Những ngày này, cùng với người dân toàn tỉnh Lâm Đồng, cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số phía Đông tỉnh đang rộn ràng trước ngày bầu cử. Từ xã Tuy Phong đến các xã Liên Hương, Hồng Thái, Bắc Bình… nơi có đông đồng bào Chăm, Raglai sinh sống, không khí chuẩn bị cho ngày hội lớn của đất nước đang lan tỏa đến từng thôn làng.
Khu vực Tổ bầu cử tại thôn Phan Dũng, xã Tuy Phong (Lâm Đồng), nơi thuần đồng bào Raglai sinh sống đã sẵn sàng cho Ngày bầu cử.
Tuyên truyền sâu rộng
Tại trụ sở thôn Phan Dũng (xã Tuy Phong), bảng niêm yết danh sách cử tri và những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được bố trí tại khu vực rộng rãi tạo điều kiện cho nhiều người dân tra cứu tiểu sử của các ứng cử viên, kiểm tra thông tin thẻ bầu của mình.
Ông Mang Nhu, dân tộc Raglai ở thôn Phan Dũng cho biết: Những ngày qua cán bộ thôn liên tục đến từng hộ dân để thông tin về cuộc bầu cử, nhắc nhở bà con kiểm tra danh sách cử tri và chuẩn bị tham gia bỏ phiếu. Bà con trong thôn háo hức, động viên con em đủ 18 tuổi trở lên đi bầu để thể hiện quyền bầu cử. Ông biết rõ mỗi công dân đều được quyền lựa chọn các đại biểu, nên phải bầu làm sao cho đúng, cho trúng người; mong muốn những đại biểu sau này trúng cử quan tâm nhiều hơn nữa đến nguyện vọng của người dân, để cuộc sống của người dân thêm ấm no, hạnh phúc.
Trưởng thôn Phan Dũng Mang Hiếu cho hay, thôn có đông đồng bào dân tộc Raglai, thuộc đơn vị bầu cử số 5 của xã Tuy Phong, tỉnh Lâm Đồng với 663 cử tri. Để người dân nắm rõ hơn về ngày 15/3 là ngày toàn dân đi bỏ phiếu, lực lượng chức năng trong thôn đã phối hợp tuyên truyền trên Zalo nhóm của Mặt Trận, fanpage của Hội Nông dân động viên bà con đi bầu, gửi gắm tâm tư, nguyện vọng của mình đối với các ứng cử viên.
Trang hoàng cờ hoa rực rỡ tuyên truyền cho ngày bầu cử tại xã Hàm Thuận Bắc (Lâm Đồng), nơi có đông đồng bào Chăm và Raglai sinh sống.
Theo báo cáo của UBND xã Tuy Phong, toàn xã có 6.616 cử tri/9.751 nhân khẩu. Trên địa bàn xã có 2 khu vực bỏ phiếu có đông đồng bào dân tộc thiểu số là các thôn Phan Dũng và Tuy Tịnh 2. Đến nay, công tác tuyên truyền được địa phương thực hiện bằng nhiều hình thức phù hợp. Các cán bộ xã, thôn và các chức sắc tôn giáo, người có uy tín đã tham gia tuyên truyền đến tận tận nhà dân; qua đó đã giúp người dân tộc thiểu số nắm rõ thông tin và sẵn sàng cho ngày bầu cử.
Ông Trần Di Hậu, Phó Chủ tịch UBND xã Tuy Phong chia sẻ: Sau khi nhận được danh sách các ứng cử viên, xã đã chỉ đạo xây dựng chuyên mục, tuyên truyền tóm tắt thông tin của từng đại biểu để phát trên hệ thống loa truyền thanh, đưa lên các trang fanpage. Từ nay đến ngày 15/3, tại các khu đông dân cư như trường học, chợ sẽ được bố trí thêm bảng tuyên truyền và pa-nô để bà con nắm rõ hơn nữa tầm quan trọng của cuộc bầu cử.
Hướng về ngày hội non sông
Cán bộ đến từng nhà tuyên truyền về ngày bầu cử cho cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Bắc Bình (Lâm Đồng).
Trong khi đó tại xã Bắc Bình, nơi có đông đồng bào Chăm sinh sống, người dân cũng đang tất bật chuẩn bị cho ngày hội lớn. Xã có 52.000 nhân khẩu, trong đó, đồng bào dân tộc Chăm chiếm trên 36% dân số toàn xã.
Có mặt tại các thôn thuần đồng bào Chăm của xã Bắc Bình những ngày này, đâu đâu cũng nghe thấy tiếng loa tuyên truyền về cuộc bầu cử. Không chỉ tuyên truyền qua loa phát thanh, các Tổ bầu cử còn trực tiếp phối hợp với người có uy tín, chức sắc trong cộng đồng người Chăm đến từng hộ dân để vận động, giải thích cho bà con hiểu rõ ý nghĩa của cuộc bầu cử, các bước tiến hành bỏ phiếu.
Theo ông Trần Quốc Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã, thành viên Ủy ban bầu cử xã, Bắc Bình là xã có đông đồng bào dân tộc sinh sống, đặc biệt là dân tộc Chăm, do đó bên cạnh việc tuyên truyền thông qua pano, áp phích, hệ thống loa…, chính quyền xã chú trọng tuyên truyền bằng hình thức trực tiếp thông qua các già làng, trưởng bản, những chức sắc tôn giáo, người có uy tín… Việc làm này giúp tuyên truyền sâu đến đồng bào để bà con thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ công dân của mình.
Cử tri vùng đồng bào dân tộc thiểu số xã Bắc Bình (Lâm Đồng) tìm hiểu tiểu sử ứng cử viên trước ngày bầu cử.
Toàn xã Bắc Bình có 36.405 cử tri tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh; 36.261 cử tri tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. Những ngày này, khắp các thôn trong xã đều rộn ràng, cờ hoa rực rỡ. Thông tin về cuộc bầu cử được niêm yết công khai; các buổi tuyên truyền, họp dân được tổ chức thường xuyên. Cử tri quan tâm theo dõi danh sách, tiểu sử của những người ứng cử, đồng thời trao đổi, chia sẻ ý kiến về những vấn đề phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Đối với đồng bào Chăm trên địa bàn, việc tham gia bầu cử không chỉ là thực hiện quyền công dân mà còn là dịp để gửi gắm mong muốn về sự phát triển của quê hương. Sư cả Huỳnh Cứng, một chức sắc người Chăm ở thôn Bình Tiến, xã Bắc Bình chia sẻ: Qua công tác tuyên truyền, bà con người Chăm nhận thức rõ bầu cử không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của mỗi cử tri. Từ đó, lan tỏa không khí phấn khởi, tin tưởng để ngày bầu cử - ngày 15/3 tới - thực sự là ngày hội lớn của toàn dân.
Cử tri vùng đồng bào Chăm thôn Bình Đức xã Bắc Bình (Lâm Đồng) tìm hiểu tiểu sử ứng cử viên trước ngày bầu cử.
Những ngày qua, Sư cả Huỳnh Cứng thường xuyên tham gia các buổi họp thôn, sinh hoạt cộng đồng, tiếp xúc cử tri để nắm bắt thông tin, kiến thức liên quan đến cuộc bầu cử. Là một chức sắc, ông cũng tham gia tuyên truyền đến với người thân của mình trước, rồi đến người dân trong thôn nhớ ngày đi bỏ phiếu và chọn lựa những người có đức, có tài, để sau này khi trúng cử họ thực hiện tốt lời hứa của mình, góp sức cống hiến cho quê hương.
Là người dân tộc Chăm, Bí thư đoàn thanh niên thôn Bình Đức (xã Bắc Bình) Đồng Hữu Thanh hào hứng: Lực lượng thanh niên thực hiện tuyên truyền “đi từng ngõ, gõ từng nhà” cho người dân biết về ngày bầu cử. Ngoài ra, lực lượng đoàn viên sẽ hướng dẫn bà con bỏ phiếu bầu theo đúng quy định trong ngày bầu cử.
Theo ông Trần Quốc Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã Bắc Bình: Công tác tuyên truyền ngày bầu cử tại xã Bắc Bình đến nay đã thực hiện theo đúng quy định. Từ nay đến ngày 15/3, xã sẽ tập trung đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, đặc biệt là tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Địa phương đã đảm bảo theo đúng quy định chung về tiến độ, thực hiện những nội dung liên quan tới công tác bầu cử. Ông tin tưởng ngày 15/3 thật sự là ngày hội của toàn dân.
Không khí chuẩn bị cho ngày bầu cử đang lan tỏa mạnh mẽ. Những buổi hội nghị tiếp xúc cử tri với những người ứng cử, những khẩu hiệu tuyên truyền cho ngày bầu cử, những tiếng loa truyền thanh vang lên mỗi ngày… tất cả đang tạo nên bầu không khí rộn ràng, sẵn sàng cho ngày hội non sông./.
Khu vực Tổ bầu cử tại thôn Lâm Giang, xã Hàm Thuận Bắc (Lâm Đồng), nơi thuần đồng bào Chăm sinh sống đã sẵn sàng cho ngày bầu cử.
Khu vực bỏ phiếu bầu tại thôn Lâm Giang, xã Hàm Thuận Bắc (Lâm Đồng), nơi thuần đồng bào Chăm sinh sống đã sẵn sàng cho ngày bầu cử.
Khu vực bỏ phiếu bầu tại thôn Lâm Giang, xã Hàm Thuận Bắc (Lâm Đồng), nơi thuần đồng bào Chăm sinh sống đã sẵn sàng cho ngày bầu cử.
Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...
Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.
Dân số: 161.729 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).
Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc, Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.
Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.
Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.
Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.
Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.
Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.
Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. Ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niê và Mlô ở dân tộc Ê đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội Ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...
Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.
Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ.
Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.
Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.
Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.
Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.
Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.
Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.
Theo cema.gov.vn
Nhóm địa phương: Rai (ở Hàm Tân - Bình Thuận), Hoang, La Oang (Ðức Trọng - Lâm Ðồng)...
Dân số: 122.245 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Pôlynêxia (ngữ hệ Nam Ðảo). Do có sự tiếp xúc với các dân tộc khác quanh vùng nên ở người Ra Glai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ thông hiện giữ một vai trò quan trọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với những dân tộc cận cư khác.
Lịch sử: Người Ra Glai đã sinh sống lâu đời ở vùng miền Nam Trung bộ.
Hoạt động sản xuất: Nghề làm rẫy luôn chi phối các hoạt động kinh tế khác. Trên rẫy đồng bào trỉa cả lúa, bắp, đậu, bầu bí và cây ăn trái. Rẫy được phát bằng chà gạc, rựa hoặc rìu. Cư dân sử dụng đoạn gỗ ngắn, nhọn đầu để trỉa giống, làm cỏ rẫy bằng chiếc cào nhỏ và thu hoạch lúa bằng tay... Rèn và đan lát là hai nghề thủ công khá phát triển... Chăn nuôi phổ biến với các đàn gia súc, gia cầm gồm trâu, lợn, gà, vịt... Ngày nay cư dân đã biết trồng cấy lúa nước.
Có nhiều cách chế thóc thành gạo: xay, cối giã gạo bằng chân, cối giã gạo bằng sức nước, cối giã gạo bằng chày, tay... Người Ra Glai cũng như các dân tộc Tây Nguyên phổ biến giã gạo bằng chày tay.
Cồng chiêng là nhạc cụ rất phổ biến ở Tây Nguyên và các tỉnh miền Trung. Nam nữ, người già, người trẻ Ra Glai đều say sưa chơi và thưởng thức tiếng cồng chiêng trong các đêm hội.
Ðàn môi là một loại nhạc cụ truyền thống của người Ra Glai, các bộ phận của đàn được làm bằng các chất liệu khác nhau: nhôm, lá đồng, tre, dây đàn, sáp ong. Khi thổi tay phải giữ bệ đàn, thân đàn cho vào môi ngậm, ngón tay trỏ của tay trái gầy vào đầu nốt nhạc.
Ăn: Sáng và chiều là hai bữa ăn chính. Cơm trưa thường được mang lên rẫy. Canh nấu lẫn thịt, cá và các loại rau là món ăn được ưa thích. Ðồ uống gồm nước lã đựng trong vỏ bầu khô và rượu cần. Thuốc lá tự thái, quấn trong vỏ bắp ngô được dùng phổ biến trong các gia đình.
Mặc: Rất khó tìm thấy y phục truyền thống của người Ra Glai. Ngày nay, đàn ông thì mặc quần âu và áo sơ mi, đàn bà mặc váy hoặc quần với áo bà ba. Thời xa xưa, đàn ông nơi đây ở trần, đóng một loại khố đơn giản, không có hoa văn trang trí. Những ngày lễ hội truyền thống, phụ nữ mặc áo dài, phía trên được ghép thành những ô vuông màu đỏ trắng xen kẽ nhau.
Ở: Người Ra Glai ở trong vùng núi và thung lũng có độ cao từ 500-1000m, tập trung ở các huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận), Bắc Bình (Bình Thuận) và một số nơi thuộc Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Ðồng. Trước đây, họ ở nhà sàn. Hiện nay, nhà đất đã khá phổ biến. Những căn nhà thường có dạng hình vuông, chỉ rộng chừng 12-14m2. Một vài nhà lớn hơn, có hình chữ nhật. Kỹ thuật lắp ghép rất đơn sơ, chủ yếu sử dụng chạc cây và dây buộc. Mái lợp bằng tranh hoặc lá mây. Vách được che bằng phên đan hay sử dụng đất trát.
Phương tiện vận chuyển: Như các dân tộc khác trên Trường Sơn - Tây Nguyên, phương tiện vận chuyển của người Ra Glai là gùi. Gùi được đan đơn giản, không hoa văn trang trí. Gùi có các kích cỡ khác nhau, phù hợp với đôi vai của từng người và từng công việc cụ thể.
Quan hệ xã hội: Mỗi làng là nơi sinh sống của nhiều dòng họ. Trong những trường hợp cần thiết "Hội đồng già làng" hình thành dựa trên sự thừa nhận của mọi thành viên trong làng. Mỗi đơn vị cư trú đều có một người đứng đầu, là người có công tìm đất lập làng. Khi nhiều làng cùng sinh tụ trên một vùng rừng núi thì ở đó có một người là chủ núi bên cạnh các chủ làng... Tầng lớp thày cúng cũng đã hình thành. Tuy nhiên, mọi quan hệ xã hội của người Ra Glai trước kia và hiện nay đều chịu sự chi phối của chế gia đình mẫu hệ.
Cưới xin: Tình yêu của trai gái trước hôn nhân được người Ra Glai tôn trọng. Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhiều thủ tục khá phức tạp. Lễ cưới được tiến hành cả ở hai bên gia đình: nhà gái trước, nhà trai sau. Quan trọng nhất trong lễ cưới là nghi thức trải chiếu cho cô dâu, chú rể. Cô dâu, chú rể ngồi trên chiếu này để hai ông cậu của hai bên cúng trình với tổ tiên, thần linh về việc cưới xin. Cũng chính trên chiếc chiếu này, họ ăn chung bữa cơm đầu tiên trước sự chứng kiến của hai họ. Sau lễ cưới, việc cư trú bên vợ đang còn phổ biến.
Sinh đẻ: Trước và sau khi sinh nở, phụ nữ Ra Glai kiêng một số thức ăn, không nói tên một vài loài thú và tránh làm những công việc nặng nhọc. Họ được chồng dựng cho một căn nhà nhỏ ở bìa rừng để sinh đẻ. Họ đẻ ngồi và tự mình giải quyết các công việc khi sinh. Một số nơi, sản phụ được sự giúp đỡ của một người đàn bà giàu kinh nghiệm. Khi sinh xong, người mẹ bế con về nhà và khoảng 7 ngày sau họ tiếp tục làm các công việc như bình thường. Ngày nay, phụ nữ nơi đây đã đến sinh đẻ ở trạm xá, với sự giúp đỡ của các nữ hộ sinh.
Ma chay: Người chết được quấn trong vải hoặc quần áo cũ rồi đặt trong quan tài bằng thân cây rỗng hay quấn bằng vỏ cây là tuỳ theo mức giàu nghèo của gia đình. Người chết được chôn trên rẫy hoặc trong rừng, đầu hướng về phía tây. Khi có đủ điều kiện về kinh tế người ta làm lễ bỏ mả, dựng nhà mồ cho người chết. Quanh nhà mồ được trồng các loại cây như: chuối, mía, dứa và khoai môn. Trên đỉnh nhà mồ còn có hình chiếc thuyền và những chú chim bông lau. Vật dụng thuộc về người chết được phá hỏng, đặt quanh nhà và trong nhà mồ.
Thờ cúng: Người Ra Glai cho rằng có một thế giới thần linh bao quanh và vượt ra ngoài hiểu biết của họ. Các vị thần đều có thể bớt gây tai họa hay trợ giúp họ nếu được cúng tế và thỉnh cầu. Vong linh người chết là lực lượng siêu nhiên gây cho họ nhiều sợ hãi nhất. Cư dân còn tin vào sự linh hoá của các loại thú vật... Vì vậy, hàng năm thường xuyên diễn ra các nghi lễ cúng bái với việc hiến tế để mong thần linh giúp đỡ. Việc cúng tế này đã có sự tham gia của lớp thầy cúng, họ đang dần tách khỏi lao động và coi cúng bái như một nghề nghiệp chính thức.
Lễ tết: Theo chu kỳ sản xuất, người Ra Glai thường tiến hành các nghi lễ khi chọn rẫy, phát và đốt rẫy, gieo trỉa và thu hoạch. Theo chu kỳ đời người, đó là các lễ tiết khi sinh nở, lúc ốm đau, rồi cưới xin, ma chay... Những nghi lễ lớn trong năm thường tập trung vào khoảng tháng 1-2 dương lịch, khi đã thu hoạch rẫy, gồm cả lễ mừng thu hoạch, cưới xin và lễ bỏ mả. Ðây chính là những ngày tết của cư dân vùng này.
Văn nghệ: Ðó là những truyện cổ tích, thần thoại, những làn điệu dân ca, những câu tục ngữ, ca dao... thể hiện tâm tư, tình cảm của cư dân. Ðó cúng còn là bộ nhạc cụ khá phong phú của người Ra Glai. Bộ chiêng đồng đầy đủ với 12 chiếc. Tuy nhiên, có thể sử dụng 4, 6, 7 hay 9 chiếc. Khèn bầu, khèn môi, đàn ống tre khá phổ biến. Người Ra Glai cũng là cư dân biết sử dụng những thanh đá kêu, ghép thành bộ thường gọi là đàn đá, đánh thay chiêng, khá độc đáo và lý thú.
Theo cema.gov.vn