Nhằm chuẩn bị cho dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây diễn ra trong ba ngày 14, 15 và 16/4, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố Cần Thơ vừa ban hành văn bản hướng dẫn các chùa Phật giáo Nam tông Khmer trên địa bàn tổ chức đón mừng Tết Chôl Chnăm Thmây đảm bảo trang nghiêm, tiết kiệm và đậm đà bản sắc văn hóa.
Đáng chú ý, để bảo vệ thuần phong mỹ tục và sự tôn nghiêm nơi thờ tự, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố nhấn mạnh việc tuyên truyền đồng bào Phật tử không tham gia các hoạt động mê tín dị đoan; đặc biệt, không tổ chức và không tham gia các trò chơi mang tính bộc phát, phản cảm như: trét bột, chọi bột, tạt nước. Hội đánh giá đây là những hoạt động phi văn hóa, gây mất mỹ quan, ảnh hưởng đến người xung quanh và tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh trật tự, làm mai một văn hóa truyền thống tốt đẹp của đồng bào Khmer. Các vị Trụ trì và Ban Quản trị được giao trách nhiệm nhắc nhở, tuyệt đối không ủng hộ các hoạt động sai lệch này, hướng dẫn Phật tử thực hành nghiêm túc các quy định.
Để ngày hội diễn ra trong không khí hòa hợp, vui tươi, Hòa thượng Tăng Nô, Hội trưởng Hội đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố đề nghị các vị Trụ trì, Ban Quản trị, Achar và người có uy tín tại các chùa chủ động lên kế hoạch tổ chức các nghi lễ tôn giáo đúng theo chánh pháp, nghi thức truyền thống và quy định của pháp luật.
Về các hoạt động vui chơi, Hội khuyến khích các cơ sở thờ tự tạo không gian sinh hoạt cộng đồng lành mạnh thông qua việc tổ chức ca múa nhạc truyền thống (múa Rom Vong, hát dân ca) và các trò chơi dân gian như bóng đá, bóng chuyền, cờ ốc, kéo co. Các hoạt động này cần gắn liền với tinh thần vui tươi, đầm ấm và tiết kiệm.
Bên cạnh đó, công tác đảm bảo an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy và giữ gìn cảnh quan môi trường "sáng, xanh, sạch, đẹp" trước, trong và sau dịp lễ cũng được Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố Cần Thơ yêu cầu các chùa phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để thực hiện tốt.
Thực tế trong những năm gần đây, các trò chơi như tạt nước, trét bột đã tạo nhiều luồng ý kiến trái chiều. Một số người cho rằng đây là hoạt động mang ý nghĩa vui vẻ, chúc phúc ngày Tết, trong khi số khác lại nhận định đây là những trào lưu du nhập, không hoàn toàn phù hợp với văn hóa gốc. Dù bản chất của việc té nước nhẹ nhàng hay trét bột không hề xấu, nhưng trên thực tế, các hoạt động này đa phần đều làm phát sinh nhiều biến thể khó kiểm soát. Điển hình là tình trạng sử dụng súng nước, chọi bột thẳng vào mặt, vào mắt, hay thậm chí nhắm vào những người không tham gia lễ hội và người đang lưu thông trên đường.
Những hành động quá đà, biến tướng này đã làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp ban đầu, dễ dẫn đến tai nạn, xung đột và tạo ra những hình ảnh không đẹp trong mùa lễ hội. Khuyến nghị của Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước thành phố Cần Thơ xuất phát từ mục tiêu cao nhất: giúp đồng bào đón một mùa Tết cổ truyền trọn vẹn niềm vui, an toàn và văn minh hơn./.
Tên tự gọi: Người Khmer.
Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu Thổ, Việt gốc Miên, Khơ Me K’rôm.
Dân số: 1.260.640 người, (Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009).
Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Lịch sử: Trước thế kỉ XII người Khmer và văn hoá của họ giữ vai trò chủ thể ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Hoạt động sản xuất: Người Khmer là cư dân nông nghiệp dùng cày và trồng lúa nước. Trong bộ công cụ nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả của họ, có những dụng cụ độc đáo thích ứng với điều kiện địa lí sinh thái Nam bộ như cái phảng thay cho cày chuyên dùng ở vùng đất phèn, mặn để phát cỏ, cù nèo (Pok) dùng để vơ cỏ. Cây nọc cấy (Sơ chal) dấu vết của chiếc gậy chọc lỗ xa xưa, tạo ra lỗ để cắm cây lúa ở những chân ruộng nước nhưng đất cứng, và cái vòn gặt (Kần điêu) dùng để cắt lúa.
Người Khmer có nghề đánh cá, dệt, chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm. Kĩ thuật gốm đơn giản, công cụ chính là hòn kê (K’leng), bàn dập (Chơ), chưa dùng bàn xoay, không có lò nung cố định, gốm mộc, không màu,với độ nung thấp. Sản phẩm gốm chủ yếu là đồ gia cụ, tiêu biểu nhất là bếp (Cà ràng) và nồi (Cà om) rất được người Việt, người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long ưa dùng.
Ăn: Người Khmer trồng hơn 150 giống lúa tẻ và nếp khác nhau, họ thường ăn cơm tẻ và cơm nếp. Thức ăn hằng ngày có tôm, cá nhỏ, ếch, nhái, rau, củ. Họ chế biến rất nhiều loại mắm: mắm ơn Pứ làm bằng tôm tép, mắm Pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, các sọc, cá trê, tôm tép, mắm pơ inh làm bằng cá sặc, nhưng nổi tiếng nhất là mắm B’hóc làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối. Gia vị ưa thích nhất là vị chua (từ quả me hay mè) và cay (hạt tiêu, tỏi, sả, ca ri...).
Mặc: Nam nữ trước đây đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu với áo sơmi. Những người đứng tuổi, người già thường mặc quần áo bà ba màu đen, nam giới khá giả đôi khi mặc quần áo bà ba màu trắng với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu, hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc áo xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng (Kăl xinh) và con dao cưới (Kầm pách) ngụ ý để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc Xăm pốt (váy)màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. áo dài Khơ Me (Wện) gần gũi với chiếc áo dài của phụ nữ Chăm: áo bịt tà, thân áo rộng và dài dưới gối, cổ áo thấp và xẻ trước ngực vừa đủ để chui đầu vào, tay áo chật, hai bên sườn thường ghép thêm bốn miếng vải (thường hoặc màu) kéo dài từ nách đến gấu áo.
Ở: Họ sống ở đồng bằng sông Cửu Long, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ và tụ cư trên 3 vùng môi sinh lớn: vùng đồng bằng nội địa, vùng phèn mặn ven biển, vùng đồi núi Tây Nam giáp biên giới Cam Pu Chia. Người Khmer trước đây ở nhà sàn, nay sống trong các ngôi nhà đất.
Phương tiện vận chuyển: Thường sử dụng xe bò (cộ), xe lôi bánh gỗ, hoặc bánh hơi, đi lại trên đường hay những chân ruộng khô, vận chuyển nông sản trong mùa thu hoạch.
Sống trong môi trường chằng chịt kênh, rạch, ghe, thuyền của người Khmer có rất nhiều loại: xuồng ba lá, ghe tam bản, thuyền " tắc rán" hoặc thuyền "đuôi tôm" chạy máy. Ðặc biệt nhất là chiếc ghe Ngo (Tuộc mua) dài 30m, làm bằng gỗ sao, có từ 30-40 tay chèo, mũi và hai bên thành thuyền có vẽ hình ó biển, voi, sư tử, sóng nước. Ghe Ngo chỉ sử dụng trong dịp lễ chào mặt trăng OK-ang Bok (tháng 10 âm lịch), còn ngày thường họ gửi trong chùa, được cư dân trong các "Phum", "Sóc" coi như vật thiêng.
Quan hệ xã hội: Gia đình nhỏ một vợ một chồng, ở riêng và là đơn vị kinh tế độc lập, có nơi 3-4 thế hệ sống chung trong một nhà. Xã hội Khmer vẫn còn tồn tại nhiều tàn dư mẫu hệ.
Người Khmer có rất nhiều họ khác nhau. Những họ do triều Nguyễn trước đây đặt ra như: Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch. Những họ tiếp thu từ người Việt và người Hoa như: Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý... Lại có những họ thuần tuý Khmer như U, Khan, Khum. Tình trạng ngoại tình, đa thê, li hôn hoặc loạn luân giữa những người có huyết thống trực hệ, ít xẩy ra hoặc tuyệt đối nghiêm cấm.
Hôn nhân: Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thoả thuận của con cái. Cưới xin trải qua 3 bước: làm mối, dạm hỏi và lễ cưới, được tổ chức ở bên nhà gái. Sau đó, người con trai phải ở bên nhà vợ một thời gian. Trải qua ít năm hoặc khi có con, họ ra ở riêng, nhưng vẫn cư trú bên ngoại.
Ma chay: Tục hoả thiêu đã có từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp "Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa.
Lễ tết: Có 2 lễ lớn trong năm.
Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng 4 dương lịch.
Lễ chào mặt trăng (ok ang bok) tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum - sóc.
Thờ cúng: Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (ok ang bok).
Học: Con trai khi lớn đều được cha mẹ gửi vào chùa làm sư từ 3 đến 5 năm. Họ được học kinh Phật, học chữ Khmer ở các trường chùa. Chỉ sau nghĩa vụ tu hành, họ mới được phép hoàn tục và mới có quyền được lập gia đình.
Văn nghệ: Người Khmer có cả một kho tàng phong phú về truyện cổ như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, có một nền sân khấu truyền thống như Dù kê, Dì kê, một nền âm nhạc vừa có nguồn gốc Ấn Ðộ, vừa có nguồn gốc Ðông Nam Á. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Trong các ngôi chùa Khmer của Phật giáo tiểu thừa (Thérévada), ngoài tượng Ðức Phật Thích Ca được tôn thờ duy nhất, chiếm vị trí trung tâm khu chính điện, vẫn tồn tại một hệ thống phong phú linh thần, linh thú - những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáo và tín ngưỡng dân gian.
Theo cema.gov.vn