Rối Đầu gỗ

Rối Đầu gỗ
Hàng năm, từ ngày 20 đến 22 tháng Giêng, chùa Đại Bi ở xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định lại mở hội. Trong ba đêm hội này, duy nhất ở đây có một màn trình diễn hát và múa rối hầu thánh trong nội tự. Chính vì thế, các đầu rối ở đây mới có nguồn gốc bí ẩn và được gọi là “Thánh tượng”. Đây là trò múa rối độc đáo bậc nhất trong các trò rối cạn ở Việt Nam, cũng là trò kịch nghệ dân gian có nguồn gốc nhiều bí ẩn chưa được giải thích, tên chữ gọi là trò Ổi lỗi, hay còn được gọi là Rối Đầu gỗ...

Múa rối hầu Thánh tức là múa cho Thánh xem, Thánh ở đây chính là Thiền sư Từ Đạo Hạnh - vị Thánh tổ được thờ ở chùa, là một trong “ngũ đại thiền sư” dưới thời nhà Lý, mà tương truyền ông là tổ sư của nghệ thuật múa rối Việt Nam. Những ngôi chùa gắn với sự tích về ông cũng đều là nơi phát tích nghệ thuật múa rối như chùa Bi, chùa Láng (Hà Nội), chùa Thầy (Hà Nội).

Xung quanh sự ra đời của rối đầu gỗ có nhiều huyền tích, nhưng cho đến nay người dân vẫn chỉ truyền miệng nhau thế chứ chưa có thuyết nào là chắc chắn cả. Có thuyết kể rằng khi du hành từ đất Phật trở về, đức Từ Đạo Hạnh có vớt được một cái bọc nhấp nhô trên mặt nước, mở ra thì trong đó có 6 quái thai. Thánh Từ đã mang về nuôi dưỡng, cảm hoá và trở thành những người có ích cho đời, cũng từ đó đặt làm tích trò múa rối. Cũng có thuyết kể rằng có 12 ông thần Sóng dâng nước ngập lụt hại dân, đức thánh Từ ra tay làm phép thu phục được sáu ông, còn sáu ông khác bị đuổi ra biển, qua đó đức thánh Từ đặt ra tích trò rối là sáu ông thần Sóng múa trên mặt nước… Thuyết cuối cùng cho rằng sáu đầu tượng rối chính là đại diện cho ngần ấy “đức” của người quân tử: Liêm, Sỉ, Trí, Tín, Hiếu, Nghĩa... Bởi thế, tích trò Ổi lỗi ở chùa Bi không dừng lại là loại hình nghệ thuật, mà nó còn mang đậm màu sắc văn hóa tâm linh được nguời nơi đây tôn kính và thờ phụng.

Yếu tố làm nên sức sống và linh hồn của lễ hội rối cạn chùa Bi là những đầu rối gỗ, hay còn gọi là “Thập nhị thánh tượng” gồm sáu tượng rối lớn và sáu tượng rối nhỏ. Sáu đầu tượng cùng cỡ làm bằng gỗ phủ sơn ta, vẽ mày vẽ mặt rất đẹp gọi là “sáu ông Lộng”. Mỗi đầu tượng này có cán cầm tay ở gáy tượng, dài khoảng 40cm, đường kính lòng 30cm, nặng khoảng 3kg/đầu. Trong sáu đầu tượng này thì chia ra làm 3 cặp: Đôi “chúa Lộng” mặt đỏ, miệng rộng có râu ria, tượng trưng cho vẻ chính nhân quân tử; đôi “cóc vàng” sơn mặt màu hồng nhạt, tượng trưng cho nền nông nghiệp lúa nước; đôi “Tùy trắng”, hai pho này mặt sơn trắng, mũi rất to, miệng rất rộng, tượng trưng cho sự phồn thực sinh sôi nảy nở. Sáu đầu tượng nhỏ hơn làm bằng gỗ đặc, dài khoảng 30cm, nặng khoảng 1kg/tượng. Gồm: Hai pho tượng Tiên; một tượng Chàng; một tượng Hậu; một tượng ông Mách, và cuối cùng là tượng ông Chớp. Những tượng này đội mũ hoặc vấn tóc theo lối cổ, chân dung cũng rất tươi tỉnh.
 

Nếu như các con rối của các kiểu rối cạn khác gọi là “quân trò” hay “con trò” thì rối Đầu gỗ chùa Bi được gọi là “Thánh tượng”. Bởi bình thường tượng được đặt sau gian chính thờ Phật trong chùa, có thờ cúng, hương nhang, và tương truyền bộ Thánh tượng này không dưới 200 năm tuổi. Mỗi khi lấy tượng ra biểu diễn các cụ phường rối phải áo the khăn xếp, thắp hương cúng lễ cẩn thận. “Áo mặc” cho “thánh tượng” gọi là “the”, vừa là phủ từ cổ tượng trở xuống, vừa che tay người cầm luôn.

Nhạc cụ của buổi trình diễn thuần túy là dùng bộ gõ, gồm 2 cái mõ làm bằng gốc tre; 1 trống bảng (đường kính mặt khoảng 40cm, gõ bằng mảnh nứa chứ không phải bằng dùi); 2 trống cơm; 2 thanh la; 1 trống cái để gõ cầm canh chuyển làn điệu; 1 chuông đẩu và 1 trống thày bói dùng để gõ theo trống cái. Khi hát thì có hai người hát, phải khoanh tay mà hát. Tuy chỉ có một bộ gõ thôi, nhưng tới 26 bài ca, 32 làn điệu rất phong phú và phức tạp tinh kỳ (có một bài cuối cùng là bài Dâng Phú, đến màn này là bài văn ca có nhiều tên “húy” của các thánh. Do vậy không được ghi ra giấy, các ông trùm phường rối quỳ đọc lẩm nhẩm, đánh trống lấp tiếng đi không ai nghe rõ. Bài Dâng Phú chỉ được truyền khẩu riêng cho những người kế nghiệp làm trùm phường).

Sân khấu biểu diễn không hoành tráng, không cầu kỳ mà chỉ đơn giản là một bước rèm che cách điệu hình sóng nước được mắc vào hai cây cột giữa tiền đường trong chùa, người múa rối, người hát, người gõ nhạc cụ đứng sau tấm màn, quay mặt về phía ban thờ Phật và ban thờ Đức Thánh Từ. Người múa cầm “Thánh tượng” giơ tay múa trồi lên trên tấm màn che như nổi lên trên mặt nước, múa từ trái qua phải,…cứ thế những Thánh tượng thay đổi vị trí cho nhau, mỗi làn điệu các Thánh tượng đều có những tư thế khác nhau.
 

Nhạc cụ của buổi hầu Thánh cũng chỉ thuần tuý là dùng bộ gõ với 2 mõ làm bằng gốc tre; 1 trống bảng; 2 trống cơm; 2 thanh la; 1 trống cái để gõ cầm canh chuyển làn điệu; 1 chuông đẩu và 1 trống thày bói dùng để gõ theo trống cái. Tuy chỉ có 1 bộ gõ thôi nhưng có tới 26 bài ca, 32 làn điệu hết sức phong phú, phức tạp hoàn toàn bằng lời Việt cổ. Ca từ biểu diễn khi hát rối Ổi lỗi chủ yếu mang nội dung nói về công lao của đức thánh Từ, ca ngợi đất nước thái bình thịnh trị, vua sáng tôi hiền. Những lời ca mộc mạc trong một số màn hát múa như “dâng Chàng”, “vãn cách”, “dâng chầu chuẩn”… đã thể hiện được tình đoàn kết, đồng tâm nhất trí của cư dân vùng sông nước để chống lại thiên tai địch họa, cầu mong mưa thuận gió hòa... Trong ca từ, làn điệu có rất nhiều từ cổ, để hiểu được nội dung, các nghệ nhân phải dùng từ điển Nôm để tra, song nhiều từ ngay cả từ điển cũng không có, hoặc nhiều từ tối nghĩa không thể dịch ra được.

Trung bình mỗi bài sẽ trình diễn trong khoảng từ 30 – 40 phút. Thời gian biểu diễn dài, đầu rối nặng, nhưng theo quan niệm duy tâm của người dân nơi đây thì đánh rơi đầu rối khi biểu diễn hầu thánh là điều đặc biệt kiêng kị. Nếu phạm phải lỗi này, người đó sẽ bị thần linh quở phạt, vì vậy không ai dám lơ là.

Trước kia, Phường rối Đầu Gỗ được chia 5 mẫu ruộng để cấy, lấy “kinh phí” phục vụ cho luyện tập và biểu diễn. Ngày thường thì ai cũng bận nghề rèn, nghề nông nên không mấy khi họp mặt được, các cụ trùm bèn bàn nhau dịch lời kinh văn từ chữ Hán ra chữ quốc ngữ phát cho mọi người tranh thủ ôn luyện. Việc đánh trống gõ nhạc cũng phải tự tập. Chỉ đến khi chùa Bi cận ngày mở hội thì phường rối mới họp lại để “phối khí”. Hiện nay, hội viên của phường rối chùa Bi bao giờ cũng đảm bảo trên 50 người ở 3 thôn Vân Chàng, Giáp Ba, Giáp Tư với 3 ông trùm đại diện quản lý các thành viên trong thôn. Họ tụ họp với nhau không phân biệt tuổi tác, trình độ, cũng không được trả những khoản thù lao, họ cho rằng được phục vụ trong phường Rối, được nâng thánh Tượng là cả một niềm vinh hạnh, là một việc làm hết sức thiêng liêng, được phục vụ công việc của Thánh, được hầu Thánh, hoặc vì mong muốn có 1 đứa con trai (tương truyền cứ vào phường Rối thì chắc chắn sẽ có con trai).... Ngày thường thì ai cũng bận việc rèn, việc nông nhưng đến gần ngày hội, anh em phường rối dù có bận bịu đến thế nào đi nữa cũng về tụ họp đông đủ để chuẩn bị cho những đêm “phát tấu”. Nếu như xưa kia trai làng nô nức biện lễ để xin vào phường Rối thì nay, cùng với sự phát triển của nhịp sống hiện đại, lớp trẻ không còn mặn mà với truyền thống như trước. Tuy nhiên, 50 thành viên nhưng giờ đây số người có thể đảm nhận được việc biểu diễn 50% chương trình trở lên chưa tới 20 người, còn để đảm nhận được toàn bộ thì gần như không còn ai. Vì ngày càng thưa người kế cận nên nguy cơ mai một là rất gần, chưa nói đến việc học lời, học làn điệu hát hay cách thức múa rối không hề đơn giản, cần phải có thời gian dài và đặc biệt là sự yêu thích tự nguyện với loại hình truyền thống này. Phường Rối hiện có một bộ tượng dự bị chuyên dùng để tập, còn Thập nhị thánh tượng chùa Đại Bi đang được lưu giữ đằng sau nơi thờ tự của chùa. Rối đầu gỗ chùa Bi cũng đã từng “khăn gói đi diễn” ở Thủ đô và được Viện Âm nhạc về ghi hình làm tư liệu. Song có lẽ chừng đó chưa đủ để được gọi là hoạt động quảng bá và bảo tồn trò rối cạn “độc nhất”, mang đậm tính văn hóa, tín ngưỡng này.
Theo thegioidisan.vn

Có thể bạn quan tâm

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Độc đáo nghề làm mão, mặt nạ của đồng bào Khmer

Đó là chủ đề trưng bày chuyên đề do Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Bảo tàng tỉnh Vĩnh Long tổ chức, ngày 11/9. Trưng bày giới thiệu đến công chúng những giá trị đặc sắc của nghề làm mão, mặt nạ truyền thống - di sản văn hóa gắn với đời sống tín ngưỡng và các loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian của đồng bào Khmer.

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Nhịp cầu nối đôi bờ biên giới với những câu chuyện phối hợp và sẻ chia

Tiếng hát “Việt Nam - Trung Hoa” vang lên trong buổi giao lưu tại phường Hà Giang 1, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu cho những câu chuyện giữa cán bộ làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới hai nước. Phía sau những tiết mục văn nghệ, trận bóng bàn và hành trình tìm hiểu các điểm đến của địa phương là một mối quan hệ được bồi đắp bằng nhiều năm phối hợp, chia sẻ và đồng hành.

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Gìn giữ bản sắc văn hóa, tạo động lực phát triển vùng biên

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, tỉnh Lạng Sơn xác định, xây dựng và phát triển nền văn hóa toàn diện, giàu bản sắc, nhân văn, khoa học, hiện đại, trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Khai hội truyền thống Đền Minh Lương

Trong tiết thu dịu mát, tiếng trống khai hội vang lên giữa không gian cổ kính của Đền Minh Lương, xã Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, mở đầu những ngày hội đậm sắc màu văn hóa, tín ngưỡng.

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Đặc sắc Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du

Sáng 6/9 (tức ngày 25/7 âm lịch), tại phường Phan Thiết (tỉnh Lâm Đồng), đoàn Quan Thánh Đế Quân xuất du diễn ra trong sự thích thú của đông đảo người dân địa phương và du khách. Đây là phần hội quan trọng và đặc sắc nhất của Lễ hội Trung Nguyên Kiến Tiêu Nghinh ông Quan Thánh Đế Quân xuất du lần thứ 15 - năm 2026.

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

'Đánh thức' nếp nhà xưa và các giá trị văn hóa bản địa

Nằm nép mình bên những ghềnh đá cổ ven biển Sa Huỳnh, làng Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) đang trở thành điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước nhờ mô hình du lịch cộng đồng gắn liền với việc bảo tồn không gian kiến trúc truyền thống và các giá trị văn hóa bản địa.

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Thắt chặt tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân khu vực biên giới Việt Nam - Lào

Từ ngày 31/8 - 2/9, tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế Lóng Sập, xã Lóng Sập diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch thu hút đông đảo du khách và nhân dân biên giới Việt Nam và Lào tham gia. Đây là sự kiện trong chuỗi hoạt động thuộc Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, do Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức.

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Rộn ràng Tết Độc lập ở các bản làng vùng cao Điện Biên

Tết Độc lập 2/9 không chỉ rộn ràng ở các đô thị mà còn lan tỏa đến những bản làng vùng cao Điện Biên. Trong sắc cờ đỏ, đồng bào các dân tộc khoác lên mình trang phục truyền thống, hòa vào các hoạt động văn hóa, vui hội và đón du khách, cùng lan tỏa niềm tự hào về quê hương, đất nước.

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu: Trích đoạn Lễ hội Gầu tào văn hóa dân tộc Mông chào mừng Tết Độc lập

Trong khuôn khổ các hoạt động chào mừng Tết Độc lập năm 2026, ngày 2/9/2026, tại Không gian văn hóa Mông thuộc sân vận động xã Than Uyên, Bảo tàng tỉnh Lai Châu phối hợp với UBND xã Than Uyên tổ chức trình diễn cúng cây nêu trích đoạn trong Lễ hội Gầu tào của dân tộc Mông. Đây là một trong những điểm nhấn đặc sắc, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương đến tham quan, trải nghiệm. 

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Gần 3.000 người tham gia giải chạy “Đón bình minh trên biển” vào sáng 2/9

Sáng 2/9, tại Quảng trường Tháp Nghinh Phong (phường Tuy Hòa), Giải chạy Tuy Hòa bán marathon 2026 “Đón bình minh trên biển” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk tổ chức đã hoàn thành các phần thi. Giải có sự tham gia của gần 3.000 vận động viên, xuất phát vào lúc 4 giờ sáng 2/9 với hành trình đi qua các tuyến đường ở phường, kết nối các địa điểm du lịch như Tháp Nghinh Phong, Tháp Nhạn và khu vực biển Tuy Hòa.

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Lai Châu chào mừng Tết Độc lập

Sáng 2/9/2026, tại Sân vận động xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu diễn ra Lễ thượng cờ chào mừng Tết Độc lập năm 2026 với sự tham gia của hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, học sinh, nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu cùng du khách. Sau lễ thượng cờ là các hoạt động múa sạp, diễu hành đường phố mang đậm sắc màu văn hóa các dân tộc vùng cao Lai Châu.

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu

Nằm trong chuỗi các hoạt động Tuần Văn hóa - Du lịch Mộc Châu năm 2026, tối 1/9, tại Quảng trường 8/5 (phường Mộc Châu), tỉnh Sơn La tổ chức Chương trình nghệ thuật với chủ đề "Mộc Châu - Tiếng gọi mùa yêu", chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày "Tết Độc lập" - Quốc khánh 2/9. Chương trình thu hút đông đảo du khách và nhân dân các dân tộc tỉnh Sơn La đến dự.

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Về nơi Tết Độc lập đậm sắc Mường

Trong không khí đón mừng Tết Độc lập 2/9, đồng bào Mường ở Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ lại sum họp, tổ chức các hoạt động theo phong tục được duy trì qua nhiều thế hệ. Từ bữa cơm đoàn tụ, những món quà biếu cha mẹ đến bánh uôi, tiếng chiêng, lời hát đối, những phong tục ấy góp phần tạo nên nét văn hóa đặc sắc trong ngày Tết của đồng bào Mường nơi đây.

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Tiếng nhạc ngũ âm giữ hồn văn hóa Khmer ở An Giang

Với đồng bào Khmer Nam Bộ, nhạc ngũ âm không chỉ góp phần tạo nên không khí trang nghiêm trong các nghi lễ Phật giáo hay rộn ràng trong những lễ hội truyền thống, mà còn là một phần văn hóa được gìn giữ và trao truyền qua nhiều thế hệ. Tại các ngôi chùa Khmer ở An Giang, những lớp học nhạc ngũ âm đang giúp thế hệ trẻ hiểu, yêu và tiếp tục gìn giữ những thanh âm đặc trưng của dân tộc mình.

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Sức trẻ gìn giữ âm nhạc truyền thống Tây Nguyên

Phía Tây của tỉnh Quảng Ngãi là nơi mang đậm nét văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên; trong đó âm nhạc đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của bà con nhân dân nơi đây.