Nhân dịp Tết Chôl Chnăm Thmây năm 2026 của đồng bào Khmer, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống, thu hút đông đảo người dân tham gia, góp phần thắt chặt tinh thần đại đoàn kết dân tộc.
Tại chùa Mới Gia Kiết (ấp Mỹ Thuận, xã Trà Côn), Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn, Ban Thư ký Ủy ban Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Vĩnh Long tổ chức Ngày hội Văn hóa thanh niên dân tộc mừng Chôl Chnăm Thmây năm 2026. Ban tổ chức đã trao tặng 20 phần quà cho gia đình thanh niên dân tộc có hoàn cảnh khó khăn và 20 suất học bổng cho thiếu nhi vượt khó học giỏi tại xã Trà Côn.
Ngày hội Văn hóa thanh niên dân tộc diễn ra trong không khí vui tươi, phấn khởi với các tiết mục văn nghệ mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào Khmer Nam Bộ, cùng nhiều trò chơi dân gian, như nhảy bao bố, đẩy gậy, nhảy dây... Nhiều thanh niên, thiếu nhi hào hứng tham gia các hoạt động trải nghiệm, người dân địa phương cũng tích cực hưởng ứng, góp phần tạo nên không khí rộn ràng trước thời khắc đón năm mới.
Bà Thạch Kim Hui (xã Trà Côn) cho biết, dịp Tết có đoàn viên, thanh niên về tổ chức các hoạt động vui chơi rất bổ ích. Không khí đón Tết năm nay vui hơn mọi năm, các hoạt động vui chơi, văn nghệ ngay thời khắc mọi người đến chùa chờ đón năm mới nên rất nhộn nhịp, phấn khởi.
Theo anh Nguyễn Thanh Nhã, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh Đoàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh, thời gian qua, công tác thanh niên vùng đồng bào dân tộc thiểu số được các cấp bộ Đoàn, Hội quan tâm triển khai hiệu quả. Nhiều chương trình hỗ trợ an sinh xã hội, phát triển kinh tế, xây dựng hạ tầng, tổ chức hoạt động văn hóa, thể thao được thực hiện, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
Ngày hội Văn hóa thanh niên dân tộc mừng Chôl Chnăm Thmây năm 2026 không chỉ là hoạt động chào đón năm mới mà còn là dịp phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời thể hiện vai trò của tuổi trẻ trong kết nối các giá trị văn hóa cộng đồng.
Thời gian tới, Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn sẽ chỉ đạo các cơ sở Đoàn tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng; chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền trong phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Hội là người dân tộc; vận động thanh niên tích cực gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh.
Cùng ngày, tại Chùa Mới (ấp Thôn Rôn, xã Trà Côn), Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long tổ chức chương trình gói bánh tét cộng đồng chào mừng Tết Quân - Dân gắn với Tết Chôl Chnăm Thmây. Từ sáng sớm, nhiều hội viên phụ nữ, người dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đã có mặt, cùng nhau chuẩn bị nguyên liệu, gói bánh trong không khí rộn ràng, ấm áp. Nhiều người dân đến chùa vừa thực hiện nghi thức đón năm mới, vừa tham gia phụ giúp, góp phần làm nên không khí sum vầy, đầm ấm nghĩa tình.
Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Vĩnh Long Nguyễn Thị Hồng Hoa cho biết, chương trình gói bánh tét cộng đồng đã huy động sự tham gia tích cực của cán bộ, chiến sĩ, hội viên, phụ nữ cùng người dân địa phương tham gia. Chương trình nhằm phát huy tinh thần đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng, đồng thời chung tay chăm lo cho gia đình chính sách, phụ nữ dân tộc có hoàn cảnh khó khăn. Trong ngày, khoảng 700 đòn bánh tét được gói để trao tặng, góp phần giữ gìn nét đẹp văn hóa ẩm thực truyền thống và lan tỏa tinh thần sẻ chia trong cộng đồng.
Dịp này, Xã Đoàn Trà Côn ra mắt “Câu lạc bộ thanh niên tham gia bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer" xã Trà Côn, góp phần tạo môi trường để thanh niên giữ gìn tiếng nói, chữ viết, nghệ thuật múa và các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Chôl Chnăm Thmây là Tết cổ truyền của đồng bào Khmer, năm nay diễn ra trong 3 ngày, từ 14 - 16/4/2026. Đây là dịp để đồng bào Khmer bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên, các vị thần linh, đồng thời cầu mong một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Với sự quan tâm của chính quyền địa phương, những ngày qua đã diễn ra nhiều hoạt động chăm lo Tết cho đồng bào, tạo không khí vui tươi, phấn khởi khắp các phum, sóc. Các hoạt động trong dịp Tết không chỉ tạo không khí rộn ràng mà còn góp phần củng cố mối quan hệ đoàn kết quân - dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn