Sử dụng vật liệu không nung trở thành xu hướng mới (Bài 1)

Sử dụng vật liệu không nung trở thành xu hướng mới (Bài 1)
Bài 1: Gian nan tìm chỗ đứng

Sản xuất vật liệu xây dựng không nung tại Nhà máy của Công ty CP Đại Hồng Sơn, phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa. Ảnh: Hoàng Thị Nhị
Sản xuất vật liệu xây dựng không nung tại Nhà máy của Công ty CP Đại Hồng Sơn, phường Kim Dinh, thành phố Bà Rịa. Ảnh: Hoàng Thị Nhị

Theo lộ trình được Chính phủ phê duyệt, đến năm 2020, Việt Nam sẽ phát triển sản xuất và sử dụng loại vật liệu xây không nung thay thế gạch đất sét nung đạt tỷ lệ từ 30-40% và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn cơ sở sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công. Chỉ tính riêng vật liệu gạch trong xây dựng, Việt Nam trung bình tiêu thụ mỗi năm hơn 20 tỷ viên cho các công trình. Mức tiêu thụ này dự kiến sẽ lên đến 42 tỷ viên vào năm 2020. Do đó, nếu không chuyển hoàn toàn sang gạch không nung sẽ tiêu tốn một lượng nhiên liệu khổng lồ. Điều này đồng nghĩa với việc môi trường tiếp tục bị ô nhiễm nặng nề.

Thay đổi thói quen thành ý thức

Hiện gạch không nung chiếm khoảng 26,5% so với tổng sản lượng vật liệu xây. Mặc dù gạch không nung được đánh giá có độ chống thấm cao, ít đóng rong rêu và đặc biệt là giá thành giảm tới 20% so với sản phẩm gạch đất nung truyền thống nhưng việc tìm đầu ra cho loại sản phẩm này, cũng như thay đổi thói quen sử dụng của người tiêu dùng không hề đơn giản.

Trên thực tế, không chỉ các công trình xây dựng dân sinh, ngay cả các công trình xây dựng với quy mô lớn hơn, việc sử dụng gạch xây dựng không nung cũng chưa phải là sự lựa chọn của những nhà thầu, cho dù hiệu quả sử dụng tốt, giá thành lại thấp hơn tới 20% so với gạch nung truyền thống.

Ông Phạm Văn Bắc, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) cho biết, trên thực tế, ý thức chấp hành đưa tỷ lệ vật liệu xây không nung vào công trình của các chủ đầu tư chưa cao. Hiện chỉ có nhóm công trình sử dụng vốn ngân sách đáp ứng các tiêu chí này.

Theo Sở Xây dựng tỉnh Quảng Bình, tính đến năm 2018, địa phương này có 13 cơ sở sản xuất vật liệu xây không nung với tổng công suất trên 145 triệu sản phẩm/năm. Mặc dù tỉnh đã thực hiện các quy định của Luật Xây dựng, Nghị định 46/2015/NĐ-CP và Nghị định 59/2015/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý dự án đầu tư xây dựng; trong đó có quy định sử dụng vật liệu xây dựng, đặc biệt là vật liệu xây không nung từ khâu thẩm định dự án, thẩm định thiết kế kỹ thuật nhưng tỷ lệ sử dụng thực tế gạch không nung ở các công trình xây dựng trên địa bàn vẫn còn nhiều hạn chế.

Nguyên nhân chính khiến gạch không nung tiêu thụ chậm là do người dân vẫn chưa quen với việc sử dụng loại vật liệu này để xây dựng các công trình dân dụng. Đối với các công trình sử dụng nguồn vốn Nhà nước, rất ít chủ đầu tư thực hiện nghiêm túc chủ trương của tỉnh. Khi áp dụng gạch không nung cho các công trình dân sinh và công trình Nhà nước thì việc thi công đơn giản, tốn ít vữa xây hơn gạch sét nung nhưng vẫn gặp hiện tượng nứt tường không theo quy luật. Các vết nứt ngang, phương thẳng đứng, xiên tường... gây thấm, giữ ẩm lâu làm hư hỏng lớp sơn tường. Tuy không gây hư hỏng công trình, nhưng làm ảnh hưởng đến chất lượng, thẩm mỹ…

Phó Giám đốc Sở Xây dựng Điện Biên Bùi Văn Luyện chia sẻ, Sở đã tham mưu để UBND tỉnh ban hành kế hoạch triển khai Chương trình phát triển vật liệu xây không nung đến năm 2020 và lộ trình xóa lò gạch thủ công, lò thủ công cải tiến, lò vòng sử dụng nhiên liệu hóa thạch trên địa bàn. Sở cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn việc sử dụng vật liệu xây không nung vào trong công trình sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn theo đúng lộ trình.

Hiện Điện Biên đã có 5 cơ sở sản xuất gạch không nung sử dụng công nghệ tiên tiến, được UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư, tổng công suất 67 triệu viên/năm. Ngoài ra, còn có 3 cơ sở khác đã có sản phẩm lưu thông trên thị trường nhưng chưa hoàn thiện thủ tục đầu tư với cơ quan nhà nước. Tất cả các công trình sử dụng vốn nhà nước trên địa bàn cấp huyện trở lên, có cơ sở sản xuất gạch không nung đều sử dụng gạch không nung theo quy định. Hơn thế, nhiều công trình xây dựng của hộ gia đình, cá nhân cũng đã sử dụng gạch không nung.

Tuy nhiên, theo ông Luyện, thị trường tiêu thụ gạch không nung trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn do nhận thức và thói quen của người dân về việc sử dụng gạch đất sét nung vào công trình là tất yếu. Còn gạch không nung chỉ sử dụng để xây dựng các hạng mục, công trình phụ trợ, tường rào, chuồng trại… Đáng ngại nhất là một số công trình sử dụng vốn nhà nước có sử dụng gạch không nung nhưng còn trà trộn gạch không nung không đủ tiêu chuẩn, làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình.

Rào cản từ “nhược điểm”

Thực tế sử dụng dòng sản phẩm vật liệu xây không nung thời gian dài vừa qua, một số chủ đầu tư cho rằng, chất lượng vật liệu xây không nung chưa đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu của nhiều loại công trình và cần có sự cải tiến về mẫu mã, kích cỡ…, thậm chí là cả nhược điểm chống thấm để dễ thi công, sử dụng.

Cũng theo ông Bùi Văn Luyện, quá trình sử dụng gạch không nung vào công trình còn có một số hạn chế như sản phẩm chưa đa dạng về mẫu mã, kích thước mà chủ yếu vẫn sản xuất theo kích thước của gạch nung truyền thống, chất lượng sản phẩm không đồng đều. Thợ xây chưa được đào tạo, tập huấn thao tác xây, trát, lắp đặt thiết bị âm tường đối với tường sử dụng gạch không nung. Việc cắt, khoan tường, khối xây để thi công các đường ống điện, nước, hệ thống thông tin… còn gặp khó khăn.

Đáng nói nhất là qua phản ánh của một số chủ đầu tư, đơn vị thi công và khảo sát thực tế, hiện tượng nứt tường sau khi trát của tường sử dụng gạch không nung nhiều hơn gạch truyền thống. Vết nứt chủ yếu xuất hiện trong giai đoạn hoàn thiện công trình, theo mạch xây. Tường bao quanh một số công trình có hiện tượng ẩm mốc, thấm nước mưa, gây mất thẩm mỹ và ảnh hưởng đến quá trình sử dụng công trình - Phó giám đốc Sở Xây dựng Điện Biên Bùi Văn Luyện dẫn chứng. Ngoài ra, gạch không nung xi măng cốt liệu (gạch bê tông) còn nặng, làm tăng tổng mức đầu tư của công trình, do phải tăng khả năng chịu lực của kết cấu đỡ tường.

Lý giải về những hạn chế này, ông Phạm Văn Bắc cũng chỉ rõ, nhiều nhà đầu tư còn thiếu kinh nghiệm, nguồn vốn hạn chế nên phần lớn chỉ nhập các dây chuyền công nghệ với trình độ trung bình, thiếu đồng bộ. Cùng đó, việc chuyển giao công nghệ, kỹ thuật sản xuất và tiếp thu công nghệ chưa tốt nên vẫn còn hạn chế về chất lượng sản phẩm.

Trong khi đó, tại nhiều cơ sở sản xuất, đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật chưa được đào tạo chu đáo. Có những nhà máy phải vừa sản xuất vừa điều chỉnh, khắc phục các mặt yếu để ổn định sản xuất. Thậm chí, một số nhà máy do hiểu biết về các tính năng kỹ thuật của sản phẩm chưa đầy đủ nên công tác bảo quản sản phẩm khi lưu kho và vận chuyển chưa đúng đã ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm khi đưa vào công trình.

Đáng chú ý, các nhà máy sản xuất bê tông nhẹ ra đời vào thời điểm kinh tế gặp khó khăn, lạm phát cao, đầu tư công bị cắt giảm, thị trường bất động sản trầm lắng, chi phí tài chính lớn, do đó sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho nhiều dẫn đến sản xuất bị ngừng trệ - ông Bắc dẫn chứng.

Nguyên liệu phục vụ cho sản xuất gạch bê tông khí chưng áp hiện mới chỉ có hai cơ sở sản xuất vôi công nghiệp ở thành phố Hải Phòng và tỉnh Thanh Hóa, còn chủ yếu sản xuất theo công nghệ thủ công. Do đó, chất lượng vôi chưa đáp ứng yêu cầu cho sản xuất bê tông khí. Các cơ sở ở khu vực phía Nam còn gặp khó khăn trong việc cung ứng vôi cho sản xuất do nguồn vôi cung ứng xa, phải vận chuyển từ miền Bắc vào.

Cùng đó, nhiều doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây không nung chưa được hưởng các ưu đãi theo quy định tại Quyết định 567 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ. Bởi vậy, nhiều doanh nghiệp khi mở rộng đầu tư sản xuất vật liệu xây không nung lại không được hưởng các chính sách ưu đãi. Điều này cũng khiến dòng sản phẩm này phát triển hạn chế.

Tỉnh Điện Biên dẫn chứng, dù đã quyết liệt trong việc xóa bỏ gạch đất sét nung (lộ trình sau ngày 31/12/2016 đối với lò đứng, sau 31/12/2017 đối với lò vòng), tuy nhiên đến nay các cơ sở này vẫn đang hoạt động sản xuất, do tỉnh chưa có cơ chế, kinh phí để hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi ngành nghề. Thực tế này ít nhiều hạn chế việc phát triển gạch không nung trên địa bàn.

Từ thực tế tại địa phương, ông Bùi Văn Luyện đề xuất, Chính phủ, các Bộ, ngành chức năng nghiên cứu hoàn thiện cơ sở pháp lý về phát triển vật liệu xây không nung; Xây dựng bộ tiêu chuẩn, quy trình đầy đủ và khoa học cho việc sử dụng gạch không nung trong các công trình xây dựng từ khâu sản xuất, thiết kế, thẩm định cho đến thi công, bảo dưỡng, nghiệm thu, bảo trì.

Các chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây không nung cần đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất nhằm tăng chất lượng gạch, thiết kế quy cách gạch cho phù hợp, đa dạng về mẫu mã và kích thước, tăng cường độ rỗng của sản phẩm để giảm tải trọng công trình. Tất cả các cơ sở sản xuất phải xây dựng quy trình sản xuất bảo đảm chất lượng từ khâu lựa chọn, kiểm định chất lượng nguyên vật liệu đầu vào, bảo dưỡng, bảo quản sản phẩm.

Theo Kiến trúc sư Hoàng Sa, các nhà khoa học cũng nên nghiên cứu chế tạo vữa riêng biệt cho gạch không nung theo hướng tăng độ dẻo, giảm độ mất nước, tăng độ kết dính và hạn chế co ngót; thường xuyên đào tạo, tập huấn cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng về quản lý chất lượng công trình sử dụng gạch không nung, nhất là ở giai đoạn thiết kế và thi công; ứng dụng khoa học kỹ thuật, có phương tiện, dụng cụ thi công chuyên dụng phục vụ thi công gạch không nung.

Hiện tổng công suất thiết kế các dây chuyền sản xuất vật liệu xây không nung trong toàn quốc đạt 6,3 tỷ viên/tổng số 24,3 tỷ viên vật liệu xây, chiếm khoảng 26,5%. Sản lượng sản xuất vật liệu xây không nung đạt gần 5,5 tỷ viên/tổng số 23 tỷ viên vật liệu xây, đạt 24%.(Còn tiếp).
Thu Hằng

Có thể bạn quan tâm

Đảm bảo Tết Chôl Chnăm Thmây trang nghiêm, an toàn

Đảm bảo Tết Chôl Chnăm Thmây trang nghiêm, an toàn

Nhằm chuẩn bị cho dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây diễn ra trong ba ngày 14, 15 và 16/4, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố Cần Thơ vừa ban hành văn bản hướng dẫn các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trên địa bàn tổ chức đón mừng Tết Chôl Chnăm Thmây đảm bảo trang nghiêm, tiết kiệm và đậm đà bản sắc văn hóa.

Chuỗi hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh

Chuỗi hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh

UBND tỉnh Quảng Trị vừa ban hành Kế hoạch số 1733/KH-UBND về tổ chức chuỗi hoạt động "Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh", hướng tới kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển cà phê Khe Sanh (1926 - 2026).

Tạo lập nguồn dữ liệu đất đai sạch

Tạo lập nguồn dữ liệu đất đai sạch

Với mục tiêu tạo lập nguồn dữ liệu sạch, phục vụ phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số; đồng thời, hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn toàn tỉnh, ngày 3/4, Thái Nguyên đã phát động Chiến dịch 100 ngày số hóa, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu và 180 ngày hoàn thiện việc đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, hoàn thành cơ sở dữ liệu đất.

Chủ động phòng, chống dịch bệnh thủy đậu tại trường học

Chủ động phòng, chống dịch bệnh thủy đậu tại trường học

Chiều 3/4, Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk cho biết, các đơn vị nghiệp vụ của Sở đang khẩn trương xử lý ổ dịch thủy đậu tại một điểm trường của Trường Tiểu học Lê Văn Tám (xã Ea Riêng). Đây là ổ dịch trong trường học nên có nguy cơ lây lan nhanh nếu không được xử lý kịp thời.

Giải bài toán thiếu điện mùa nắng nóng

Giải bài toán thiếu điện mùa nắng nóng

Trong bối cảnh dự báo diễn biến thời tiết năm 2026 có nhiều cực đoan, bất lợi; tình hình cung ứng điện còn nhiều thách thức, Công ty Điện lực Lào Cai đang triển khai nhiều giải pháp, sẵn sàng các điều kiện để ứng phó khi xảy ra sự cố thiên tai và trong chế độ cực kỳ khẩn cấp trên địa bàn tỉnh đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng điện của khách hàng.

Điện Biên ra quân trồng mới 12.000 ha cây trồng chủ lực

Điện Biên ra quân trồng mới 12.000 ha cây trồng chủ lực

Ngày 3/4, từ điểm phát động tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đồng loạt ra quân trồng mới cà phê, mắc ca trên phạm vi toàn tỉnh, cụ thể hóa định hướng phát triển cây trồng chủ lực, nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Đây là hoạt động nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 11 của Tỉnh ủy về cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2026–2030, hướng tới phát triển các cây trồng chủ lực, nâng cao giá trị sản xuất.

Lan tỏa tiếng dân tộc Tày nơi tuyến đầu biên giới Xứ Lạng

Lan tỏa tiếng dân tộc Tày nơi tuyến đầu biên giới Xứ Lạng

Ngày 2/4, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội thi tiếng dân tộc Tày năm 2026. Đây là hoạt động thiết thực nhằm đánh giá kết quả học tập, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số nói chung và tiếng dân tộc Tày nói riêng tại các cơ quan, đơn vị Bộ đội Biên phòng trên địa bàn.

Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Dồn lực hoàn thành 60 căn nhà cho đồng bào M’Nông ở vùng biên Quảng Trực

Chủ đầu tư dự án Điểm dân cư liền kề chốt dân quân biên giới tại xã Quảng Trực, tỉnh Lâm Đồng đang tập trung nhân lực, vật lực đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành 60 căn nhà và bàn giao cho người dân trước dịp kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026).

Giữ màu xanh cho những cánh rừng Thái Nguyên

Giữ màu xanh cho những cánh rừng Thái Nguyên

Những cánh rừng xanh đang hồi sinh mạnh mẽ nhờ sự chung tay của lực lượng kiểm lâm và người dân Thái Nguyên. Không chỉ bảo vệ tài nguyên, rừng còn mở ra sinh kế bền vững, giúp đồng bào từng bước đổi thay cuộc sống.

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận Sơn La rất phấn khởi

Xã Phiêng Khoài (Sơn La), hiện có hơn 2.600 ha trồng cây mận, trong đó, diện tích mận trái vụ chiếm trên 20%. Việc áp dụng kỹ thật canh tác trái vụ, rải vụ, chín sớm, đã và đang mở ra hướng đi hiệu quả, giúp nông dân nâng cao giá trị sản phẩm, giảm áp lực tiêu thụ tập trung cùng một thời điểm, dẫn đến giá thành giảm, cạnh tranh cao. Niên vụ 2026, mận chín sớm được mùa, được giá, người trồng mận rất phấn khởi. 

Tiếp thêm động lực cho học sinh vùng biên Tuyên Quang

Tiếp thêm động lực cho học sinh vùng biên Tuyên Quang

Sau hơn 3 tháng triển khai Nghị định 339/2025/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền, nhiều trường học vùng cao của tỉnh Tuyên Quang đã ghi nhận những chuyển biến tích cực. Chính sách không chỉ góp phần cải thiện điều kiện học tập cho học sinh mà còn tạo động lực nâng cao chất lượng giáo dục ở những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Thanh Hóa còn 760 hộ dân miền núi chưa có điện lưới quốc gia

Thanh Hóa còn 760 hộ dân miền núi chưa có điện lưới quốc gia

Theo thống kê của Sở Công Thương và Công ty Điện lực Thanh Hóa, trên địa bàn tỉnh vẫn còn 761 hộ dân sống tại 23 bản, thuộc 9 xã miền núi chưa được sử dụng điện lưới quốc gia, chủ yếu thuộc các xã biên giới như Yên Nhân, Trung Lý, Tam Chung, Tam Lư và xã Mường Lý...

Nhiều hộ dân miền núi Thanh Hóa chưa được sử dụng điện lưới quốc gia

Nhiều hộ dân miền núi Thanh Hóa chưa được sử dụng điện lưới quốc gia

Tại khu vực các xã miền núi của tỉnh Thanh Hóa vẫn còn 761 hộ dân sống tại các cụm dân cư, thuộc 23 thôn, bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia. Những hộ gia đình này chủ yếu sống tại vùng đặc biệt khó khăn có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt nên việc kéo điện đang còn gặp khó khăn. Họ mong một ngày nào đó có điện lưới để thắp sáng, sử dụng những tiện nghi của đời sống giữa đại ngàn vùng cao.

Nhanh chóng hỗ trợ nhân dân Pắc Ngà (Sơn La) khắc phục hậu quả dông lốc

Nhanh chóng hỗ trợ nhân dân Pắc Ngà (Sơn La) khắc phục hậu quả dông lốc

Trận dông lốc với cường độ mạnh xảy ra ngày 29/3 đã gây thiệt hại về nhà ở của người dân xã Pắc Ngà, tỉnh Sơn La. Thống kê ban đầu, dông lốc xuất hiện trong thời gian ngắn nhưng cường độ mạnh đã làm sập đổ, nghiêng và tốc mái 12 căn nhà của các hộ dân tại 3 bản: Lừm Thượng A, Lừm Thượng B và Suối Tải.

Lan tỏa yêu thương từ 'Tủ đồ sơ sinh 0 đồng'

Lan tỏa yêu thương từ 'Tủ đồ sơ sinh 0 đồng'

Chương trình “Tủ đồ sơ sinh 0 đồng - Chia sẻ yêu thương” được Trung tâm Y tế Tu Mơ Rông (tỉnh Quảng Ngãi) triển khai và duy trì 5 tháng nay đã thực sự phát huy hiệu quả, giúp nhiều sản phụ thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo an tâm hơn khi đến sinh con tại đây.

Nghệ An: Dông lốc kèm mưa đá tại xã miền núi Quỳ Châu

Nghệ An: Dông lốc kèm mưa đá tại xã miền núi Quỳ Châu

Chiều 29/3, trên địa bàn miền núi xã Quỳ Châu (tỉnh Nghệ An) bất ngờ xảy ra một trận dông kèm theo mưa đá. Mưa đá diễn ra trong thời gian gần 10 phút, khiến người dân khá bất ngờ bởi hiện tượng thời tiết cực đoan này xảy ra quá nhanh, bầu trời nhanh chóng chuyển tối, gió mạnh nổi lên liên tục và trước đó thời tiết ở các khu vực đã trải qua nhiều giờ nắng gắt.

Dông lốc gây nhiều thiệt hại ở Lào Cai

Dông lốc gây nhiều thiệt hại ở Lào Cai

Vào khoảng 16 giờ 40 phút chiều 29/3, tại các phường Nghĩa Lộ, Trung Tâm, Cầu Thia và xã Liên Sơn của tỉnh Lào Cai (khu vực thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái cũ), cơn dông lốc mạnh xảy ra làm một công nhân vệ sinh môi trường bị thương, nhiều cây xanh bị gãy, đổ và hàng trăm ngôi nhà dân bị tốc mái.

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Nhộn nhịp phiên chợ đậm đà hồn quê

Đến hẹn lại lên, cứ vào chủ nhật hàng tuần, khi sương núi còn bảng lảng trên những triền đá, chợ phiên Phương Độ (Hà Giang 1, Tuyên Quang) đã bừng thức trong nhịp bước rộn ràng của đồng bào người Tày, Dao… ở các bản làng xa gần về họp chợ. 

Cách giữ xanh rừng Sêrêpôk khi lực lượng mỏng

Cách giữ xanh rừng Sêrêpôk khi lực lượng mỏng

Nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Lâm Đồng, rừng Sêrêpôk bao bọc lưu vực của con sông cùng tên Sêrêpôk bí ẩn, bởi hướng chảy ngược về thượng nguồn trước khi vượt qua biên giới Campuchia để đổ ra biển.

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài cuối: Xóa trường tạm, dựng tương lai ​

Hiện thực hóa Kết luận 81-TB/TW - Bài cuối: Xóa trường tạm, dựng tương lai ​

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, chỉ đạo của Tổng Bí thư, Nghị quyết số 298/NQ-CP về kế hoạch hành động của Chính phủ, tỉnh Thanh Hóa đã khẩn trương triển khai khảo sát, lập danh mục đề xuất, trình Chính phủ và được phê duyệt đầu tư xây dựng 16 trường nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở cho 16 xã biên giới. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của người dân, đến nay nhiều công trình khởi công năm 2025 đã đạt tiến độ gần 30%, cố gắng bàn giao trước năm học tới.