không để chênh lệch lớn giữa các vùng. Nâng cao hiệu quả đầu tư, tích hợp một số chương trình đầu tư đang triển khai trên địa bàn nông thôn vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Nhóm thứ năm, về hoàn thiện thể chế, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Nghị quyết đưa ra các nhiệm vụ giải, pháp trọng tâm đối với hoàn thiện chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; phát triển thị trường tài chính, tín dụng vi mô, các sản phẩm dịch vụ tài chính mới với các nội hàm chủ yếu sau: Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật đất đai bảo đảm quản lý, sử dụng bền vững, hiệu quả đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ, tập trung, sử dụng linh hoạt, hiệu quả đất lúa. Tăng đầu tư ngân sách nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 cho nông nghiệp, nông thôn ít nhất gấp 2 lần giai đoạn 2011 - 2020. Có cơ chế điều tiết, phân bổ ngân sách bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các địa phương có diện tích đất trồng lúa, đất rừng lớn với các địa phương khác; hỗ trợ nâng cao đời sống của người trồng lúa, trồng rừng.

Phát triển thị trường tài chính, tín dụng vi mô, các sản phẩm dịch vụ tài chính mới, củng cố và mở rộng hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, bảo đảm an toàn, hiệu quả. Khẩn trương hoàn thiện chính sách để mở rộng quy mô, đối tượng tham gia bảo hiểm nông nghiệp, góp phần giảm thiểu rủi ro cho nông dân. Tiếp tục dành nguồn vốn tín dụng ưu đãi, khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; hỗ trợ tín dụng cho hợp tác xã, doanh nghiệp, hộ nông thôn phát triển sản xuất kinh doanh; nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng.

Tiếp tục sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, công ty nông, lâm nghiệp. Hoàn thiện chính sách phát triển trang trại, kinh tế hộ, kinh tế tập thể, liên kết, hợp tác sản xuất kinh doanh; tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp hợp tác xã.

Nhóm thứ sáu, về tạo đột phá trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; đào tạo nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời gian sắp tới. Nghị quyết đưa ra nhiều nội dung mới, trong đó yêu cầu tạo đột phá trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực để thực sự trở thành động lực phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đề ra 4 nhiệm vụ, giải pháp lớn sau: Đổi mới tổ chức và hoạt động, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thân thiện với môi trường; đẩy nhanh chuyển đổi số toàn diện ngành nông nghiệp, xây dựng, hoàn thiện các cơ sở dữ liệu lớn.

Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ công lập, kết hợp đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, thực hiện khoán, đặt hàng sản phẩm khoa học - công nghệ, tạo đột phá về giống cây trồng, vật nuôi.

Hỗ trợ thành lập các vườn ươm công nghệ, trung tâm khởi nghiệp, quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo, các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn. Thúc đẩy liên kết, hợp tác giữa các viện, trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và nông dân. Khuyến khích doanh nghiệp và người dân ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số trong sản xuất kinh doanh và kết nối cung - cầu; đẩy mạnh thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm.

Tạo đột phá trong phát triển nhân lực, đào tạo, nâng cao kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, tận dụng hiệu quả cơ hội Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Đổi mới toàn diện hình thức tổ chức và nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, nhất là lao động trẻ, đáp ứng nhu cầu thị trường.

Nhóm thứ bảy, về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường nông thôn, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, Nghị quyết đặt ra 3 yêu cầu cần thực hiện:

Quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh. Quy hoạch sử dụng đất nông thôn gắn kết với phát triển đô thị, khai thác và phát huy nguồn lực đất đai trong xây dựng, phát triển bền vững kinh tế nông thôn. Thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phòng, chống phá rừng, suy giảm chất lượng rừng; nâng cao chất lượng và trữ lượng rừng; kiên quyết xử lý nghiêm các vi phạm.

Bảo đảm an ninh, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm, bền vững nguồn nước. Khuyến khích phát triển nông nghiệp tuần hoàn, tái sử dụng phụ phẩm, áp dụng công nghệ mới, tiên tiến, thân thiện môi trường.

Cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng tới từng vùng, địa phương; hướng dẫn người dân và doanh nghiệp chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Xây dựng chính sách, lộ trình thực hiện giảm phát thải khí nhà kính, khí metal trong nông nghiệp phù hợp với cam kết quốc tế.

Nhóm thứ tám, về chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế, mở rộng thị trường, thu hút nguồn lực và đẩy mạnh chuyển giao khoa học - công nghệ. Đây là nhóm nhiệm vụ, giải pháp mới được bổ sung thêm so với Nghị quyết 26, trong đó đặt ra các yêu cầu lớn đối với phát triển thị trường; huy động, sử dụng vốn, khoa học - công nghệ và hợp tác quốc tế. Chú trọng phát triển thị trường nông sản trong nước, chủ động khai thác hiệu quả cơ hội từ các Hiệp định thương mại tự do (FTA), giữ ổn định các thị trường truyền thống, mở rộng và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, tránh phụ thuộc vào một số ít thị trường. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, nguồn tài trợ của các nước, các tổ chức và cá nhân nước ngoài. Mở rộng hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ mới, tiên tiến, nhất là công nghệ chế biến, bảo quản, công nghệ giống, công nghệ môi trường, tái sử dụng phụ phẩm. Tăng cường hợp tác quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước, phòng, chống dịch bệnh, ô nhiễm môi trường xuyên biên giới.

Nhóm thứ chín, về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Nông dân và các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp ở nông thôn. Nghị quyết đặt ra yêu cầu đối với cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội.

Nghị quyết số 19 đã xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan Trung ương, địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội trong tổ chức thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW. Ban Kinh tế Trung ương đã xây dựng Dự thảo Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 19-NQ trình Bộ Chính trị xem xét, ban hành để giao nhiệm vụ cho các tổ chức Đảng và cả hệ thống chính trị. Việc Bộ Chính trị có Kế hoạch triển khai Nghị quyết thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng ta về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, khắc phục yếu kém trong việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng - đồng chí Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Quỳnh Hoa

Quỳnh Hoa ((TTXVN))

Có thể bạn quan tâm

Hỗ trợ kinh phí xây nhà ở cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn

Hỗ trợ kinh phí xây nhà ở cho các hộ có hoàn cảnh khó khăn

Chiều 18/9, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh An Giang phối hợp với Hội Nông dân tỉnh tổ chức lễ khởi động dự án hỗ trợ kinh phí xây nhà ở cho 100 hộ nghèo, cận nghèo và hộ có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở trên địa bàn tỉnh.

Mang 'ánh sáng yêu thương' cho bệnh nhân nghèo

Mang 'ánh sáng yêu thương' cho bệnh nhân nghèo

Sáng 18/9, Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo, Người khuyết tật và Bảo vệ Quyền trẻ em tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Bệnh viện Mắt Sài Gòn Bình Thuận, phường Hàm Thắng (Lâm Đồng) tổ chức khám sàng lọc, điều trị và phẫu thuật mắt miễn phí cho người có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.

Đưa chăm sóc sức khỏe chủ động đến người dân vùng cao

Đưa chăm sóc sức khỏe chủ động đến người dân vùng cao

Thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”, tỉnh Sơn La đang khẩn trương triển khai chương trình khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí cho gần người dân, nhất là ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Đẩy nhanh tiến độ số hóa hồ sơ đảng viên điện tử

Đẩy nhanh tiến độ số hóa hồ sơ đảng viên điện tử

Thực hiện chỉ đạo của Ban Tổ chức Trung ương, cấp ủy các địa phương trong tỉnh Lào Cai đang khẩn trương triển khai số hóa, tạo lập hồ sơ đảng viên điện tử bảo đảm yêu cầu “Đúng - Đủ - Sạch - Sống - Thống nhất - Dùng chung”.

Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ y tế trường học

Nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ y tế trường học

Quan tâm đến sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và tầm vóc của thế hệ trẻ, tỉnh Tây Ninh đã triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đi chiến lược nhằm nâng cao chất lượng y tế trường học, xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, đáp ứng kịp thời các mục tiêu quốc gia và phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương.

Ấm áp không khí Trung thu cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Ấm áp không khí Trung thu cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Nhân dịp Tết Trung thu năm 2026, ngày 17/9, các hoạt động chăm lo, vui chơi dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được tổ chức tại nhiều địa phương, từ khu vực biên giới đến các địa bàn tập trung đông công nhân, người lao động.

Lâm Đồng di dời 78 hộ dân vùng sạt lở đến nơi an toàn

Lâm Đồng di dời 78 hộ dân vùng sạt lở đến nơi an toàn

Mưa lớn kéo dài trong những ngày qua khiến tình trạng sụt lún, nứt đất tại thôn Đắk Snao, xã Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng diễn biến phức tạp. Trước nguy cơ sạt trượt tiếp tục xảy ra, chiều 17/9, chính quyền địa phương đã khẩn cấp di dời 78 hộ dân với 450 nhân khẩu đến nơi an toàn.

Chủ động '4 tại chỗ' trong phòng chống thiên tai

Chủ động '4 tại chỗ' trong phòng chống thiên tai

Bước vào mùa mưa lũ, xã Liên Sơn, tỉnh Lào Cai khẩn trương rà soát các khu vực có nguy cơ sạt lở, ngập úng; đồng thời triển khai đồng bộ các phương án ứng phó theo phương châm “4 tại chỗ” nhằm bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân.

Bảo đảm bữa trưa cho hơn 8.000 học sinh vùng biên Tây Ninh

Bảo đảm bữa trưa cho hơn 8.000 học sinh vùng biên Tây Ninh

Hơn 8.000 học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền tỉnh Tây Ninh sẽ được hỗ trợ tổng cộng 240.572 kg gạo trong học kỳ I năm học 2026-2027. Ngành Giáo dục và các địa phương trong tỉnh đang tập trung thực hiện việc tiếp nhận và phân bổ gạo từ nguồn dự trữ quốc gia theo Nghị định số 339/2025/NĐ-CP của Chính phủ, nhằm đưa chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa đến đúng đối tượng, đúng định mức, hạn chế thất thoát, lãng phí.

Mở lối để đồng bào Khmer vươn lên thoát nghèo

Mở lối để đồng bào Khmer vươn lên thoát nghèo

Với khoảng 400.000 người dân tộc Khmer, chiếm khoảng 8% dân số toàn tỉnh, An Giang xác định chăm lo đời sống, hỗ trợ sinh kế, đầu tư hạ tầng và bảo tồn bản sắc văn hóa là những nhiệm vụ quan trọng trong công tác dân tộc.

Giảm thiệt hại thiên tai ở Miền Trung - Tây Nguyên

Giảm thiệt hại thiên tai ở Miền Trung - Tây Nguyên

Không đợi nước dâng mới lo cứu hộ, không chờ bão lũ qua đi mới khắc phục hậu quả, đó là tinh thần đang được hiện thực hóa ở các địa bàn trọng điểm, thường xuyên hứng chịu thiên tai như Quảng Trị, Huế và Đắk Lắk. 

Xây dựng văn hóa công sở vì nhân dân phục vụ

Xây dựng văn hóa công sở vì nhân dân phục vụ

Với phương châm lấy người dân làm trung tâm phục vụ, các địa phương trên địa bàn tỉnh Lào Cai đang từng bước xây dựng môi trường công sở văn minh, đội ngũ cán bộ, công chức trách nhiệm, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết công việc và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

Lào Cai đẩy nhanh tiến độ thi công công trình phòng chống thiên tai

Lào Cai đẩy nhanh tiến độ thi công công trình phòng chống thiên tai

Các địa phương trong tỉnh Lào Cai đang đẩy nhanh tiến độ sửa chữa, khắc phục các công trình hạ tầng bị hư hỏng do thiên tai, tập trung vào giao thông, trường học và công trình phòng chống mưa lũ, nhằm sớm bảo đảm an toàn, phục vụ đi lại, học tập, sản xuất và đời sống người dân.

Mưa lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống giao thông tỉnh Lào Cai

Mưa lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống giao thông tỉnh Lào Cai

Thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai, do ảnh hưởng của mưa lớn từ ngày 15 đến 14 giờ ngày 16/9, tỉnh Lào Cai có 5 ngôi nhà bị sạt lở, nhiều diện tích hoa màu, thủy sản bị ảnh hưởng. Đặc biệt, hệ thống giao thông trên địa bàn bị ảnh hưởng nghiêm trọng với nhiều vị trí sạt lở.