Cụ thể, Đoàn công tác do Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ Nguyễn Tuấn Anh làm trưởng đoàn đã tới thăm và chúc mừng giáo viên, học sinh tại Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Mỹ Tú (xã Mỹ Tú).
Gửi lời chúc mừng lễ Sene Dolta đến tập thể nhà trường, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ Nguyễn Tuấn Anh nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác giáo dục vùng đồng bào dân tộc; bày tỏ kỳ vọng các thầy, cô giáo tiếp tục phát huy truyền thống, nâng cao chất lượng giảng dạy, đồng thời động viên các em học sinh luôn chăm ngoan, nỗ lực học tập.
Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ khẳng định, bên cạnh định hướng phát triển kinh tế, công tác an sinh xã hội cho đồng bào các dân tộc luôn được thành phố đặc biệt quan tâm.
Cũng trong khuôn khổ chuyến công tác, đoàn đã đến thăm và chúc mừng tại chùa Bâng Kok và chùa Pô Pus Tức thuộc xã Mỹ Hương; qua đó, khẳng định sự quan tâm của lãnh đạo thành phố Cần Thơ đối với các cơ sở tôn giáo - nơi gìn giữ không gian sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng thiêng liêng của đồng bào Khmer.
Tại các điểm đến, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ Nguyễn Tuấn Anh gửi lời chúc mừng lễ Sene Dolta đến các vị chức sắc, ban quản trị chùa cùng toàn thể đồng bào phật tử Khmer. Nhân dịp này, ông cũng thông tin về những kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ. Ghi nhận và đánh giá cao sự đóng góp của các cơ sở tôn giáo vào sự phát triển chung, lãnh đạo thành phố mong muốn các chức sắc, ban quản trị cùng bà con tiếp tục đồng hành cùng địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh trật tự.
Đoàn công tác thành phố Cần Thơ đến thăm và chúc mừng Lễ Sene Dolta tại Chùa Bâng Kok (xã Mỹ Hương).
Thượng tọa Lil Huyền, Trụ trì chùa Bâng Kok bày tỏ sự trân trọng trước sự quan tâm của lãnh đạo thành phố. Chia sẻ niềm vui trước những đổi mới và sự khởi sắc trong đời sống của đồng bào, Thượng tọa khẳng định sẽ tiếp tục động viên phật tử phát huy truyền thống đoàn kết, tích cực đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển địa phương.
Cùng ngày, đoàn công tác do Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Cần Thơ Lê Nguyễn Sinh Nhựt dẫn đầu đã đến thăm, chúc mừng tại chùa Bâng Kha Don (ấp Đại Úi) và Chùa Đay Ta Suốt (ấp Sóc Xoài) tại xã Mỹ Hương.
Lễ Sene Dolta của đồng bào Khmer năm 2026 diễn ra trong 3 ngày (từ 10 - 12/10). Đây là một trong những dịp lễ truyền thống quan trọng nhất của đồng bào Khmer Nam Bộ, mang ý nghĩa tri ân tổ tiên, hướng về cội nguồn và làm phước theo tinh thần Phật giáo Nam tông.
Chuỗi hoạt động thăm hỏi khẳng định sự quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo thành phố Cần Thơ đối với việc gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa, tín ngưỡng tốt đẹp của đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn