Song song với mục tiêu đưa Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển đảo quốc gia vào năm 2045, tỉnh Quảng Ngãi đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giải bài toán khan hiếm nước ngọt. Đây được coi là yếu tố then chốt để bảo đảm an ninh nguồn nước và phục vụ mục tiêu phát triển bền vững nơi đảo tiền tiêu.
“Đảo khát” giữa bốn bề biển mặn
Dù chỉ rộng 0,69 km2, nhưng đảo Bé (còn gọi là đảo An Bình, thuộc đặc khu Lý Sơn) là điểm đến hấp dẫn của du lịch địa phương nhờ vẻ đẹp hoang sơ và những vách đá núi lửa hàng triệu năm tuổi. Tuy nhiên, do cấu tạo địa chất đặc biệt từ nham thạch núi lửa, hòn đảo này gần như không hình thành các túi nước ngầm. Suốt hàng trăm năm qua, hơn 500 nhân khẩu nơi đây phải sống dựa hoàn toàn vào nước mưa tích trữ trong các lu, bể chứa và nước ngọt chở từ đảo lớn qua.
Năm 2012, Nhà máy lọc nước biển thành nước ngọt An Bình được đầu tư với kinh phí khoảng 20 tỷ đồng mang theo nhiều kỳ vọng. Tuy nhiên, sau nhiều năm vận hành trong môi trường biển khắc nghiệt, nhiều hạng mục của nhà máy đã xuống cấp. Hiện công trình chỉ đáp ứng được khoảng 40 - 50% nhu cầu thực tế của người dân do thiết bị hư hỏng và thiếu nguồn điện phù hợp.
Để bù đắp lượng nước thiếu hụt, người dân và các cơ sở dịch vụ phải mua nước vận chuyển từ đảo Lớn sang với mức giá đắt đỏ, từ 250.000 đến 350.000 đồng/m3.
Anh Bùi Minh - chủ một homestay tại đảo Bé cho biết, mỗi người dân nơi đây được cấp định mức 2 m3/tháng nước từ nhà máy. Số nước này không đủ cho nhu cầu sinh hoạt. Do vậy, việc phải mua thêm nước ngọt vận chuyển từ đảo Lớn sang là điều bắt buộc, đặc biệt là đối với các cơ sở kinh doanh du lịch.
“Chúng tôi luôn giải thích để du khách hiểu tình trạng khan hiếm nước ngọt trên đảo để mọi người cùng chia sẻ và sử dụng tiết kiệm, nhưng cũng có khách không hài lòng vì không quen”, anh Minh chia sẻ.
Ngược lại, tại đảo Lớn – trung tâm của đặc khu Lý Sơn – chính quyền và người dân lại đối mặt với một nghịch lý khác. Nguồn nước dưới lòng đất từ lâu đã trở thành “mạch sống” phục vụ sinh hoạt cho hơn 22.000 cư dân và nuôi dưỡng 325 ha đất nông nghiệp. Toàn đảo hiện có tới 2.149 giếng khai thác nước dưới đất, gồm 939 giếng đào, 1.210 giếng khoan.
Một giếng đào phục vụ tưới tiêu nông nghiệp tại Lý Sơn.
Kết quả điều tra tài nguyên nước cho thấy, tổng lượng nước khai thác lên tới hơn 21.700 m3/ngày đêm, trong khi trữ lượng có thể khai thác bền vững chỉ vào khoảng 3.200 m3/ngày đêm. Việc khai thác vượt quá khả năng phục hồi của tầng chứa nước đã khiến nhiều khu vực xuất hiện tình trạng suy giảm mực nước ngầm và nhiễm mặn ngày càng nghiêm trọng.
Áp lực từ biến đổi khí hậu và du lịch
Tình trạng khan hiếm nước ngọt và nhiễm mặn hiện đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân cùng toàn bộ diện tích sản xuất nông nghiệp trên đảo. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, các đợt nắng nóng kéo dài xuất hiện với tần suất cao hơn, điều này cũng gây áp lực nặng nề lên nguồn nước ngầm vốn đã ít ỏi nơi đây.
Nhiều nông dân phải liên tục luân phiên chia nhỏ diện tích tưới, dùng cát trắng phủ mặt ruộng để giữ ẩm hoặc buộc phải chuyển đổi cây trồng để thích ứng. Bà Lê Thị Thẩm, thôn Đông An Vĩnh cho hay, vào mùa khô hạn, các giếng đào quanh đây đều trơ đáy hoặc bị nhiễm mặn. Để cứu hoa màu, người dân phải chia nhau tưới cầm chừng vào sáng sớm hoặc chiều muộn, chi phí sản xuất vì thế cũng tăng lên rất nhiều.
Nỗi lo về nguồn nước không chỉ dừng lại ở sản xuất và sinh hoạt bởi theo Đề án phát triển đặc khu Lý Sơn thành trung tâm du lịch biển đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, du lịch được xác định là động lực tăng trưởng chính của địa phương.
Tỉnh Quảng Ngãi đặt mục tiêu cụ thể, đến năm 2030 đưa Lý Sơn trở thành trung tâm du lịch biển đảo vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, được công nhận là Khu du lịch quốc gia; chỉ tiêu đón 400.000 lượt khách, tổng thu đạt 900 tỷ đồng, đóng góp 60% GRDP.
Tầm nhìn đến năm 2045, Lý Sơn vươn tầm thành trung tâm du lịch biển đảo của cả nước, một điểm đến quan trọng trên tuyến du lịch đường biển quốc tế với chỉ tiêu đón 2,5 triệu lượt khách, tổng thu đạt 4.500 tỷ đồng, đóng góp 70% GRDP.
Tàu chở nước ngọt từ đảo Lớn qua đảo Bé.
Để hiện thực hóa quy hoạch này, hàng loạt dự án hạ tầng, khu nghỉ dưỡng cao cấp, công viên ven biển và các dịch vụ vui chơi giải trí sẽ được hình thành. Sự tăng tốc mạnh mẽ của ngành du lịch đồng nghĩa với việc nhu cầu sử dụng nước ngọt sẽ tiếp tục tăng cao, đặt ra bài toán hóc búa về việc cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên nước.
Khơi thông nguồn lực, bảo vệ tài nguyên nước
Tỉnh Quảng Ngãi và đặc khu Lý Sơn đang chủ động triển khai chiến lược đa giải pháp nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước lâu dài. Đối với nguồn nước ngầm, từ năm 2016, tỉnh đã ban hành quy định cấm đào, khoan giếng mới trên đảo. Việc quản lý tiếp tục được siết chặt hơn nữa kể từ ngày 1/7/2025 nhằm chấm dứt tình trạng khai thác trái phép, tràn lan.
Bên cạnh đó, địa phương đang tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng trữ nước quy mô lớn. Cụ thể như công trình sửa chữa, nâng cấp hồ chứa nước Thới Lới (dung tích hơn 271.000 m3) nhằm khắc phục tình trạng bồi lắng, khôi phục năng lực cấp nước; dự án Hệ thống trữ nước sinh hoạt kết hợp tưới tiết kiệm (tổng mức đầu tư khoảng 75 tỷ đồng) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 sẽ giúp tăng đáng kể khả năng tích trữ nguồn nước tự nhiên.
Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ngãi cũng đang nghiên cứu phương án xây dựng hệ thống thu gom, trữ và cấp nước trên toàn đảo với tổng vốn dự kiến khoảng 250 tỷ đồng. Theo đó, hệ thống có công suất khoảng 1.150 m3/ngày đêm này được kỳ vọng sẽ giữ lại khoảng 1 triệu m3 nước ngọt mỗi năm, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho khoảng 11.000 người và tạo nguồn tưới tiết kiệm cho 32 ha đất sản xuất.
Về lâu dài, ông Nguyễn Văn Huy - Chủ tịch UBND đặc khu Lý Sơn khẳng định, khi quy mô dân số và lượng khách du lịch tăng lên theo đúng quy hoạch đã phê duyệt, Lý Sơn sẽ đầu tư nhà máy khử mặn nước biển để tạo nguồn nước ngọt ổn định. Đây được xác định là công nghệ then chốt, mang lại giải pháp an ninh nguồn nước căn cơ và bền vững nhất cho hòn đảo tiền tiêu./.