Tỷ phú vùng cao và 'phép màu' từ chăn nuôi động vật đặc sản

Từ niềm đam mê với nông nghiệp và khát vọng phát triển kinh tế trên chính quê hương mình, anh Lưu Duy Đông, dân tộc Tày (xã Vị Xuyên, Tuyên Quang) đã mạnh dạn lựa chọn hướng đi khác biệt khi phát triển mô hình chăn nuôi động vật đặc sản.

trang-trai-dac-san-3.jpg
Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đà điểu trong trang trại.

Sau gần 8 năm kiên trì vượt qua khó khăn, mô hình của anh không chỉ mang lại nguồn thu nhập cao cho gia đình mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế mới tại địa phương.

Trước đây công tác trong ngành Nông nghiệp, anh Lưu Duy Đông sớm nhận thấy tiềm năng của mô hình chăn nuôi đặc sản. Năm 2018, anh bắt đầu khởi nghiệp với số vốn khoảng 80 triệu đồng qua việc mua con giống và dựng chuồng trại.

Những ngày đầu, do thiếu kinh nghiệm thực tế, nhiều vật nuôi mắc bệnh, đặc biệt chim công bị bệnh phân trắng khiến thiệt hại lớn. Không nản lòng, anh chủ động tìm tòi tài liệu, đi nhiều nơi học hỏi kỹ thuật chăn nuôi. Đến năm 2021, anh quyết định nghỉ công tác tại cơ quan nhà nước để tập trung phát triển mô hình kinh tế trang trại của gia đình.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Anh Lưu Duy Đông chia sẻ: Ban đầu làm rất vất vả vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế. Có thời điểm chim công bị dịch bệnh, thiệt hại khá nhiều. Nhưng mình cứ vừa làm vừa học hỏi, theo dõi từng loại vật nuôi để điều chỉnh cách chăm sóc phù hợp. Quan trọng nhất là phải kiên trì và chịu khó tìm tòi kỹ thuật.

Theo anh Đông, mỗi loại vật nuôi đều có đặc tính riêng nên cần chế độ chăm sóc phù hợp. Với gia cầm và chim cảnh, anh sử dụng men vi sinh, bổ sung vitamin và tiêm phòng đầy đủ để tăng sức đề kháng. Đối với nhím và cầy, thức ăn chủ yếu là ngô, rau xanh, hoa quả nhằm đảm bảo chất lượng thịt và sức khỏe vật nuôi.

Từ vài cặp giống ban đầu, đến nay trang trại của anh đã phát triển lên quy mô hàng nghìn con vật nuôi các loại như: chim công, nhím, cầy vòi mốc, cầy hương và gà H'Mông đen. Tổng vốn đầu tư cho hệ thống chuồng trại, đất đai và con giống hiện đã lên tới khoảng 7-8 tỷ đồng.

Đàn công giá trị cao của anh Lưu Duy Đông, dân tộc Tày (xã Vị Xuyên, Tuyên Quang).

Đàn công giá trị cao của anh Lưu Duy Đông, dân tộc Tày (xã Vị Xuyên, Tuyên Quang).

Hiện nay, ngoài nuôi công, anh Đông tập trung phát triển mô hình nuôi nhím thương phẩm và nhím sinh sản với quy mô gần 500 con. Đây là một trong những hướng chăn nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao của trang trại. Với kinh nghiệm nhiều năm và chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp, anh xây dựng quy trình chăm sóc phù hợp, chú trọng chế độ dinh dưỡng tự nhiên bằng ngô, rau xanh, hoa quả để nhím phát triển khỏe mạnh, đạt trọng lượng từ 10-12kg/con sau khoảng 15 tháng nuôi.

Anh cho biết: Hiện mỗi năm trang trại xuất bán hàng trăm con nhím giống và nhím thương phẩm. Nhím nuôi theo hướng tự nhiên nên thịt chắc, chất lượng tốt, đầu ra ổn định. Giá nhím thịt hiện khoảng 300.000 đồng/kg, còn nhím giống khoảng 3 triệu đồng/cặp nên mang lại thu nhập khá ổn định cho gia đình.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc đàn công giá trị cao.

Không chỉ phát triển kinh tế hộ gia đình, anh Đông còn hướng tới xây dựng mô hình liên kết sản xuất với người dân địa phương. Đặc biệt, anh đang triển khai mô hình liên kết nuôi gà H'Mông đen theo hướng vi sinh hữu cơ cho hơn 100 hộ dân trong xã và nhiều địa phương lân cận. Dù mới bắt đầu thực hiện, nhưng cơ sở đã hỗ trợ con giống, hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi và cam kết bao tiêu sản phẩm đầu ra, góp phần mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho bà con địa phương.

Anh Hoàng Văn Sinh, người dân tham gia mô hình nuôi gà H'Mông đen cùng anh Đông cho biết: "Được anh Đông hỗ trợ giống và hướng dẫn kỹ thuật nên gia đình tôi yên tâm hơn trong chăn nuôi. Gà nuôi theo hướng tự nhiên nên dễ chăm sóc, đầu ra cũng ổn định hơn vì có người bao tiêu sản phẩm".

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc nhím sơ sinh trong trang trại.

Anh Lưu Duy Đông chăm sóc nhím sơ sinh trong trang trại.

Không chỉ chú trọng phát triển chăn nuôi, anh Đông còn chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm thông qua các nền tảng mạng xã hội và hệ thống đầu mối kinh doanh trên toàn quốc. Sản phẩm của trang trại được tiêu thụ tại nhiều tỉnh, thành phố, nhiều thời điểm không đủ hàng để cung cấp cho thị trường.

Hiện nay, doanh thu của trang trại đạt khoảng từ 2-3 tỷ đồng/năm, mang lại lợi nhuận ổn định cho gia đình. Bên cạnh đó, trang trại còn tạo việc làm thường xuyên cho hơn 10 lao động với thu nhập bình quân từ 7-10 triệu đồng/người/tháng.

Anh Lưu Duy Đông vệ sinh và chăm sóc đàn nhím thương phẩm trong trang trại.

Anh Lưu Duy Đông vệ sinh và chăm sóc đàn nhím thương phẩm trong trang trại.

Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, anh Đông cho hay, chăn nuôi đặc sản vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro về dịch bệnh, thiên tai và thị trường. Tuy nhiên, với anh điều quan trọng nhất là phải kiên trì, chịu khó học hỏi và làm bài bản thì mới có thể phát triển bền vững.

Từ mô hình nhỏ với số vốn ít ỏi ban đầu, anh Lưu Duy Đông đã từng bước xây dựng thành công trang trại chăn nuôi đặc sản mang lại thu nhập cao. Mô hình hiện thu hút nhiều người dân và địa phương đến tham quan, học tập kinh nghiệm. Anh cũng luôn sẵn sàng chia sẻ kỹ thuật chăn nuôi; đồng thời tiếp tục nghiên cứu, phát triển thêm các loại vật nuôi có giá trị kinh tế cao trong thời gian tới…/.

Dân tộc Tày

Tên gọi khác: Thổ.

Dân số: 1.626.392 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Nhóm địa phương: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao và Pa Dí.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai).

Lịch sử: Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

Hoạt động sản xuất: Người Tày là cư dân nông nghiệp có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thuỷ lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng. Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà. Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả... Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông cho đến nay vẫn còn khá phổ biến. Các nghề thủ công gia đình được chú ý. Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo. Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng.

Ăn: Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi. Trong các ngày tết, ngày lễ thường làm nhiều loại bánh trái như bánh chưng, bánh giày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo... Ðặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã.

Mặc: Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm, hầu như không thêu thùa, trang trí. Phụ nữ mặc váy hoặc quần, có áo cánh ngắn ở bên trong và áo dài ở bên ngoài. Nhóm Ngạn mặc áo ngắn hơn một chút, nhóm Phén mặc áo màu nâu, nhóm Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, nhóm Pa Dí đội mũ hình mái nhà còn nhóm Thổ mặc như người Thái ở Mai Châu (Hòa Bình).

vna_potal_tuyen_quang_gin_giu_nghe_det_tho_cam_cua_nguoi_tay_o_thuong_nong_5693566.jpg
Phụ nữ Tày biết dệt vải, may quần áo từ khi mới 13-14 tuổi. Ảnh: Nam Sương - TTXVN

: Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Ðông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái. Họ thích sống thành bản làng đông đúc, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột. Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hay lá cọ. Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa.

Phương tiện vận chuyển: Với những thứ nhỏ, gọn người Tày thường cho vào dậu để gánh hoặc cho vào túi vải để đeo trên vai, còn đối với những thứ to, cồng kềnh thì dùng sức người khiêng vác hoặc dùng trâu kéo. Ngoài ra, họ còn dùng mảng để chuyên chở.

Quan hệ xã hội: Chế độ quằng là hình thức tổ chức xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kỳ mang tính chất quý tộc, thế tập, cha truyền con nối.

Trong phạm vi thống trị của mình quằng là người sở hữu toàn bộ ruộng đất, rừng núi, sông suối... vì thế có quyền chi phối những người sống trên mảnh đất đó và bóc lột họ bằng tô lao dịch, bắt phải đến lao động không công và tô hiện vật, buộc phải cống nạp. Chế độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Cưới xin: Nam nữ Tày được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tuỳ thuộc vào bố mẹ hai bên và "số mệnh" của họ có hợp nhau hay không. Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình. Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng.

Sinh đẻ: Khi có mang cũng như trong thời gian đầu sau khi đẻ, người phụ nữ phải kiêng cữ nhiều thứ khác nhau với ước muốn được mẹ tròn, con vuông, đứa bé chóng lớn, khoẻ mạnh và tránh được những vía độc hại.

Sau khi sinh được 3 ngày cúng tẩy vía và lập bàn thờ bà mụ. Khi đầy tháng tổ chức lễ ăn mừng và đặt tên cho trẻ.

Ma chay: Ðám ma thường được tổ chức linh đình với nhiều nghi lễ nhằm mục đích báo hiếu và đưa hồn người chết về bên kia thế giới. Sau khi chôn cất 3 năm làm lễ mãn tang, đưa hồn người chết lên bàn thờ tổ tiên. Hàng năm tổ chức cúng giỗ vào một ngày nhất định.

Nhà mới: Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt. Trong ngày vào nhà mới chủ gia đình phải nhóm lửa và giữ ngọn lửa cháy suốt đêm đến sáng hôm sau.

Thờ cúng: Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên. Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ.

Lễ tết: Hàng năm có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác nhau. Tết Nguyên đán, mở đầu năm mới và tết rằm tháng 7, cúng các vong hồn là những tết lớn được tổ chức linh đình hơn cả. Tết gọi hồn trâu bò tổ chức vào mùng 6 tháng 6 âm lịch, sau vụ cấy và tết cơm mới, tổ chức trước khi thu hoạch là những cái tết rất đặc trưng cho dân nông nghiệp trồng lúa nước.

Lịch: Người Tày theo âm lịch.

Học: Chữ nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ nôm Việt ra đời khoảng thế kỷ XV được dùng để ghi chép truyện thơ, bài hát, bài cúng... Chữ Tày-Nùng dựa trên cơ sở chữ cái La-tinh ra đời năm 1960 và tồn tại đến giữa năm 80 được dùng trong các trường phổ thông cấp I vùng có người Tày, Nùng cư trú.

Văn nghệ: Người Tày có nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng... Lượn gồm lượn cọi, lượn slương, lượn then, lượn nàng ới... là lối hát giao duyên được phổ biến rộng rãi ở nhiều vùng. Người ta thường lượn trong hội lồng tồng, trong đám cưới, mừng nhà mới hay khi có khách đến bản. Ngoài múa trong nghi lễ ở một số địa phương có múa rối với những con rối bằng gỗ khá độc đáo.

Chơi: Trong ngày hội lồng tồng ở nhiều nơi tổ chức ném còn, đánh cầu lông, kéo co, múa sư tử, đánh cờ tướng... Ngày thường trẻ em đánh quay, đánh khăng, đánh chắt, chơi ô...

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Tày

Có thể bạn quan tâm

Tiếp thêm nghị lực cho các nạn nhân chất độc da cam

Tiếp thêm nghị lực cho các nạn nhân chất độc da cam

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, những nỗi đau chiến tranh vẫn hiện hữu nơi các nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Tại Lạng Sơn, nhiều nạn nhân chất độc da cam/dioxin không chỉ từng ngày chống chọi với bệnh tật mà đau đớn hơn là nhìn thấy con cái sinh ra mang những di chứng quái ác... Cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, chính trị xã hội đã chung tay xoa dịu nỗi đau da cam, tiếp thêm nghị lực để các nạn nhân vươn lên trong cuộc sống...

Phát huy vai trò của tuổi trẻ ở miền núi, biên giới

Phát huy vai trò của tuổi trẻ ở miền núi, biên giới

Phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện vì cộng đồng, tuổi trẻ Lạng Sơn đang triển khai nhiều hoạt động thiết thực trong Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè 2026. Các công trình, phần việc hướng về cơ sở không chỉ góp phần giải quyết những vấn đề chung tại cộng đồng mà còn khẳng định vai trò, trách nhiệm của thanh niên với sự phát triển của tỉnh.

Sôi nổi Ngày hội Gia đình công nhân, viên chức, lao động Thái Nguyên

Sôi nổi Ngày hội Gia đình công nhân, viên chức, lao động Thái Nguyên

Nhân kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026) và hưởng ứng Tháng hành động vì trẻ em năm 2026, ngày 27/6, Liên đoàn Lao động tỉnh Thái Nguyên tổ chức Ngày hội Gia đình công nhân, viên chức, lao động năm 2026 với nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực.

Chính quyền gần dân hơn từ những việc đời thường

Chính quyền gần dân hơn từ những việc đời thường

Một chiếc hố ga mất nắp, cán bộ xã biết ngay vị trí để xử lý. Chi tiết nhỏ ấy phản ánh một thay đổi lớn trong phương thức quản trị ở cơ sở. Gần dân không ở đâu xa, mà ở chính những việc đời thường như thế.

Kiểm soát, ngăn dịch tả lợn châu Phi từ biên giới

Kiểm soát, ngăn dịch tả lợn châu Phi từ biên giới

Dịch tả lợn châu Phi vẫn xuất hiện rải rác tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và có nguy cơ lan rộng, ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi địa phương. Trước thực tế đó, Chi cục Chăn nuôi, Thủy sản và Thú y tỉnh Lạng Sơn phối hợp với các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch, không để dịch bệnh lan rộng...

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài cuối: Biến thách thức thành động lực tăng trưởng mới

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài cuối: Biến thách thức thành động lực tăng trưởng mới

Sau một năm tập trung xử lý khối lượng công việc liên quan đến tổ chức bộ máy, tỉnh Phú Thọ đang bước sang giai đoạn phát triển mới với mục tiêu ổn định nền hành chính, nhanh chóng biến không gian kinh tế mở rộng thành lợi thế cạnh tranh mới. Tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, công nghiệp và cải cách môi trường đầu tư đang trở thành những trụ cột quan trọng để tỉnh khẳng định vị thế mới trên bản đồ kinh tế phía Bắc.

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài 1: Kiến tạo mô hình quản trị hiện đại

Nhìn lại một năm sau hợp nhất - Bài 1: Kiến tạo mô hình quản trị hiện đại

Sau một năm hợp nhất ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình thành tỉnh Phú Thọ mới, địa phương đang dần vượt qua giai đoạn nhiều thách thức nhất để bước vào quá trình vận hành ổn định. Đằng sau kết quả bước đầu ấy là khối lượng công việc lớn chưa từng có tiền lệ, đòi hỏi nỗ lực đặc biệt lớn của cả hệ thống chính trị trong việc tái thiết bộ máy, thống nhất quản trị và tạo nền tảng cho một cực tăng trưởng mới ở phía Bắc.

Học tập suốt đời - nền tảng nâng cao chỉ số hạnh phúc

Học tập suốt đời - nền tảng nâng cao chỉ số hạnh phúc

Học tập giúp nông dân làm chủ công nghệ mới để tăng năng suất, công nhân nâng cao tay nghề để bảo đảm thu nhập, giúp người cao tuổi sống vui, sống khỏe, trí tuệ minh mẫn. Học tập suốt đời chính là gốc rễ của cuộc sống hạnh phúc thực chất và vững bền.

100% thôn, làng ở Quảng Ngãi có sóng điện thoại và Internet

100% thôn, làng ở Quảng Ngãi có sóng điện thoại và Internet

Sau hơn một năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Quảng Ngãi đã đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.

Đắk Lắk khẩn trương khắc phục các tuyến đường trước mùa mưa bão

Đắk Lắk khẩn trương khắc phục các tuyến đường trước mùa mưa bão

Nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk bị hư hỏng do mưa lũ gây ra đang được các đơn vị liên quan đẩy nhanh tiến độ sửa chữa, khắc phục. Không chỉ nỗ lực để sớm đưa vào sử dụng tránh tình trạng “thiên tai chồng thiên tai”, các tuyến đường này còn “chạy đua” hoàn thành, bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn cho người dân và các phương tiện vận tải.

Tuần tra song phương trên biên giới Việt - Lào

Tuần tra song phương trên biên giới Việt - Lào

Ngày 25/6, Đồn Biên phòng Hướng Phùng (Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị) phối hợp với Đại đội Biên phòng 320 và Đại đội Biên phòng 321 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Savannakhet (Lào) tổ chức tuần tra song phương trên đoạn biên giới từ mốc quốc giới 593 đến mốc 594; từ mốc 597 đến mốc 598.

Bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu tình hình mới

Bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu tình hình mới

Là địa phương có trên 60% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, Lào Cai xác định đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nâng cao hiệu quả công tác quản lý, vận động nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

Tạo sức bật cho thương hiệu chè Tủa Chùa, Điện Biên

Tạo sức bật cho thương hiệu chè Tủa Chùa, Điện Biên

Gắn bó với đời sống của đồng bào dân tộc từ nhiều thế hệ, chè Tủa Chùa (Điện Biên) không chỉ là sản phẩm mang đậm bản sắc văn hóa vùng cao; giờ đây còn là cây trồng chủ lực, tạo nguồn thu nhập ổn định và góp phần phát triển kinh tế địa phương.

Đắk Lắk khởi công loạt nhà máy sản xuất công nghiệp giá trị gia tăng cao

Đắk Lắk khởi công loạt nhà máy sản xuất công nghiệp giá trị gia tăng cao

Sáng 25/6, tại Khu công nghiệp Hòa Hiệp 1 (phường Hòa Hiệp, tỉnh Đắk Lắk), Ban Quản lý Khu kinh tế Phú Yên tổ chức Lễ khởi công 3 dự án sản xuất công nghiệp mới gồm: Nhà máy sản xuất phân bón Agrilong - Green World, Nhà máy chế biến thực phẩm đóng hộp Bá Hải, Nhà máy sản xuất sơ mi rơ-moóc và phụ tùng Kotinochi Phú Yên... Đây là các dự án đã được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư của đơn vị: Công ty CP Hoàng Long Vina, Công ty CP Bá Hải và Công ty CP Kotinochi.

Chuyển đổi số tạo động lực nâng tầm sản phẩm OCOP

Chuyển đổi số tạo động lực nâng tầm sản phẩm OCOP

Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) đang trở thành động lực quan trọng để các xã Lạc Lương và Yên Trị, tỉnh Phú Thọ (trước đây là vùng Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình cũ) mở ra cơ hội phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế nâng cao giá trị sản phẩm đặc trưng và sức cạnh tranh trong chuyển đổi số và hội nhập kinh tế.

Hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến trước 20/7

Hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến trước 20/7

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Quảng Ngãi đang tập trung toàn lực, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ cấp tỉnh đến cấp xã nhằm đẩy nhanh tiến độ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.

Cao Bằng cấp phát hơn 1.560 tấn gạo hỗ trợ người dân

Cao Bằng cấp phát hơn 1.560 tấn gạo hỗ trợ người dân

Từ ngày 17-30/6, các xã, phường trên địa bàn tỉnh Cao Bằng triển khai cấp phát 1.568 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia để hỗ trợ người dân trong thời kỳ giáp hạt năm 2026. Đối tượng thụ hưởng là các hộ nghèo, hộ cận nghèo và gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn, với mức hỗ trợ 15 kg gạo/người.

Phát triển kinh tế tầm thấp: Mở đường cho một lĩnh vực mới

Phát triển kinh tế tầm thấp: Mở đường cho một lĩnh vực mới

Với địa hình chia cắt, nhiều khu vực cách xa trung tâm hàng chục km, Điện Biên từ lâu đối mặt với bài toán chi phí vận chuyển cao và khả năng tiếp cận dịch vụ còn hạn chế ở vùng sâu, vùng xa. Đây cũng là lý do tỉnh được lựa chọn để triển khai một mô hình thử nghiệm mới: Phát triển kinh tế tầm thấp bằng phương tiện bay không người lái (UAV).

Biên cương vững chãi từ những cụm dân cư

Biên cương vững chãi từ những cụm dân cư

Từ chủ trương mang tính chiến lược của Đảng, Nhà nước, các cụm, điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới trên địa bàn Tây Ninh đang phát huy hiệu quả rõ nét.