Khi chính quyền cơ sở vận hành trên không gian số

Sau sáp nhập địa giới hành chính, tỉnh Lâm Đồng đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ, hạ tầng viễn thông, dữ liệu số và các nền tảng điện tử dần trở thành “hệ thần kinh” mới của bộ máy cơ sở. Từ những vùng lõm sóng ở miền núi đến các trung tâm hành chính địa phương, chuyển đổi số đang từng bước thay đổi cách chính quyền vận hành và phục vụ người dân.

lamdong-chinh-quyen-so-11052026-01.jpg
Lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng kiểm tra công tác vận hành trong những ngày đầu thành lập tại Trung tâm phục vụ hành chính công đặc khu Phú Quý. Ảnh: Nguyễn Thanh/TTXVN

Từ vùng lõm sóng đến cánh cửa số

Buổi chiều ở Buôn Go, xã Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, một vài người đồng bào Mạ vẫn có thói quen đứng trước sân nhà văn hóa thôn để bắt sóng điện thoại. Có thời điểm, muốn gọi được một cuộc điện thoại hay gửi đi một tin nhắn, họ phải bước ra khoảng đất trống phía trước con đường liên thôn, nơi tín hiệu ổn định hơn.

Nhưng cũng ở những nơi từng được xem là “vùng lõm sóng” ấy, giờ đây, nhiều người dân đã bắt đầu dùng điện thoại để kích hoạt VNeID, quét mã QR thanh toán hay nộp hồ sơ trực tuyến. Những thay đổi trên không gian mạng này đang phản ánh một chuyển động lớn hơn diễn ra ở cơ sở: Chuyển đổi số đang dần trở thành nền tảng vận hành mới của chính quyền địa phương.

Phó Chủ tịch UBND xã Cát Tiên Nguyễn Văn Tiến cho biết, xã đã được đầu tư hạ tầng viễn thông, phủ sóng di động đến các thôn, buôn, tạo điều kiện để người dân tiếp cận và sử dụng nền tảng số trong đời sống. Hiện, 100% hộ dân trên địa bàn có thể tiếp cận cáp quang khi có nhu cầu sử dụng, khoảng 90% người dùng có thể truy cập internet cố định với tốc độ trung bình khoảng 200Mb/s.

Tỉnh Lâm Đồng sau hợp nhất đang bước vào giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ. Bài toán quản trị trên không gian rộng lớn nhất nước đang đặt ra yêu cầu chưa từng có về kết nối dữ liệu, liên thông hệ thống và số hóa hoạt động công vụ và thay đổi cách chính quyền vận hành, phục vụ người dân.

Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng Trần Thanh Duy cho biết, hiện toàn tỉnh có hơn 12.000 trạm thu phát sóng thông tin di động mặt đất (BTS), trong đó có hơn 1.200 trạm BTS 5G. Tỷ lệ phủ sóng 5G hiện đạt khoảng 80% dân số toàn tỉnh. Sau quá trình rà soát cùng các doanh nghiệp viễn thông, ngành khoa học và công nghệ xác định, 100% vị trí trung tâm nhà văn hóa thôn đều có thể sử dụng dịch vụ di động và băng rộng di động của ít nhất một trong các nhà mạng.

“Qua rà soát thực tế, toàn tỉnh hiện còn nhiều cụm dân cư nằm trong tình trạng “lõm sóng” hoặc chất lượng kết nối chưa ổn định, chủ yếu ở các khu vực địa hình phức tạp, dân cư thưa và xa trung tâm. Để khắc phục tình trạng này, trong năm 2026, ngành khoa học và công nghệ cùng các doanh nghiệp viễn thông sẽ triển khai xây dựng mới và tối ưu hạ tầng mạng tại 112 vị trí nhằm từng bước cải thiện chất lượng kết nối, trong đó, có khoảng 101 khu vực dân cư còn bị ảnh hưởng bởi tình trạng lõm sóng”, ông Trần Thanh Duy nói.

Những con số ấy cho thấy chuyển đổi số ở Lâm Đồng bắt đầu từ những điều rất căn bản: Có sóng điện thoại, có internet ổn định và người dân có thể kết nối với thế giới số.

“Bình dân học vụ số” ở thôn, buôn

Trong hành trình chuyển đổi số ở cơ sở, nhiều nhà văn hóa thôn đang mang thêm một vai trò mới. Nếu trước đây, đó chỉ là nơi họp dân hay sinh hoạt cộng đồng thì nay còn là nơi người dân được hướng dẫn kích hoạt VNeID, nộp hồ sơ trực tuyến, sử dụng dịch vụ công hay tiếp cận các kỹ năng số cơ bản.

Ở nhiều nơi, các tổ công nghệ số cộng đồng đang kiên trì “cầm tay chỉ việc” cho người dân. Từ cách tạo tài khoản định danh điện tử, quét mã QR thanh toán cho đến tra cứu thủ tục hành chính trên điện thoại, những thao tác vốn quen thuộc với người trẻ ở đô thị lại là trải nghiệm hoàn toàn mới với nhiều người dân lớn tuổi hay đồng bào dân tộc thiểu số.

Ở không ít nơi, họ trở thành “cầu nối số” giữa chính quyền với người dân. Tại Buôn Go, xã Cát Tiên, một trong những địa bàn vùng sâu của tỉnh Lâm Đồng, người dân đồng bào Mạ được hỗ trợ trực tiếp để kích hoạt VNeID mức độ 2 sau khi được “cầm tay chỉ việc”. Một số hộ dân đã bắt đầu sử dụng mạng xã hội để bán rượu cần, gạo đặc sản; nhiều người dùng điện thoại tra cứu thông tin cá nhân, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến. Một số hộ kinh doanh nhỏ cũng bắt đầu tập quét mã QR thay cho thanh toán tiền mặt. Những thay đổi ấy đang từng bước đưa công nghệ số đi vào đời sống thường ngày ở vùng sâu.

Nếu nhiều thập niên trước, “bình dân học vụ” là cuộc xóa mù chữ thì hôm nay, hành trình mới là giúp người biết sử dụng công nghệ số vào đời sống. Tỉnh Lâm Đồng thành lập 2.765 tổ công nghệ số cộng đồng với gần 17.000 thành viên tham gia. Lực lượng này gồm, công chức, viên chức cơ sở, thành viên các đoàn, hội, đội và các tình nguyện viên… Họ trở thành “cầu nối số” giữa chính quyền với người dân.

Dữ liệu số thay đổi phương thức vận hành chính quyền cơ sở

Công chức, viên chức cơ sở đang đứng trước áp lực rất lớn khi vừa phải xử lý công việc chuyên môn vừa trực tiếp hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ. Tuy nhiên, cũng chính từ những khó khăn ấy, cùng với cả nước, chuyển đổi số ở Lâm Đồng đang dần mang hình hài của một cuộc cải cách xã hội sâu rộng hơn là một chương trình ứng dụng công nghệ đơn thuần. Dữ liệu số đang thay đổi cách chính quyền vận hành và đời sống người dân.

Điều đáng chú ý, quá trình chuyển đổi số hiện không còn dừng lại ở việc đưa thủ tục hành chính lên môi trường mạng. Yêu cầu liên thông dữ liệu, vận hành bộ máy trên không gian số và xử lý công việc theo hướng tinh gọn đang đặt ra áp lực rất lớn cho chính quyền cơ sở. Khi phạm vi quản lý rộng hơn, dân số đông hơn, yêu cầu quản trị và định hướng nhanh hơn và chính xác hơn, cách làm thủ công trước đây không còn phù hợp.

Theo Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng Võ Thành Công, hầu hết các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã triển khai đồng bộ các nền tảng quản lý văn bản điện tử, chữ ký số, số hóa hồ sơ và dịch vụ công trực tuyến. Toàn tỉnh triển khai hàng nghìn thiết bị chữ ký số, đồng thời đẩy mạnh kết nối dữ liệu giữa các cơ quan. Một khối lượng rất lớn hồ sơ, tài liệu hành chính đang được số hóa phục vụ quá trình xây dựng chính quyền số.

Tại phường 1 Bảo Lộc, gần như toàn bộ hồ sơ hành chính đã được số hóa. Hàng nghìn hồ sơ trực tuyến được xử lý đúng hạn và trước hạn. Việc số hóa hồ sơ, sử dụng chữ ký số, xử lý văn bản điện tử, giải quyết thủ tục hành chính trực tuyến giúp giảm đáng kể thời gian xử lý công việc, làm tăng khả năng liên thông giữa các bộ phận chuyên môn.

Chủ tịch UBND phường 1 Bảo Lộc Nguyễn Việt Nam cho biết, chuyển đổi số hiện không còn là nhiệm vụ riêng của ngành công nghệ hay bộ phận một cửa mà đã trở thành phương thức vận hành mới của chính quyền địa phương. Hệ thống điều hành điện tử, quản lý văn bản liên thông, nền tảng tích hợp dữ liệu đang trở thành công cụ vận hành thường xuyên của bộ máy cơ sở.

Khối lượng công việc sau sáp nhập tăng rất lớn, trong khi yêu cầu giải quyết thủ tục cho người dân phải nhanh hơn, minh bạch hơn. Nếu không ứng dụng công nghệ, không xử lý trên môi trường số, bộ máy rất khó vận hành hiệu quả.

“Quan trọng nhất là người dân bắt đầu cảm nhận rõ hơn sự thay đổi trong cách phục vụ của chính quyền và cả ứng dụng vào các lĩnh vực đời sống”, ông Nguyễn Việt Nam nói.

Không chỉ dừng ở cải cách hành chính, chính quyền cấp xã bắt đầu định hướng ứng dụng AI, IoT, dữ liệu lớn và các nền tảng điều hành thông minh trong quản trị địa phương. Những chuyển động ấy cho thấy chuyển đổi số ở Lâm Đồng đang từng bước trở thành nền móng vận hành của một mô hình chính quyền mới. Và phía sau những mã QR, hồ sơ điện tử, dữ liệu số hay các cột sóng 5G, điều đang thay đổi không chỉ là công nghệ mà còn là cách chính quyền cơ sở phục vụ người dân trong một không gian quản trị hoàn toàn mới./.

Kha Phạm/TTXVN
Dân tộc Mạ

Tên tự gọi: Mạ.

Tên gọi khác: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ.

Nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung.

Dân số: 41.405 người (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).

Lịch sử: Người Mạ là cư dân sinh tụ lâu đời ở Tây Nguyên.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Hoạt động sản xuất: Nương rẫy đóng vai trò chủ yếu trong đời sống của người Mạ. Ðây là loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải, ở vùng sông Ðồng Nai, người Mạ làm ruộng bằng kỹ thuật lùa cả đàn trâu xuống ruộng quần đất đến khi nhão bùn thì gieo lúa giống. Họ tính năng suất của rẫy theo số gùi lúa thu được khi trỉa một gùi lúa giống. Công cụ làm rẫy chủ yếu là rìu, xà gạc, dao, liềm, gậy chọc lỗ, gùi. Nghề đánh cá khá phổ biến. Trước đây, họ biết chế thuốc độc từ loại lá rừng bỏ xuống suối để bắt cá. Người Mạ nổi tiếng về nghề trồng bông dệt vải.

Ăn: Cơm gạo tẻ với muối trộn ớt, sả, măng tươi và một số loại rau rừng. Cách chế biến thức ăn chủ yếu là nướng, luộc, nấu canh. Họ thích uống rượu cần và hút thuốc lá bằng điếu khan.

Mặc: Phụ nữ mặc váy quấn dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân dài tới thắt lưng, kín tà. Nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước. Mùa lạnh, người già thường khoác thêm tấm mền. Người Mạ có tập quán cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc. Thanh niên mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có ngấn khắc chìm như là ký hiệu của các lễ hiến sinh tế thần linh, cầu mát cho chính mình.

Ở: Người Mạ thường sống thành từng làng (bon) với một khu vực đất đai riêng biệt trên các cao nguyên Bảo Lộc, Di Linh, Ðạ Tẻ, lưu vực sông Ðồng Nai (Lâm Ðồng). Mỗi "bon" có từ 5 đến 10 nhà sàn dài. Nhà được làm bằng nứa, bương mai, hai mái lợp bằng lá mây. Mái cửa ra vào (cửa mẹ) uốn khum thành vòm bằng cành trúc đội trên mái cỏ. Xung quanh nhà ở, Họ còn dựng nhiều kho lúa trên sàn cao. Các cột nhà kho đều trang trí theo mô típ chày cối.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là chiếc gùi nan mang sau lưng với nhiều loại to nhỏ khác nhau. Chiếc gùi dùng đi xa được trang trí hoa văn qua các đường đan. ở vùng ven sông Ðồng Nai, người Mạ làm thuyền độc mộc để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên sông.

Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị tổ chức xã hội cao nhất của người Mạ do chủ làng đứng đầu (quăng bon). Chủ làng có nhiệm vụ cùng tế trong các nghi lễ mang tính chất cộng đồng. Người Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền. Người chủ gia đình lớn là người cao tuổi nhất của thế hệ cao nhất trong gia tộc, có nhiệm vụ điều hành mọi công việc trong gia đình và trông coi các đồ dùng quý hiếm như chiêng, ché.

Trong loại gia đình lớn phụ quyền, từng cặp vợ chồng với con cái ở chung nhưng làm ăn riêng, còn gia đình nhỏ phụ quyền thì như một đơn vị kinh tế cá thể nhưng vẫn lưu giữ dấu vết của gia đình lớn phụ hệ.

Ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ còn lại rất ít trong các buôn làng.

Cưới xin: Quyền chủ động hôn nhân do bên nhà trai, nhưng sau lễ cưới nếu nhà trai nộp đủ sính lễ thì đôi vợ chồng chỉ ở lại nhà gái 8 ngày, còn không, chàng trai phải ở rể đến khi nộp đủ mới được đưa vợ về nhà mình.

Sinh đẻ: Khi sinh con trai, nhau của đứa trẻ đựng trong vỏ trái bầu khô chôn trước nhà, nếu sinh con gái nhau chôn sau nhà. Sang ngày thứ 8, người mẹ bồng con ra sân tắm nắng, nếu con trai phải mang theo xà gạt, nỏ, dao vót nan, con gái mang theo gùi, rìu chẻ củi, túi đựng cơm và giới bên kia như xà gạt, rìu, ché, váy áo chôn cùng huyệt hoặc bỏ rải rác xung quanh mộ. Sau lễ mai táng thì bỏ mả và tang chủ phải kiêng 7 ngày không được vào rừng hoặc lên rẫy.

Thờ cúng: Người Mạ tin có thần (Yang). Họ thờ cúng nhiều Yang như Yang Hiu (thần nhà), Yang Koi (thần lúa), Yang Bơnơm (thần núi). Họ thường giết súc vật tế thần vào những dịp được mùa, sinh đẻ, bệnh tật, chết chóc. Lễ hiến sinh lớn nhất là lễ đâm trâu, thường được thực hiện lúc kết thúc mùa rẫy.

Lịch: Người Mạ theo âm lịch.

Học: Người Mạ không có chữ viết, nền văn hoá dân gian Mạ vẫn sống bằng lối sống nghìn xưa - thuộc lòng và truyền miệng.

Văn nghệ: Vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là "tam bớt".

Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6 chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng sừng trâu.

Theo cema.gov.vn

Dân tộc Mạ

Có thể bạn quan tâm

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Cử tri vùng biên kiến nghị gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường

Sáng 2/10, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh tiếp xúc cử tri gồm đại diện các phòng, ban, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp và cử tri xã Hòa Hội, Ninh Điền trước Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Ông Phạm Hùng Thái, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh chủ trì buổi tiếp xúc.

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

Đắk Lắk phê bình 35 xã, phường chưa kê khai hoạt động chăn nuôi

UBND tỉnh Đắk Lắk vừa ban hành văn bản về việc chấn chỉnh việc thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi và đăng ký tài khoản quản trị Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi. Trong đó, phê bình Chủ tịch UBND 35 xã, phường chưa thực hiện kê khai hoạt động chăn nuôi.

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Đào tạo nghề sát nhu cầu, tăng cơ hội việc làm cho lao động dân tộc thiểu số

Tỉnh Gia Lai đang chuyển mạnh từ đào tạo nghề theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động, gắn với khả năng tạo sinh kế tại chỗ. Tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2026 có khoảng 2.000 lao động dân tộc thiểu số sau học nghề có việc làm hoặc tự tạo việc làm.

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Chậm hỗ trợ sau thiên tai do khó xác định mức thiệt hại

Dù lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk đã nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc các xã, phường sớm giải ngân hỗ trợ cho người dân có đàn gia súc, gia cầm bị thiệt hại trong đợt lũ lụt lịch sử cuối năm 2025 nhưng đến nay, nhiều địa phương vẫn chưa thực hiện được. 

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Lâm Đồng sớm xử lý sụt lún, gãy nền đường Tà Đùng - Quảng Sơn

Mưa lớn kéo dài trong thời gian qua đã làm nền đường tại một số vị trí trên tuyến liên xã Tà Đùng – Quảng Sơn, tỉnh Lâm Đồng xuất hiện sụt lún, đứt gãy. Tình trạng này không chỉ tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông mà còn gây khó khăn cho việc đi lại, vận chuyển nông sản và hoạt động sản xuất của người dân trong khu vực.

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số thúc đẩy phát triển nông nghiệp miền núi

Chuyển đổi số hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu thúc đẩy kinh tế, xã hội nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất. Tỉnh Lạng Sơn cũng đang ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số vào sản xuất, từ đó giúp đổi mới toàn diện trong tư duy quản lý, tổ chức sản xuất, phát triển chuỗi các giá trị, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường cho các sản phẩm nông sản.

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Đổi mới quản trị giáo dục, thu hẹp khoảng cách vùng miền

Sau hơn một năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, giáo dục Tây Ninh đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Từ sắp xếp mạng lưới trường lớp, phân bổ nguồn lực, đẩy mạnh chuyển đổi số đến bảo đảm cơ hội học tập cho học sinh vùng biên giới, ngành giáo dục từng bước đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và hướng tới thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các địa bàn.

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Để người dân tái định cư yên tâm an cư

Hơn hai năm về khu tái định cư sau trận lũ quét lịch sử, nhiều hộ dân xã Mường Xén vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ. Giữa niềm vui có mái nhà mới, bà con lại đối diện với nỗi lo thiếu nước sinh hoạt, gánh nặng chi phí xây dựng và sự mòn mỏi chờ đợi chính sách.

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Hơn 80 hộ dân xã Bum Nưa (Lai Châu) mong sớm có nơi an cư

Nà Hừ là bản đông dân nhất xã biên giới Bum Nưa (Lai Châu) với 290 hộ, trên 1.520 nhân khẩu, 100% đồng bào dân tộc Thái. Mỗi mùa mưa lũ đến, nỗi lo về một nơi ở an toàn vẫn là điều trăn trở của hơn 80 hộ dân nơi đây.

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Từ những ước mơ nhỏ, mở ra cơ hội lớn

Có những ước mơ của trẻ em vùng cao không bắt đầu từ những điều lớn lao. Một cuốn sách, một đôi giày mới, được học trong ngôi trường khang trang, có thêm một bữa ăn đủ đầy hay đơn giản là được vui chơi, gặp gỡ những người bạn ở một nơi khác…

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Nâng cao chất lượng bữa ăn bán trú cho học sinh vùng cao

Tại các địa phương khu vực phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, việc đảm bảo bữa ăn bán trú vừa an toàn vệ sinh thực phẩm, vừa đầy đủ dinh dưỡng luôn được chính quyền địa phương và nhà trường đặc biệt chú trọng. Nhờ đó, không chỉ giúp cho các em học sinh có được thể chất tốt để học tập, mà còn giúp cho phụ huynh học sinh yên tâm với chế độ bán trú của các nhà trường, giúp các em vững bước trên con đường thực hiện ước mơ của mình.

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Người dân vùng 'rốn lũ' Đắk Lắk chủ động tránh lũ

Rút kinh nghiệm từ đợt lũ lịch sử cuối năm 2025, nhiều hộ dân ở vùng “rốn lũ” xã Hòa Thịnh, xã Đồng Xuân (tỉnh Đắk Lắk) đã chủ động triển khai các giải pháp tránh lũ ngay trước thềm mùa mưa bão năm nay.

Tại nhiều vùng cao, tầm vóc thấp bé và chứng còi xương ở trẻ em vẫn rất phổ biến. Ảnh: V.T

Đẩy lùi nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống-Bài 2: Thể trạng con người còi xương, hệ lụy khôn lường về di truyền

Hệ lụy của hôn nhân cận huyết thống và nạn tảo hôn là căn nguyên khiến thể trạng con người và chất lượng dân số vùng đồng bào dân tộc hạn chế, gen di truyền từ cha mẹ sang con khiến những trẻ em sinh ra thường mắc các bệnh còi xương, thấp bé... và vòng xoáy nghèo đói tiềm ẩn nơi non cao.