Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer năm nay diễn ra trong 3 ngày (từ 14 - 16/4/2026). Thời điểm này, nhiều loại nông sản vụ Đông Xuân bước vào thu hoạch rộ. Trên các cánh đồng ở xã Long Hiệp (tỉnh Vĩnh Long), bà con Khmer vẫn tất bật ra đồng, tranh thủ từng ngày công để kịp thu hoạch hoàn tất trước ngày lễ chính (16/4), vừa đảm bảo sản xuất, vừa đón Tết trọn vẹn.
Tại ấp Tha La, gia đình ông Thạch Phì đang khẩn trương thu hoạch 2.500 m2 lạc, năng suất khoảng 800 kg/1.000 m2. Sau 3 tháng canh tác, trừ các chi phí, mỗi 1.000 m2, ông thu lãi khoảng 4 triệu đồng. Ngoài ra, gia đình còn có thêm nguồn thu từ 3.000 m2 trồng ớt, nuôi 3 con bò và mua bán nhỏ.
Ông Thạch Phì cho biết, việc thu hoạch vào những ngày đầu Tết là để tranh thủ thời tiết thuận lợi, giảm hao hụt và kịp hoàn tất công việc trước ngày lễ chính. “Làm nhanh cho xong để ngày 16 còn đi chùa, làm lễ tắm Phật cho trọn vẹn. Vào vụ thu hoạch, gia đình còn tạo việc làm cho khoảng 50 - 60 lao động địa phương, với thu nhập từ 150.000 - 200.000 đồng/ngày”, ông Thạch Phì nói.
Cùng thời điểm, gia đình ông Thạch Bi ở cùng ấp cũng đang hối hả thu hoạch 9.000 m2 lạc. Do liên kết sản xuất với doanh nghiệp bao tiêu, thời điểm thu hoạch được phía công ty thu mua đôn đốc để đảm bảo tiến độ giao hàng, nên những ngày này gia đình ông tập trung nhân lực làm việc liên tục từ sáng sớm. Theo ông Bi, dù trùng vào dịp Tết nhưng bà con vẫn tranh thủ làm cho kịp tiến độ, để hoàn tất thu hoạch trước ngày chính lễ, sau đó mới yên tâm nghỉ ngơi, đón Tết trọn vẹn.
Từ sáng sớm, từng nhóm lao động đã có mặt tại các ruộng lạc để thu hoạch. Anh Thạch LiNa (sinh năm 1996), không có đất sản xuất, cùng vợ làm thuê theo ngày để trang trải cuộc sống. “Mấy ngày này vợ chồng tôi tranh thủ làm để có thêm thu nhập, mua sắm lễ vật đi chùa và cho gia đình. Có việc là làm, Tết nhất cũng không nghỉ. Với công việc thu hoạch lạc, thu nhập của 2 vợ chồng khoảng 300.000 đồng/ngày”, anh Thạch LiNa chia sẻ.
Không riêng gia đình anh LiNa, nhiều lao động thời vụ trong ấp vẫn duy trì nhịp làm việc liên tục những ngày đầu năm mới. Do phụ thuộc vào công nhật, nếu nghỉ sớm sẽ ảnh hưởng đến thu nhập, nên bà con chủ yếu tập trung làm việc trước, sau đó mới dành thời gian tham gia các hoạt động lễ Tết.
Vợ chồng anh Thạch LiNa thu hoạch lạc thu nhập khoảng 300.000 đồng/ngày.
Theo ông Huỳnh Văn Minh, Trưởng Ban Nhân dân ấp Tha La, toàn ấp có 439 hộ, trong đó hơn 80% là đồng bào Khmer. Ấp có 275 ha đất nông nghiệp, ngoài 175 ha trồng lúa, phần lớn diện tích còn lại được người dân tận dụng trồng màu. Những năm gần đây, nhờ đa dạng sinh kế, nhiều mô hình sản xuất góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Số hộ nghèo giảm mạnh, từ hơn 60 hộ năm 2020 xuống chỉ còn 5 hộ hiện nay. Địa phương phấn đấu trong năm nay xóa 100% hộ nghèo.
Bên cạnh cây lạc, vụ ngô giống năm nay mang lại niềm vui lớn cho nhiều hộ đồng bào Khmer ở xã Long Hiệp, năng suất và giá bán đều tăng cao so với vụ trước nên nông dân thu được lãi khá.
Ông Thạch Sang, Tổ trưởng Tổ hợp tác sản xuất lúa và ngô giống ấp Giồng Chanh B cho biết, tổ có hơn 60 thành viên, canh tác khoảng 30 ha ngô giống. Vụ Đông Xuân năm nay, nhờ chuyển sang trồng giống mới và liên kết với doanh nghiệp bao tiêu giá 16.000 đồng/kg, cao hơn khoảng 3.000 đồng/kg so với trước, năng suất đạt trên 1 tấn/1.000 m2, tăng 300 - 400 kg/1.000 m2 so với giống cũ nên lợi nhuận đạt hơn 7 triệu/1.000 m2.
“Ngô giống năm nay trúng mùa, được giá, bà con rất phấn khởi, có điều kiện chuẩn bị Tết đầy đủ hơn”, ông Sang cho biết.
Xã Long Hiệp là địa bàn vùng sâu của tỉnh Vĩnh Long, có diện tích tự nhiên hơn 6.500 ha, với 22 ấp, trên 7.200 hộ dân với hơn 30.000 nhân khẩu; trong đó đồng bào Khmer chiếm trên 82%. Đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với trồng trọt và chăn nuôi là ngành nghề chính.
Những năm qua, nhờ sự quan tâm đầu tư của Trung ương và địa phương, cùng việc triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, nhất là xây dựng nông thôn mới, cùng các chính sách dân tộc, hệ thống hạ tầng thiết yếu như giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, điện, thủy lợi từng bước được hoàn thiện, đời sống người dân ngày càng nâng cao.
Ông Nguyễn Khánh Hòa, Chủ tịch UBND xã Long Hiệp cho biết, địa phương đang tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển các mô hình liên kết gắn với tiêu thụ sản phẩm, qua đó từng bước nâng cao thu nhập cho người dân. Đặc biệt, mô hình trồng ngô giống có liên kết bao tiêu đang mang lại hiệu quả rõ rệt, góp phần tạo việc làm và ổn định đời sống cho nhiều hộ dân.
Dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây, dù nhiều lao động vẫn tranh thủ ra đồng thu hoạch để tăng thu nhập, nhưng địa phương cũng tạo điều kiện để bà con tham gia các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, nhất là trong ngày chính lễ. “Chúng tôi vừa vận động người dân tập trung sản xuất, vừa quan tâm chăm lo đời sống tinh thần để bà con đón Tết vui tươi, an toàn, tiết kiệm”, ông Nguyễn Khánh Hòa cho biết.
Đồng bào ở xã Long Hiệp thu hoạch lạc dịp Tết Chôl Chnăm Thmây.
Tỉnh Vĩnh Long có gần 3,4 triệu dân, trong đó đồng bào Khmer chiếm hơn 10%. Theo Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Vĩnh Long, những năm qua, tỉnh đặc biệt quan tâm triển khai hiệu quả các chính sách dân tộc và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh đã đầu tư xây dựng hàng trăm công trình hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ nhà ở, đất ở, chuyển đổi nghề và tạo sinh kế cho người dân, góp phần giảm mạnh tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh còn 1.119 hộ nghèo, chiếm 1,16% số hộ dân của tỉnh.
Bà Thạch Thị Thu Hà, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Vĩnh Long cho biết, cùng với đầu tư hạ tầng, địa phương chú trọng hỗ trợ sinh kế, đào tạo nghề, giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều mô hình sản xuất phù hợp đã được triển khai, giúp người dân từng bước ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo bền vững.
“Việc triển khai đồng bộ các chính sách không chỉ cải thiện điều kiện sống mà còn góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer. Đây cũng là nền tảng để bà con đón Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây trong không khí vui tươi, phấn khởi và tiếp tục nỗ lực phát triển kinh tế trong thời gian tới”, bà Thạch Thị Thu Hà nhấn mạnh.
Trong nhịp lao động hối hả của những ngày đầu năm mới trên đồng ruộng, niềm vui Tết vẫn len lỏi trên từng cánh đồng. Với đồng bào Khmer Vĩnh Long, làm việc những ngày đầu năm không chỉ là mưu sinh mà còn là cách để chuẩn bị cho một cái Tết trọn vẹn hơn, trước khi cùng gia đình bước vào ngày chính lễ tại chùa với nhiều kỳ vọng tốt đẹp trọn vẹn cho một năm mới./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn